Sự thay đổi nồng độ của dioxin và các PCB giống dioxin trong quá trình chế biến cá

European Food Research and Technology - Tập 226 - Trang 1175-1181 - 2007
Horst Karl1, Ulrike Ruoff2
1Federal Research Centre for Nutrition and Food, Hamburg, Germany
2Federal Research Centre for Nutrition and Food, Kiel, Germany

Tóm tắt

Cá, cùng với thịt và sản phẩm từ sữa, chủ yếu góp phần vào sự phơi nhiễm của con người với dioxin và PCB giống dioxin. Nồng độ chất ô nhiễm trong cá chủ yếu được xác định ở phần có thể ăn được của nguyên liệu thô. Ở Đức, cá không được tiêu thụ sống mà được chế biến công nghiệp thành nhiều sản phẩm khác nhau và được nấu, chiên hoặc chiên ngập dầu ở gia đình. Để nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình chế biến đến nồng độ chất ô nhiễm, sự thay đổi của dioxin và một phần của PCB giống dioxin đã được theo dõi trong quá trình đóng hộp fillet cá trích, xông khói nóng fillet cá thu và món cắt cá bơn Greenland, cũng như trong quá trình ướp đường của cá trích đã được bỏ đầu. Quá trình xông khói nóng và ướp đường cá trích đã dẫn đến sự gia tăng hàm lượng dioxin trong phần có thể ăn của sản phẩm cuối cùng. Sự gia tăng này liên quan đến sự mất nước trong quá trình chế biến trong khi chất béo và do đó dioxin ưa lipid vẫn còn trong thịt. Đối với quá trình ướp đường, cũng đã theo dõi sự thay đổi của nồng độ PCB giống dioxin và hiệu ứng tương tự cũng được quan sát. Ngược lại, quá trình sản xuất fillet cá trích đóng hộp trong nước sốt cà chua dẫn đến hiện tượng “pha loãng” hàm lượng dioxin do sự bổ sung của nước sốt.

Từ khóa

#dioxin #PCB giống dioxin #chế biến cá #ô nhiễm thực phẩm #an toàn thực phẩm

Tài liệu tham khảo

Commission regulation (EC) No 1881/2006. Official Journal of the European Union L364, 16.3.2001, pp 5–24 Commission regulation (EC) No 199/2006. Official Journal of the European Union L32, 4.2.2006, pp 34–38 Biegler P (1950) Der Fisch (Band V). Baader, Lübeck pp 75–156 Stefansson G, Nielsen HH, Skara T, Schubring R, Oehlenschläger J, Luten J, Derrick S, Gudmundsdottir G (2000) J Sci Food Agric 80:1319–1324 Knøchel S, Huss HH (1984) J Food Technol 19:203–213 Zabik ME, Zabik MJ (1996) Food Technol 5:225–229 Santerre CR, Ingram R, Xu DH, Lewis GW, Lane LG (2000) J Food Prot 63:763–767 Karl H (2000) Inf Fischwirtsch Fischereiforsch 47:52–57 Zabik ME, Booren A, Zabik MJ, Welch R, Humphrey H (1996) Food Chem 55:231–239 Schecter A, Dellarco M, Päpke O, Olson J (1998) Chemosphere 37:1723–1730 Karl H, Ruoff U, Blüthgen A (2002) Chemosphere 49:765–773 Karl H, Ruoff U (2007) Chemosphere 67:S90–S95 Molina L, Cabes M, Diaz-Ferrero J, Coll M, Marti R, Broto-Puig F, Comellas L, Rodriguez-Larena MC (2000) Chemosphere 40:921–927 Oehlenschläger J (1986) Inf Fischwirtsch 33:188–190 Stone D (2006) Bull Environ Contam Toxicol 76:148–154 Aune W, Bjerselius R, Atuma S, Larrson L, Bergh A, Damerud PO, Anderson A, Arrhenius F, Bergek S, Tyskind M, Glynn A (2003) Organohalogen Compd 62:193–196 Horner WFA (1997) Canning of fish and fish products. In: Hall GM (ed) Fish processing technology. Blackie, London, pp 119–158 Tülsner M (1978) Lebensmittelind 25:169–173 Karl H, Schreiber W (1990) Dtsch Lebensm-Rundsch 86:286–288