Tín hiệu và phản ứng của Erythropoietin trong tế bào cơ trơn mạch máu

Blood - Tập 110 - Trang 3724 - 2007
Bojana B. Beleslin-Cokic1, Vladan P. Cokic2, Ljiljana Gojkovic-Bukarica3, Constance Tom Noguchi4
1Genetics Department, Institute for Endocrinology, Diabetes and Metabolic Diseases, Belgrade, Serbia, Yugoslavia
2Laboratory of Experimental Hematology, Institute for Medical Research, Belgrade, Serbia, Yugoslavia
3Pharmacology Department, Institute for Pharmacology, Clinical Pharmacology and Toxycology, Belgrade, Serbia, Yugoslavia
4Molecular Medicine Branch, NIDDK, National Institutes of Health, Bethesda, MD, USA

Tóm tắt

Tóm tắt Erythopoietin (EPO) và thụ thể erythropoietin (EPOR) điều chỉnh sự sống sót, sự tăng trưởng, sự phân hóa và khả năng sống sót của các tế bào tổ tiên hồng cầu. Ngoài chức năng tạo hồng cầu, chúng tôi đã quan sát thấy rằng các tế bào nội mô mạch máu người phản ứng với sự kích thích của EPO bằng cách thúc đẩy biểu hiện EPOR và nitric oxide synthase nội mô (eNOS), làm tăng sản xuất NO và cGMP, đặc biệt là trong điều kiện áp suất oxy thấp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều tra phản ứng của cơ trơn mạch máu (VSM) đối với sự kích thích của EPO và sự đóng góp của mạch máu trong việc thư giãn/co thắt. Chúng tôi phát hiện rằng các tế bào VSM có biểu hiện EPOR và điều trị bằng EPO (5 U/ml) trong điều kiện áp suất oxy giảm đã làm tăng 2 lần mRNA của EPOR. Sự tăng cường phản ứng với EPO ở áp suất oxy thấp đi kèm với sự tăng cường sự tăng trưởng tế bào ở 2% O2 hơn 2 lần. Khác với các tế bào nội mô, EPO không làm tăng eNOS hay sản xuất NO trong các tế bào VSM. PI-3 kinase tham gia vào kích thích EPO mà không có thay đổi về MAP kinase. Trong một hệ thống mô hình mạch máu cô lập, chúng tôi đã kiểm tra khả năng phản ứng với EPO. EPO đã tạo ra các cơn co thắt (0.32 ± 0.3 g) của động mạch thận chuột, và việc tiền điều trị bằng LY294002 (10 mM), một chất ức chế PI-3 kinase, đã ức chế có ý nghĩa thống kê cơn co thắt này (58.7 ± 7%). Phản ứng này cũng được quan sát thấy với lớp nội mô bị loại bỏ. Trong các chế phẩm từ động mạch ngực trong (HIMA) và tĩnh mạch hiển (HSV) của những bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, EPO không ảnh hưởng đến trương lực mạch máu cơ bản của HIMA và HSV khi lớp nội mô bị loại bỏ, nhưng EPO (5 U/ml) đã làm tăng co thắt do noradrenalin gây ra lên đến 2 lần trong HSV và HIMA. Hơn nữa, việc tiền điều trị bằng EPO đã làm tăng có ý nghĩa các cơn co thắt gây ra bởi angiotensin của các mạch máu này (50 ± 8%, 113 ± 17%, tương ứng, P < 0.01), cho thấy rằng EPO có tác động hiệp lực lên sự huy động [Ca2+] do angiotensin hoặc noradrenalin gây ra, đặc biệt là trên việc giải phóng Ca2+ nội bào. Những dữ liệu này cho thấy rằng sự kích thích của EPO đối với cơ trơn mạch máu có thể điều chỉnh hoặc cân bằng các tác động giãn mạch của sự tăng sản xuất NO do nội mô được kích thích bởi EPO. Trong điều kiện stress oxy, cơ trơn mạch máu có thể phản ứng với EPO thông qua sự tăng trưởng và hoạt hóa PI-3 kinase như một tác dụng bảo vệ và kết hợp với sự giải phóng Ca2+ có thể đóng góp vào phản ứng vascular tổng thể.

Từ khóa