TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 108

  1859-2872

 

  Việt Nam

Cơ quản chủ quản:  N/A

Lĩnh vực:

Các bài báo tiêu biểu

Real-world analysis of the effect of gefitinib as a first-line therapy in patients with advanced non-small cell lung cancer with EGFR mutations
- 2020
Pham Van Luan, Nguyen Dinh Tien, Nguyen Minh Hai, Nguyen Dao Tien, Thi Thi Duyen
Objective: To evaluate the effect of gefitinib as a first-line therapy in patients with advanced non-small cell lung cancer (NSCLC) who were positive for epidermal growth factor receptor (EGFR) mutations. Subject and method: This prospective analysis included 120 patients with advanced NSCLC with EGFR mutations who were administered gefitinib as the first-line therapy. Patient follow-up and evaluation were performed every three months or when there were symptoms of progressive disease. The main criteria for the analysis of response were progression-free survival (PFS) and overall response rate (ORR). The secondary criteria were overall survival (OS) and disease control rate (DCR). Additionally, the relationship of OS with sex, smoking history, and performance status (PS), as well as gefitinib toxicity were analyzed. Result: The ORR and DCR were 59.2% and 95.8%, respectively. The median PFS was 14.5 months and the median OS was 33 months. The longer OS was statistically significant in women and non-smokers, and the patients had a good PS. Adverse events occurred in 59.2% patients, but most of them were grade 1 and 2 events. Conclusion: This study conducted in Vietnam suggests the effectiveness of gefitinib as a first-line treatment option in patients with advanced NSCLC and positive EGFR mutations regardless of whether the patients have a good PS or not. In particular, targeted therapy with gefitinib improved the OS in women and non-smokers.
#Non-small cell lung cancer #gefitinib #first-line treatment #EGFR mutations
Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ lấy thai tại Khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
- 2021
Nguyễn Thị Hương Ly, Nguyễn Thị Kim Thu
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân mổ lấy thai tại Khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên các sản phụ được mổ lấy thai tại Khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 12 năm 2020. Kết quả: Tổng cộng 3.623 ca mổ đẻ trong 3 năm, tuổi trung bình của sản phụ: 28,5 ± 5,2 năm. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung cả 3 năm là 1,9% (70/3.623). Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trong từng năm lần lượt là 3,7%; 1,5% và 0,9%. Chủ yếu là nhiễm khuẩn vết mổ nông (94,2%). Các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ bao gồm: Thừa cân béo phì (BMI > 25), có bệnh lý mạn tính kết hợp, thời gian vỡ ối > 6 giờ và thời gian mổ lấy thai trên 60 phút. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 có xu hướng giảm trong các năm gần đây, tuy nhiên cũng cần lưu ý đến một số yếu tố nguy cơ liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ.
#Nhiễm khuẩn vết mổ #mổ lấy thai
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân nặng tại Khoa Hồi sức Truyền nhiễm, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
- 2018
Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Đình Phú, Trương Việt Dũng, Nguyễn Thị Thư
