Tạp chí Y - Dược học quân sự

  1859-0748

 

  Việt Nam

Cơ quản chủ quản:  N/A

Lĩnh vực:

Phân tích ảnh hưởng

Thông tin về tạp chí

 

Các bài báo tiêu biểu

COMPLICATIONS OF MINIMALLY INVASIVE PERCUTANEOUS NEPHROLITHOTOMY IN THE TREATMENT OF KIDNEY STONES AT MILITARY HOSPITAL 103
Tập 48 Số 9 - Trang 176-185 - 2023
Le Huy Ngoc, Tran Van Hinh, Pham Quang Vinh, Lanh My Duyen
Objectives: To evaluate the complications of the minimally invasive percutaneous nephrolithotomy (mini-PCNL) in treating kidney stones at Military Hospital 103. Methods: A prospective, longitudinal study on 286 kidney stone patients operated using the mini-PCNL technique at Military Hospital 103 from July 2017 to July 2019. Results: After mini-PCNL, most patients had no complication (77.62%). Bleeding and fever after mini-PCNL were the two most common complications; there were 35 patients with intraoperative bleeding and no need for blood transfusion (12.24%) and 15 patients with fever after surgery and no chills (5.24%). The stone size affected its clearance rate but did not affect fever and bleeding after mini-PCNL. After mini-PCNL, the mean values of Red Blood Cell (RBC), Hemoglobin (HGB), and Hematocrit (HCT) decreased from 4.75 ± 0.53 T/L, 140.38 ± 15.38 g/L, and 0.42 ± 0.04 L/L to 4.25 ± 0.44 T/L, 125.05 ± 13.36 g/L, and 0.38 ± 0.04 L/L, respectively. Conclusion: After mini-PCNL, the complication rate was 22.38%. Bleeding and fever after mini-PCNL were the two most common complications, with 46 patients (16.08%) and 18 patients (6.29%), respectively. The residual stone fragments were 19.58%. The stone size affected its clearance rate but did not affect fever and bleeding after mini-PCNL
#Mini-PCNL #Complications
MỐI LIÊN QUAN CỦA SỨC CĂNG NHĨ TRÁI, TƯƠNG HỢP NHĨ TRÁI - THẤT TRÁI VỚI RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI VÀ NỒNG ĐỘ NT-PROBNP Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ĐƯỢC CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA
Tập 48 Số 7 - Trang 63-73 - 2023
Lê Thị Ngọc Hân, Lương Công Thức, Trần Đức Hùng
Mục tiêu: Khảo sát sức căng nhĩ trái, tương hợp nhĩ trái - thất trái bằng siêu âm tim ở bệnh nhân (BN) nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp được can thiệp động mạch vành (ĐMV) qua da. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu trên 66 BN NMCT cấp được điều trị can thiệp ĐMV qua da. Các BN được xét nghiệm máu, siêu âm tim đánh giá sức căng nhĩ trái, tương hợp nhĩ trái - thất trái vào 2 thời điểm: Trong vòng 24 giờ đầu sau khi nhập viện và 7 ngày sau can thiệp ĐMV qua da. Kết quả: Sức căng dự trữ nhĩ trái (LASr - Left atrial strain reservoir) tương quan nghịch với E/E’ vách liên thất (r = -0,28, p = 0,027), E/E’ thành bên (r = -0,29, p = 0,022), LAVmax (r = -0,42, p = 0,024), nồng độ NT-proBNP (N-terminal pro-brain natriuretic peptide) (r = -0,44, p = 0,001). Chỉ số tương hợp nhĩ trái - thất trái (LACI - Left atrioventricular coupling index) tương quan thuận với E/E’ thành bên (r = 0,43, p = 0,021), LAVmax (r = 0,77, p < 0,001) và tương quan nghịch với LAEF (r = -0,57, p = 0,001), LASr (r = -0,38, p = 0,037). Kết luận: LASr và LACI tương quan thuận với tình trạng suy chức năng tâm trương thất trái, LASr tương quan nghịch với nồng độ NT-proBNP, LACI tương quan nghịch với LASr ở BN NMCT cấp.
#Nhồi máu cơ tim cấp #Sức căng nhĩ trái #Tương hợp nhĩ trái - thất trái #Rối loạn chức năng tâm trương #NT-proBNP
CẬP NHẬT CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ PHỔI
Tập 48 Số 1 - 2023
Đào Ngọc Bằng
