Vai Trò Của Các Đột Biến TP53 Sớm Trong Sự Tiến Hóa Của Bệnh Bạch Cầu Tủy Liên Quan Đến Liệu Pháp

Blood - Tập 122 - Trang 5 - 2013
Terrence Neal Wong1, Giridharan Ramsingh2, Andrew Young3, Dong Shen4, Chris Miller5, Tamara Lamprecht6, Sharon Heath7, Robert S. Fulton5, Elaine R. Mardis4, Li Ding4, Peter Westervelt8, John Welch9, Matthew J. Walter10, Timothy Graubert11, John F. DiPersio12, Timothy J. Ley10, Todd E Druley13, Richard K Wilson4, Daniel C. Link10
1Division of Oncology, Department of Internal Medicine, Washington University in Saint Louis, Saint Louis, MO, USA
2Hematology, University of Southern California, Los Angeles, CA, USA
3Department of Genetics, Division of Biological and Biomedical Sciences, Washington University in Saint Louis, Saint Louis, USA
4The Genome Institute, Washington University in St. Louis, St. Louis, MO, USA
5The Genome Institute, Washington University, St. Louis, MO, USA
6Department of Internal Medicine, Division of Oncology, Section of Stem Cell Biology, Washington University in St. Louis, St. Louis, MO, USA
7Oncology, Washington University in St. Louis, St. Louis, MO, USA
8Oncology Division, Department of Medicine, Washington University School of Medicine, Saint Louis, MO, USA
9Department of Medicine, Division of Oncology, Washington University School of Medicine, St. Louis, MO, USA
10Division of Oncology, Washington University School of Medicine, Saint Louis, MO, USA
11Dept of Medicine, Div of Oncology, Siteman Cancer Center, Washington University, Saint Louis, MO, USA
12Department of Medicine, Division of Oncology, Washington University School of Medicine, Saint Louis, MO, USA
13Pediatrics and Genetics, Washington University in St. Louis, St. Louis, MO, USA

Tóm tắt

Bệnh bạch cầu tủy cấp liên quan đến liệu pháp (t-AML) và hội chứng giảm sản tủy liên quan đến liệu pháp (t-MDS) là những biến chứng được công nhận rõ ràng của hóa trị liệu cytotoxic và/hoặc xạ trị. So với bệnh bạch cầu tủy cấp nguyên phát (de novo AML), t-AML có tỷ lệ mắc các đột biến TP53, bất thường của nhiễm sắc thể 5 hoặc 7, và di truyền tế bào phức tạp cao hơn. Phản ứng đối với hóa trị liệu cũng giảm so với de novo AML, và các đợt thuyên giảm kéo dài là hiếm. Từ góc độ bệnh sinh, sự khác biệt chính giữa de novo AML và t-AML là bệnh nhân t-AML đã từng tiếp xúc với liệu pháp độc hại trong quá trình điều trị ung thư nguyên phát của họ. Chúng tôi đã báo cáo những phát hiện ban đầu của nghiên cứu về phân tích gen của 22 trường hợp t-AML. Dữ liệu này được so sánh với trình tự gen của 49 trường hợp de novo AML. Một cách bất ngờ, dữ liệu cho thấy tổng số biến thể nucleotide đơn somatic (SNVs) và tỷ lệ biến thể xuyên (đề cập đến hư hại DNA do hóa trị liệu) không có sự khác biệt giữa t-AML và de novo AML. Do đó, không có bằng chứng cho thấy hóa trị liệu gây ra tổn thương DNA trên toàn bộ bộ gen trong t-AML.

Từ khóa

#TP53 #t-AML #t-MDS #đột biến #liệu pháp hóa trị #di truyền học