Ryan M. Tierney1, Matthew A. Powell2,3, David G. Mutch2,3, Randall K. Gibb2,3, Janet S. Rader2,3, Perry W. Grigsby1,2,4,3
1Department of Radiation Oncology, Box 8224, Mallinckrodt Institute of Radiology, Washington University School of Medicine, St. Louis, USA
2Department of Obstetrics and Gynecology, Mallinckrodt Institute of Radiology, Washington University School of Medicine, St. Louis, USA
3Alvin J. Siteman Cancer Center, St. Louis, USA
4Division of Nuclear Medicine, Mallinckrodt Institute of Radiology, Washington University School of Medicine, St. Louis, USA
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định độc tính cấp tính của xạ trị điều biến cường độ (IMRT) sau phẫu thuật có và không có hóa trị liệu ở những bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung. Tổng cộng có 19 bệnh nhân mắc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn IB–IVB đã phẫu thuật và được kiểm tra IMRT sau phẫu thuật. Mục tiêu lập kế hoạch điều trị là che phủ mô có nguy cơ và giảm thiểu liều cho bàng quang, ruột và tủy xương. Liều trung vị là 50,4 Gy (phạm vi 49,6–51,2 Gy). Tổng cộng có 14 bệnh nhân đã được hóa trị; hầu hết được cho hóa chất carboplatin và paclitaxel. Độc tính được ghi điểm theo Tiêu chuẩn Thuật ngữ Chung cho Các sự kiện không mong muốn phiên bản 3.0 (CTCAE). Xạ trị theo phác đồ được thực hiện đầy đủ ở tất cả các bệnh nhân. Các chu kỳ hóa trị được chỉ định đều được hoàn thành ở 14 bệnh nhân, ngoại trừ một bệnh nhân đã nhận năm trong sáu chu kỳ do bị giảm tiểu cầu kéo dài. Hóa trị bị trì hoãn ở hai bệnh nhân (14%). Ba bệnh nhân cần hỗ trợ yếu tố tăng trưởng trong quá trình hóa trị, và một bệnh nhân cần truyền máu. Độc tính huyết học cấp tính loại 3–4 xảy ra ở 9 trong số 14 bệnh nhân (64%) đã được hóa trị. Không có bệnh nhân nào gặp phải độc tính cấp tính loại 3 hoặc 4 về đường tiết niệu hoặc tiêu hóa. Xạ trị IMRT hỗ trợ và hóa trị liệu sau phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung được dung nạp tốt và không dẫn đến việc điều chỉnh điều trị ở hầu hết các bệnh nhân.