Ung thư phổi (UTP) là một trong các loại ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư trên thế giới. Chẩn đoán sớm có vai trò rất quan trọng trong quyết định phương pháp điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân (BN) UTP. Nhiều phương pháp đã được áp dụng trong chẩn đoán sớm UTP, trong đó chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ngực liều thấp, nội soi phế quản và các phương pháp sinh học phân tử đã chứng minh hiệu quả rõ rệt. Mỗi phương pháp chẩn đoán có vai trò riêng. Trong khi nội soi phế quản sinh thiết được ứng dụng chẩn đoán những tổn thương niêm mạc tại phế quản trung tâm, chụp CLVT ngực liều thấp có thể áp dụng để sàng lọc các khối u ở phế quản ngoại vi, vị trí nội soi phế quản không quan sát được. Ngoài ra, phương pháp sinh thiết lỏng sử dụng các dấu ấn sinh học là một phương pháp tiềm năng. Sự kết hợp các phương pháp chẩn đoán sẽ giúp cho bác sĩ lâm sàng chẩn đoán sớm UTP, chỉ định phương pháp điều trị hợp lý và tiên lượng chính xác cho BN, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị UTP trong thực hành lâm sàng.
#Ung thư phổi không tế bào nhỏ #Chụp cắt lớp vi tính liều thấp #Nội soi phế quản chẩn đoán #Sinh thiết lỏng
KẾT QUẢ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM QUÂN Y TẠI ĐẢO NAM YẾT QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA GIAI ĐOẠN 2004 - 2023
- 2024
Nguyễn Thế Anh, Hồ Hữu Phước, Phạm Mạnh Cường, Nguyễn Văn Ninh, Lê Việt Anh, Trần Viết Tiến
Mục tiêu: Phân tích kết quả công tác bảo đảm Quân y (BĐQY) trên đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa trong 20 năm (2004 - 2023). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu tổng kết công việc của Quân y đảo Nam Yết trong 20 năm (2004 - 2023). Thu thập số liệu từ các báo cáo Quân y do tổ Quân y thực hiện nhiệm vụ tại đảo. Kết quả: Quân y đảo Nam Yết có nhiệm vụ bảo đảm sức khoẻ cho cán bộ chiến sĩ trên đảo, giữ niềm tin với ngư dân trên biển; giữ môi trường trên đảo ngày càng xanh sạch, không có dịch bệnh, khám chữa nhiều bệnh nội khoa. Đã phẫu thuật 20 trường hợp (TH) chấn thương nặng, 23 TH viêm ruột thừa và 03 TH thủng dạ dày. Kết luận: Quân y đảo Nam Yết luôn đảm bảo sức khoẻ cho cán bộ chiến sĩ trên đảo, đảm bảo tốt công tác phòng và chữa các bệnh nội khoa và giữ niềm tin với ngư dân trên biển.
#Bảo đảm quân y #Đảo Nam Yết
NGUY CƠ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 THEO THANG ĐIỂM ADA Ở ĐỐI TƯỢNG RỐI LOẠN LIPID MÁU
- 2024
Lê Đình Tuân, Vũ Đức Chiến, Nguyễn Tiến Sơn, Nguyễn Huy Thông, Lương Công Thức, Nguyễn Duy Toàn, Dương Huy Hoàng
Mục tiêu: Khảo sát nguy cơ đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 bằng thang điểm ADA (American Diabetes Association) ở đối tượng rối loạn lipid máu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 250 cán bộ, học viên Học viện “X” khám sức khỏe định kỳ năm 2022 tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả: Điểm nguy cơ ĐTĐ theo thang điểm ADA ở đối tượng nghiên cứu là 2,75 ± 1,32 điểm, điểm nguy cơ ở nam giới cao hơn nữ giới có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); tỷ lệ nguy cơ cao bị ĐTĐ ở nam là 11,5%, nữ là 4,5%, tỷ lệ chung là 9,6%. Có mối tương quan thuận, mức độ vừa giữa nồng độ cholesterol, triglycerid, LDL-C với điểm nguy cơ theo ADA có ý nghĩa thống kê (hệ số tương quan lần lượt là: r = 0,351, r = 0,325 và r = 0,412, p < 0,001). Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy nguy cơ cao mắc ĐTĐ týp 2 có liên quan có ý nghĩa thống kê với tăng cholesterol máu (OR = 4,40, 95%CI: 1,62 - 11,94). Kết luận: Điểm nguy cơ ĐTĐ theo thang điểm ADA ở đối tượng nghiên cứu là 2,75 ± 1,32 điểm, tỷ lệ nguy cơ cao bị ĐTĐ ở nam là 11,5%. Nguy cơ cao bị ĐTĐ có liên quan đến rối loạn lipid máu.
#Đái tháo đường týp 2 #Thang điểm nguy cơ ADA #Rối loạn chuyển hóa lipid