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan trên các bệnh nhân nặng trước và sau một tuần điều trị. Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 42 bệnh nhân nặng phải ăn qua sonde tại Khoa Hồi sức Truyền nhiễm, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2017. Kết quả: Tuổi trung bình là 66,7 ± 15,3 tuổi; bệnh lý chính hay gặp nhất là nhiễm khuẩn huyết (35,7%), viêm não - màng não (26,2%), viêm phổi (16,7%); tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) lúc nhập viện theo BMI là 16,7%; theo SGA là 35,7%; theo protein máu là 31,0% và theo albumin là 73,8%; có 47,6% bệnh nhân ăn qua sonde có trào ngược, 14,3% bệnh nhân bị tiêu chảy. Sau 1 tuần điều trị tình trạng dinh dưỡng của các bệnh nhân nặng ngày càng xấu đi, tỷ lệ % bị suy dinh dưỡng theo thang SGA (> 11 điểm) sau 1 tuần điều trị tăng từ 35,7% lên 78,6%, OR = 2,03; p<0,05; hàm lượng protein, albumin máu và số lượng hồng cầu, huyết sắc tố đều giảm rõ rệt: Mức giảm tương đối (RRR) từ 6,9% đến 10,3% (p<0,05). Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng (SDD và giảm một số chỉ số sinh hóa huyết học) phải kể đến hàng đầu là tình trạng trào ngược dạ dày có hoặc không kèm tiêu chảy làm tăng tỷ lệ SDD (OR = 5,2; p<0,05), ảnh hưởng đến số hồng cầu và protein huyết tương (OR = 1,5 và 1,6; p>0,05). Tỷ lệ bệnh nhân giảm hồng cầu dưới 3 × 1012/l: 72,9% ở nhóm có nhiễm trùng so với nhóm không nhiễm trùng là 20% (OR = 10,8, p<0,05), xu hướng tăng nguy cơ SDD (OR = 2,3; p>0,05). Kết luận: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân xấu đi trong quá trình điều trị; yếu tố liên quan gồm: Tình trạng trào ngược hoặc/và tiêu chảy; tình trạng nhiễm khuẩn trong quá trình điều trị.
#Tình trạng dinh dưỡng trên bệnh nhân nặng
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020
- 2021
Cao Thị Bích Ngọc, Nguyễn Cẩm Vân, Nguyễn Trung Hà
Mục tiêu: Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020 và phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo phân loại ABC/VEN. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu để phân tích danh mục thuốc của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ ngày 01/1/2020 đến hết ngày 31/12/2020. Kết quả: Danh mục thuốc bệnh viện gồm 1773 khoản, chia thành 24 nhóm tác dụng, cao nhất là nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch. Thuốc nhập khẩu chiếm ưu thế (77,0%), nhiều nhất từ Đức, thuốc mang tên thương mại chiếm 59,1% về giá trị, thuốc đơn thành phần chiếm đa số với 84,4% về giá trị. Ngân sách bệnh viện tập trung nhiều nhất vào nhóm A (78,5% theo ABC), nhóm E (60,4% theo VEN), nhóm AN chiếm 11,4% về giá trị. Kết luận: Nghiên cứu đã phân tích được cơ cấu danh mục thuốc nói chung và danh mục thuốc theo phân loại ABC, VEN sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân 108 năm 2020 từ đó đã cho thấy vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn, mua sắm, đảm bảo hiệu quả trong kê đơn và đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh.
#Danh mục thuốc #Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 #ABC/VEN
Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh tại Trường Trung học cơ sở Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định năm 2019
- Trang 114-122 - 2020
Trần Văn Tiến, Bùi Thị Thu Hiền, Lê Long Nghĩa, Đinh Xuân Thành
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh tại Trường Trung học cơ sở Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Đối tượng và phương pháp: Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 827 học sinh tại Trường Trung học cơ sở Bồng Sơn từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2019. Thu thập dữ liệu bằng cách phỏng vấn đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc răng miệng của học sinh theo bộ câu hỏi được chọn lọc, sửa đổi từ bộ câu hỏi dùng trong nhiều nghiên cứu trước đây. Nhập số liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1 và xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 20. Kết quả: Tổng cộng có 827 học sinh tham gia nghiên cứu, trong đó có 436 (52,7%) là học sinh nam. Nghiên cứu cho thấy 516 học sinh (62,4%) có kiến thức đạt về chăm sóc răng miệng nhưng chỉ có 328 học sinh (39,7%) có thái độ tích cực và 353 học sinh (43,7%) có thực hành đạt về chăm sóc răng miệng. Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra hơn một nửa số học sinh có kiến thức chăm sóc răng miệng đạt để duy trì sức khoẻ răng miệng, nhưng thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh vẫn còn kém. Xây dựng các chương trình giáo dục nha khoa trong chương trình học tại trường kết hợp với sự quan tâm của cha mẹ, thầy cô sẽ giúp học sinh có nền tảng kiến thức chăm sóc răng miệng vững chắc, thái độ chăm sóc răng miệng tích cực và thực hành chăm sóc răng miệng đúng ngay từ khi còn nhỏ.  
#Chăm sóc răng miệng #kiến thức #thái độ #thực hành
Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh nấm da thân tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh
- 2021
Phạm Văn Tuấn, Đỗ Thị Nguyệt Hằng, Vũ Hoàng Nhung, Bùi Thị Vân
Mục tiêu: Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và lâm sàng bệnh nấm da tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh. Đối tượng và phương pháp: 66 bệnh nhân nấm da thân điều trị tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh từ tháng 09/2018 đến tháng 09/2019, phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang. Kết quả và kết luận: 39,4% bệnh nhân dưới 30 tuổi; tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1; vị trí thương tổn thường gặp nhất là ở mông (45,5%); 59,1% bệnh nhân có diện tích thương tổn trên 100cm2; 100,0% bệnh nhân có đỏ da và ngứa.
#Bệnh nấm da thân #yếu tố liên quan #đặc điểm lâm sàng
Kết quả đo điện thế niêm mạc thực quản ở bệnh nhân có viêm thực quản trào ngược trên nội soi
- Trang 1-6 - 2021
Nguyễn Phạm Tuấn Thành, Đào Việt Hằng
Mục tiêu: Khảo sát và đối chiếu kết quả điện thế niêm mạc thực quản ở bệnh nhân có viêm thực quản trào ngược trên nội soi và người bình thường. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả từ tháng 3/2020 đến tháng 6/2020 trên bệnh nhân viêm thực quản trào ngược trên nội soi với nhóm chứng người khỏe mạnh đến kiểm tra sức khỏe và không có viêm thực quản trào ngược. Kết quả: Nghiên cứu thu thập được 34 bệnh nhân trong nhóm có viêm thực quản trào ngược và 24 đối tượng nhóm chứng. Tuổi trung bình là 37,4 ± 8,6 tuổi, triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là đau thượng vị (29,3%), ợ trớ (15,5%), ợ nóng (8,6%). Tỷ lệ bệnh nhân không có viêm thực quản trào ngược, viêm thực quản trào ngược độ A và độ B lần lượt là 24 (41,4%), 32 (55%), 2 (3,4%). Giá trị trung vị điện thế niêm mạc thực quản ở vị trí trên đường Z 5cm và trên đường Z 15cm lần lượt là 39,7 (20 - 65,9) và 47,4 (27,6 - 73,6). Giá trị điện thế niêm mạc ở nhóm bệnh nhân có viêm thực quản trào ngược cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có tổn thương trào ngược ở cả hai vị trí (p<0,001). Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa ở cả 2 vị trí giữa 2 nhóm có điểm GERD Q ≥ 8 và điểm GERD Q < 8 (p>0,05). Kết luận: Giá trị trung vị điện thế niêm mạc của bệnh nhân có viêm thực quản trào ngược cao hơn so với bệnh nhân không có tổn thương trào ngược.
#Viêm thực quản trào ngược #điện thế niêm mạc thực quản #hệ thống máy TCM
Nghiên cứu sử dụng áp 5-fluorouracil lên nắp củng mạc trong phẫu thuật lỗ dò điều trị glôcôm người trẻ và glôcôm tái phát
- 2018
Trương Tuyết Trinh, Bùi Thị Vân Anh
