Cấy ghép tế bào gốc trong hồi phục cải thiện khả năng sống sót ở bệnh nhân bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính có liên quan đến các đột biến FLT3

Blood - Tập 112 - Trang 3302 - 2008
Gautam Borthakur1, Marcos de Lima2, Hagop Kantarjian1, Lianchun Xiao3, Leandro de Padua Silva2, Guillermo Garcia-Manero1, Sergio Giralt2, Farhad Ravandi-Kashani1, Sherry Pierce1, Richard Champlin2
1Leukemia, U.T. M.D. Anderson Cancer Center, Houston, TX, USA
2Stem Cell Transplantation, U. T. M. D. Anderson Cancer Center, Houston, TX, USA
3Quantitative Sciences Division, U. T. M. D. Anderson Cancer Center, Houston, TX, USA

Tóm tắt

Đánh giá tóm tắt Đặt vấn đề: Các đột biến trong kinase tyrosine tương tự fms 3 (FLT3) được cho là có liên quan đến quá trình sinh bệnh bạch cầu. Hai loại đột biến được mô tả; đột biến lặp lại nội bộ (ITD) trong miền gần màng và đột biến điểm trong vòng hoạt hóa của miền kinase tyrosine (TKD), chủ yếu ảnh hưởng đến aspartate 835 (D835). Đột biến ITD hiện diện ở 20–30% bệnh nhân bạch cầu tủy cấp tính (AML) và có liên quan đến tiên lượng kém (Yanada, M. et al. Leukemia. 2005 ;19:1345–9). Vai trò của việc cấy ghép tế bào gốc (SCT) chưa được xác định ở bệnh nhân AML có đột biến FLT3. Bệnh nhân và phương pháp: Một trăm hai mươi lăm bệnh nhân (59% nam) có AML và đột biến FLT3 được điều trị tại Trung tâm Ung thư M.D. Anderson trong giai đoạn 2003 đến 2007 đã được đưa vào phân tích này nhằm tìm ra các yếu tố dự đoán khả năng sống sót. Tuổi, tình trạng hiệu suất (PS), số lượng bạch cầu (WBC), số lượng tiểu cầu, mức hemoglobin, bilirubin, creatinine, albumin, beta 2 microglobulin (B2M), phản ứng (CR/CRp và những người khác), tình trạng nhận ghép (có/không) đã được đưa vào phân tích đơn biến và đa biến. Kết quả: Bảy mươi bảy phần trăm bệnh nhân có đột biến ITD và mười bốn bệnh nhân (11%) có cả đột biến ITD và D835. Độ tuổi trung bình là 59 (thang, 17–84), số lượng bạch cầu 17,3 x 106/ml (thang, 1–300.5), số lượng tiểu cầu 50 x 109/ml (thang, 7–313) và hemoglobin 8,1 gm/dL (thang, 4,2–13,9). Hầu hết (98%) có tình trạng hiệu suất từ 0–2 (trung vị=1) và kết quả di truyền học là diploid ở 72%. Tất cả bệnh nhân đã trải qua hóa trị liệu khởi đầu dựa trên cytarabine. Ngũ bảy phần trăm bệnh nhân đạt được hồi phục hoàn toàn (CR) hoặc CR với phục hồi tiểu cầu không hoàn toàn (CRp) và tỷ lệ tử vong liên quan đến khởi đầu là 9%. Tám mươi sáu bệnh nhân (69%) đã tử vong và thời gian sống còn trung bình (OS) là 10,4 tháng (tính theo CI 95% từ 7,62 đến 14,08 tháng). Không có sự khác biệt nào về OS giữa đột biến ITD và đột biến D835. Hai mươi bảy bệnh nhân (22%) đã trải qua việc cấy ghép tế bào gốc; 13 trong số đó ở giai đoạn CR1, 7 người có blast tủy ≥ 10%. Trong phân tích đơn biến, tình trạng nhận ghép, PS, phản ứng, tuổi, creatinine, albumin và B2M đều có liên quan đáng kể đến OS. Bệnh nhân được ghép có OS tốt hơn (trung vị = 15,7 tháng so với 7,6 tháng, p=.007) (Hình 1). Trong phân tích đa biến, tình trạng nhận ghép, PS, đột biến ITD và creatinine tác động đến OS. Tuổi là yếu tố dự đoán có ý nghĩa biên cho OS. Kết luận: Cấy ghép tế bào gốc trong CR/CRp dường như cải thiện OS ở bệnh nhân có AML và đột biến FLT3. Kết quả của các thử nghiệm kết hợp các chất ức chế FLT3 vào phác đồ khởi đầu/củng cố đang được mong đợi rất nhiều. Hình 1: Tỷ lệ sống sót theo tình trạng cấy ghép ở bệnh nhân có AML và đột biến FLT3 Hình 1: Tỷ lệ sống sót theo tình trạng cấy ghép ở bệnh nhân có AML và đột biến FLT3

Từ khóa