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ KHÍ QUẢN NGUYÊN PHÁT: NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP
Tập 47 Số 9 - 2023
Nguyễn Ngọc Trung , Vũ Anh Hải, Trần Đắc Tiệp, Đặng Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh , Lê Việt Anh, Trần Thanh Bình
Ung thư khí quản nguyên phát (UTKQNP) là tình trạng bệnh lý rất hiếm gặp, chỉ chiếm 0,03% các loại ung thư trên cơ thể. Bệnh thường khó phát hiện ở giai đoạn sớm, chỉ biểu hiện khi bệnh nhân (BN) thấy khó thở nhiều do khối u kích thước lớn che lấp đường thở. Phẫu thuật là phương pháp tối ưu ở những trường hợp này nhưng cũng là thách thức lớn cho các phẫu thuật viên lồng ngực trong việc cắt bỏ khối u và tạo hình lại khí quản đảm bảo toàn vẹn đường thở. Trong bài báo này, chúng tôi mô tả một trường hợp BN nữ 36 tuổi, được chẩn đoán u khí quản nguyên phát được phẫu thuật cắt u kết hợp tạo hình khí quản tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Quân y 103. Quá trình phẫu thuật và hậu phẫu an toàn, BN được xuất viện sau mổ 10 ngày.
#u khí quản nguyên phát #tạo hình khí quản
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ KHÔNG PHẪU THUẬT Ở BỆNH NHÂN BONG GÂN KHỚP CỔ CHÂN TẠI BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN CẤP 2 VIỆT NAM - NAM XU ĐĂNG
Tập 47 Số 9 - Trang 131-139 - 2023
Vũ Minh Dương, Nguyễn Bá Ngọc, Lê Việt Anh, Lê Quang Đạo
Đặt vấn đề: Bong gân khớp cổ chân là tình trạng tổn thương phức hợp dây chằng bên của khớp cổ chân. Tổn thương được điều trị bằng cách bất động; điều trị không phẫu thuật và can thiệp phẫu thuật. Bong gân khớp cổ chân chiếm tỷ lệ cao trong số các mặt bệnh chấn thương điều trị tại Bệnh viện Dã chiến cấp 2 Việt Nam. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của điều trị không phẫu thuật trong xử trí bong gân khớp cổ chân. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang không đối chứng trên 42 bệnh nhân (BN) được điều trị tại Bệnh viện Dã chiến cấp 2 Việt Nam tại Bentiu, Nam Xu Đăng với chẩn đoán bong gân khớp cổ chân một bên. Các BN được chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng và chụp X-quang khớp cổ chân. Khám khớp cổ chân được khám lại 5 ngày sau khi bị thương. BN bong gân độ I không được đưa vào nghiên cứu. Tất cả BN bong gân khớp cổ chân độ II và III đều được điều trị không phẫu thuật. Kết quả: Trong số 42 BN, có 30 BN (71,4%) là nam giới và 12 BN (28,6%) là nữ giới; Độ tuổi từ 24 - 45, tuổi trung bình 31 ± 2,4. 34 BN (80,9%) được chẩn đoán là bong gân độ II và 8 BN (19,1%) bong gân độ III. Khi bắt đầu điều trị, các trường hợp đều đau dữ dội (VAS: 8 - 10), cử động khớp cổ chân bị hạn chế và đau. Thử nghiệm ngăn kéo trước dương tính ở 8 BN (19,1%). Vào cuối tuần điều trị thứ 8 có 38/42 BN (90,5%) hết đau, không sưng nề, vận động khớp cổ chân không hạn chế, đạt sự hài lòng tối đa. Ở tuần thứ 12, 100% BN hồi phục hoàn toàn và rất hài lòng với việc điều trị. Kết luận: Đối với bong gân khớp cổ chân độ II và III, điều trị không phẫu thuật tại Bệnh viện Dã chiến cấp 2 Việt Nam giúp BN phục hồi sớm và đạt kết quả tốt.
#bong gân khớp cổ chân #Điều trị không phẫu thuật #bệnh viện dã chiến cấp 2
DẤU ẤN SINH HỌC PHÂN TỬ TRONG MỘT SỐ BỆNH UNG THƯ THƯỜNG GẶP
Tập 49 Số 5 - Trang 7-16 - 2024
Nguyễn Thu Hiền, Trương Đình Tiến, Phạm Văn Thịnh