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt bè củng giác mạc kết hợp áp thuốc 5-fluorouracil (5-FU) trong điều trị glôcôm người trẻ và glôcôm tái phát. Đối tượng và phương pháp: Bệnh nhân có chỉ định cắt bè có tiền sử phẫu thuật cắt bè nhãn áp không điều chỉnh với thuốc bổ sung và/hoặc trên người trẻ từ 15 đến 40 tuổi. Mắt trong nhóm nghiên cứu được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc kết hợp áp thuốc 5-FU 5mg/ml trong 5 phút trên củng mạc sau đó rửa sạch. Kết quả: 81,82% trường hợp sẹo bọng hình thành tốt, tỷ lệ bọng tốt ở nhóm glôcôm tái phát là 69,23%, thấp hơn rất nhiều so với nhóm glôcôm người trẻ (87,10%). Nhãn áp trung bình sau phẫu thuật 6 tháng (19,28 ± 2,25mmHg) và sau 24 tháng (19,17 ± 1,9mmHg) thấp hơn trước phẫu thuật (31,36 ± 4,42mmHg) (p<0,05). Các dấu hiệu khác như thị lực, thị trường và gai thị hầu như không thay đổi. Biến chứng thường gặp nhất là tổn thương biểu mô giác mạc. Kết luận: Phẫu thuật cắt bè kết hợp áp thuốc 5-FU có hiệu quả trong điều trị glôcôm, ít gây biến chứng.
#Cắt bè củng giác mạc #5 fluorouracil #glôcôm tái phát
Đặc điểm lâm sàng viêm phổi không điển hình do vi khuẩn ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014
- 2018
Phạm Thu Hiền
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng các trường hợp viêm phổi không điển hình đơn thuần do vi khuẩn M. pneumoniae, C. pneumoniae và L. pneumophila ở trẻ từ 12 tháng đến 15 tuổi, tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 215 trường hợp trẻ mắc viêm phổi không điển hình tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Kỹ thuật Multiplex PCR và ELISA được sử dụng để phát hiện M. pneumoniae, C. pneumoniae và L. pneumophila trong mẫu bệnh phẩm. Kết quả: Trong 215 là viêm phổi không điển hình do vi khuẩn, có 144 trường hợp viêm phổi không điển hình đơn thuần với một số đặc điểm lâm sàng như sau: Cơ năng: Hầu hết các bệnh nhân có biểu hiện ho (100%), sốt (85,71% - 94,57%), khò khè (50% - 65,12%). Thực thể: Ran ẩm (37,5% - 71,3%), ran phế quản (42,86% - 55,81%), có 28,55 - 50% trẻ khám thực thể tại phổi không phát hiện được gì. Biểu hiện khác: Đặc trưng là chán ăn (57,14% - 79,84%), viêm họng (78,29% - 85,71%). Kết luận: Các dấu hiệu cơ năng, thực thể gặp trong viêm phổi không điển hình đơn thuần khá đa dạng và không đặc hiệu, bao gồm: Sốt, ho, chán ăn, viêm họng, thực thể ran ẩm, ran phế quản, số lượng lớn bệnh nhân khám phổi không phát hiện được gì dễ bỏ sót chẩn đoán.
#Viêm phổi không điển hình #lâm sàng #trẻ em
Xác định giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm CURB-65 ở bệnh nhân viêm phổi do COVID-19 nhập viện
- 2021
Dương Minh Chiến, Hoàng Thị Phong Lan, Nguyễn Minh Thế, Nguyễn Hải Công, Vũ Đức Hiếu
Mục tiêu: Xác định giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm CURB–65 ở bệnh nhân viêm phổi do COVID–19 nhập viện. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc 131 bệnh nhân viêm phổi do COVID–19 nhập viện tại Trung tâm điều trị COVID-19 thuộc Bệnh viện Quân y 175, thời gian từ 17/7/2021 - 1/10/2021. Thang điểm CURB–65 được sử dụng để đánh giá nguy cơ tử vong khi bệnh nhân nhập viện. Kết quả: 131 bệnh nhân viêm phổi do COVID-19 nhập viện đươc nghiên cứu, tuổi trung bình là 55,57 ± 14,6 năm. Nam giới chiếm 45,8% và nữ 54,2%. Tỷ lệ tử vong tăng dần theo điểm CURB–65 (p<0,001). Điểm CURB-65 có khả năng tiên lượng tử vong tốt ở bệnh nhân viêm phổi do COVID-19 nhập viện, với diện tích dưới đường cong ROC là 0,86. Điểm cắt có giá trị tiên lượng tử vong tốt nhất là CURB–65 ≥ 2 điểm, với độ nhạy 82%, độ đặc hiệu 83%, giá trị tiên đoán dương 66%, giá trị tiên đoán âm 92%. Kết luận: Thang điểm CURB–65 là công cụ đơn giản, hiệu quả để tiên lượng nguy cơ tử vong cho bệnh nhân viêm phổi do COVID-19 nhập viện.
#Viêm phổi do COVID-19 #tiên lượng tử vong #thang điểm CURB-65