Ảnh hưởng của adiponectin và ghrelin đối với sự không dung nạp glucose và thay đổi trọng lượng

Clinical Endocrinology - Tập 70 Số 3 - Trang 408-414 - 2009
Nadia R. Bennett1, Michael S. Boyne1, Richard Cooper2, Tamika Y. N. Royal-Thomas1, Franklyn I. Bennett1, Amy Luke2, Rainford Wilks1, Terrence Forrester1
1Tropical Medicine Research Institute, University of the West Indies, Mona, Jamaica
2Department of Preventive Medicine and Epidemiology, Loyola University School of Medicine, Maywood, IL, USA

Tóm tắt

Tóm tắt

Mục tiêu  Adiponectin và ghrelin liên quan đến tình trạng béo phì và tiểu đường loại 2 trong nhiều nghiên cứu. Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu tiềm năng để xác định mối tương tác của adiponectin và ghrelin trong sự phát triển của tình trạng béo phì và tăng đường huyết.

Thiết kế  Nghiên cứu quan sát tiềm năng.

Tham gia  393 người Afro-Jamaica sinh sống trong cộng đồng (độ tuổi trung bình 47 ± 13 năm; BMI 27·3 ± 6·3 kg/m2; 63% phụ nữ) không có tình trạng dung nạp glucose kém tại thời điểm đầu.

Đo lường  Các chỉ số nhân trắc, glucose huyết tương lúc đói, glucose huyết tương sau 2 giờ, kháng insulin (HOMA-IR), nồng độ adiponectin và ghrelin được đo lường tại thời điểm đầu và 4·1 ± 0·9 năm sau. Các phân tích đa biến được sử dụng để khám phá mối liên hệ giữa HOMA-IR, adiponectin và ghrelin với sự thay đổi trọng lượng và mức đường huyết.

Kết quả  Thay đổi trọng lượng trung bình là 2·6 ± 5·5 kg. Có 114 ca mới mắc tình trạng không dung nạp glucose (IGT) và 35 ca tiểu đường. Adiponectin có tương quan dương với tuổi tác và giới tính nữ (P-values < 0·01). Sau khi điều chỉnh theo tuổi và giới, adiponectin và ghrelin có tương quan đáng kể với trọng lượng tại thời điểm đầu và khi theo dõi. Tuy nhiên, chúng không liên quan đến sự thay đổi trọng lượng ngay cả sau khi điều chỉnh thêm cho trọng lượng cơ sở. Adiponectin, nhưng không phải ghrelin, có liên quan đến nồng độ glucose sau 2 giờ tại thời điểm theo dõi ngay cả sau khi điều chỉnh cho tuổi, giới, HOMA-IR và BMI (P = 0·04). Trong mô hình hồi quy logistic đã được điều chỉnh hoàn toàn, adiponectin dự đoán IGT mới xảy ra (OR 0·93; 95% CI: 0·87–0·99) và làm giảm tác động của BMI lên IGT mới xảy ra.

Kết luận  Dữ liệu dọc này cho thấy rằng adiponectin và ghrelin có thể không liên quan đến sự phát triển của béo phì. Tuy nhiên, adiponectin có liên quan độc lập đến giảm nguy cơ IGT mới xảy ra.

Từ khóa


Tài liệu tham khảo

10.1097/00075197-200303000-00005

10.2337/diacare.24.11.1911

10.1006/bbrc.1999.0255

10.1016/S0140-6736(03)12255-6

10.1210/jcem.86.5.7463

10.1038/90984

10.2337/diabetes.51.10.2964

10.1093/aje/kwi338

10.1016/j.metabol.2005.09.005

10.1093/jn/135.5.1320

10.1073/pnas.0403465101

10.1210/jcem.86.12.8111

10.1210/en.2003-0241

10.1210/jcem.86.9.8003

10.1210/jc.2003-030227

10.1530/eje.0.1510573

10.2337/diabetes.52.10.2546

10.1046/j.1464-5491.1999.00151.x

10.1016/0895-4356(96)00111-4

10.2105/AJPH.87.2.160

World Health Organisation. (1999)Report of a WHO Consultation. Definition diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications: part. 1. Geneva: WHO/NCD/NCS 1999. pp.1–66.

10.1073/pnas.222657499

Neel J.V., 1962, Diabetes mellitus: a ‘thrifty’ genotype rendered detrimental by ‘progress’?, American Journal of Human Genetics, 14, 353

10.1210/jc.2002-021309

10.2337/diacare.26.12.3219

10.2337/diacare.26.12.3226

10.2337/diabetes.53.9.2473

10.2337/diacare.27.6.1375

Mather K.J., 2008, Adiponectin, Change in Adiponectin, and Progression to Diabetes in the Diabetes Prevention Program, Diabetes, 54, 740

10.2337/diacare.26.6.1745

10.1055/s-2005-872851

10.1001/jama.286.3.327

10.2337/diabetes.52.3.812

10.2337/diabetes.50.4.707

10.1210/jc.2004-1216

10.1210/jc.2003-031572

10.2337/dc05-1801

10.2337/diabetes.55.01.06.db05-1105

10.1074/jbc.M311113200

10.2337/diacare.27.6.1487