Dấu ấn sinh học phân tử trong ung thư là các phân tử có thể đo lường và cung cấp thông tin về sự hiện diện, tiến triển hoặc phản ứng với việc điều trị một loại ung thư cụ thể. Những phân tử này có thể được phát hiện trong mô hoặc dịch cơ thể như máu, nước tiểu, phân… Việc xác định các dấu ấn sinh học ung thư đóng một vai trò quan trọng trong nhiều khía cạnh khác nhau của nghiên cứu ung thư và thực hành lâm sàng như phát hiện, chẩn đoán, theo dõi và phát triển các phương pháp điều trị ung thư. Các ứng dụng lâm sàng của dấu ấn sinh học rất rộng rãi. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các phương pháp phát hiện dấu ấn phân tử ung thư ngày càng hiện đại và hiệu quả. Chính vì thế, việc hiểu rõ về dấu ấn sinh học phân tử ung thư là một việc quan trọng để có thể phát triển dấu ấn sinh học mới với độ nhạy, độ đặc hiệu cao hơn và giá trị lâm sàng tích cực hơn.
#Dấu ấn sinh học dự đoán #Dấu ấn sinh học sàng lọc #Dấu ấn sinh học tiên lượng #Dấu ấn sinh học ung thư
BIẾN CHỨNG RÒ MIỆNG NỐI SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THỰC QUẢN TRIỆT CĂN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN
Tập 49 Số 2 - Trang 402-412 - 2024
Ngô Gia Khánh, Nguyễn Trọng Hòe, Nguyễn Văn Tiệp
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm rò miệng nối sau phẫu thuật nội soi cắt thực quản triệt căn và một số yếu tố liên quan đến rò miệng nối. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 113 bệnh nhân (BN) ung thư thực quản, được phẫu thuật nội soi ngực cắt thực quản triệt căn từ tháng 02/2010 - 8/2023 tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả: Tuổi trung bình từ 54,8 ± 8,6 (32 - 75), nam giới (97,3%), rò miệng nối 13 BN (11,5%). Thời gian trung bình xuất hiện rò miệng nối là 7,15 ± 1,5 (5 - 11) ngày. 100% BN sưng nề vùng cổ, 100% BN chảy nước bọt qua vết mổ, 100% BN điều trị nội khoa. Thời gian liền miệng nối 18,8 ± 3,2 (15 - 24) ngày. Thời gian ăn đường miệng sau rò miệng nối 17,9 ± 3,8 (13 - 25) ngày. Các yếu tố như tuổi, giới tính, BMI, hút thuốc lá, uống rượu và chỉ số ASA, thời gian phẫu thuật, mức độ xâm lấn (Tx), không có ý nghĩa tiên lượng rò miệng nối. Nhóm rò miệng nối có thời gian nằm viện dài hơn nhóm không rò miệng nối là 22,46 ± 11,4 ngày so với 13,5 ± 4,6 ngày (p = 0,01). Kết luận: Rò miệng nối sau phẫu thuật nội soi cắt thực quản hay gặp, chẩn đoán dựa vào lâm sàng, điều trị nội khoa là chủ yếu. Không khẳng định được các yếu tố trước mổ, trong mổ và sau mổ liên quan đến rò miệng nối.
#Ung thư thực quản #Biến chứng rò miệng nối #Cắt thực quản
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THỰC QUẢN CÓ ỨNG DỤNG INDOCYANINE GREEN TRONG ĐÁNH GIÁ TƯỚI MÁU ỐNG DẠ DÀY: KINH NGHIỆM 38 TRƯỜNG HỢP
Tập 49 Số 1 - Trang 128-142 - 2024
Nguyễn Văn Tiệp, Lê Thanh Sơn, Nguyễn Anh Tuấn
Mục tiêu: Nghiên cứu ứng dụng indocyanine green (ICG) đánh giá hình ảnh tưới máu ống dạ dày thay thế thực quản và kết quả trong phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt thực quản triệt căn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 38 bệnh nhân (BN) được ứng dụng ICG trong PTNS điều trị ung thư thực quản (UTTQ) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2022 - 9/2023. Kết quả: Tuổi trung bình của BN: 58,1 ± 8,1 (32 - 70); nam giới: 100%; ASA = 2 chiếm 73,7%, ASA = 3 chiếm 26,3%. Chiều dài trung bình ống dạ dày: 31,2 ± 1,7cm, chiều rộng trung bình: 5,2 ± 0,3cm. Thời gian ngấm ICG đến đầu xa ống dạ dày là: 56,2 ± 16,1 giây, tốc độ ngấm ICG toàn bộ ống dạ dày: 1,5 ± 0,7 cm/giây. Có 7 BN thiếu máu đầu xa ống dạ dày khi quan sát bằng mắt và 9 BN thiếu máu đầu xa khi quan sát bằng ICG; 100% BN được cắt bỏ phần thiếu máu. Kết quả sớm: Thời gian ăn đường tiêu hóa: 6,9 ± 1,7 ngày; tỷ lệ tử vong: 2,6%; rò miệng nối: 5,3%; biến chứng hô hấp: 13,1%; thời gian nằm viện sau mổ: 10,9 ± 2,5 ngày. Kết luận: PTNS cắt thực quản có ứng dụng ICG đánh giá tưới máu ống dạ dày là khả thi và an toàn, tỷ lệ biến chứng rò miệng nối thấp.
#Ung thư thực quản #Cắt thực quản #Indocyanine green