Nội dung được dịch bởi AI, chỉ mang tính chất tham khảo
Nghiên cứu giai đoạn II mở, đơn tay về xạ trị chùm tia khối lượng thấp kết hợp hóa xạ trị sử dụng xạ trị điều biến cường độ cho glioblastoma mới được chẩn đoán sau phẫu thuật: giao thức thử nghiệm HSCK-010
Tóm tắt
Khối u não nguyên phát được chẩn đoán thường gặp nhất là glioblastoma (GBM). Hầu hết bệnh nhân đều trải qua tình trạng tái phát của khối u, trong đó lên đến 90% là tái phát tại chỗ. Do đó, việc tăng tỷ lệ điều trị của xạ trị bằng cách sử dụng xạ trị chùm tia khối lượng thấp (HSRT) có thể giảm thời gian điều trị và có thể tăng cường khả năng kiểm soát khối u và cải thiện tỷ lệ sống sót. Để đánh giá hiệu quả và độc tính của sự kết hợp giữa HSRT và xạ trị điều biến cường độ (IMRT) với temozolomide sau phẫu thuật ở bệnh nhân GBM và cung cấp bằng chứng cho các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát tiếp theo. HSCK-010 là một thử nghiệm giai đoạn II mở (NCT04547621) bao gồm những bệnh nhân GBM được chẩn đoán mới có phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn. Bệnh nhân sẽ nhận được sự kết hợp 30 Gy/5 lần HSRT và 20 Gy/10 lần điều trị hỗ trợ IMRT với temozolomide đồng thời và hóa trị hỗ trợ. Điểm chính là tỷ lệ sống sót tổng thể (OS). Các kết quả thứ cấp bao gồm tỷ lệ sống sót không tiến triển (PFS), tỷ lệ đáp ứng mục tiêu (ORR), chất lượng cuộc sống (Qol) trước và sau điều trị, chức năng nhận thức trước và sau điều trị, và tỷ lệ tác dụng phụ liên quan đến điều trị (AE). Sự kết hợp giữa HSRT và IMRT với temozolomide có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân sau phẫu thuật với tỷ lệ sống sót tốt, độc tính chấp nhận được và thời gian điều trị giảm thiểu.
Từ khóa
#glioblastoma #xạ trị chùm tia khối lượng thấp #xạ trị điều biến cường độ #temozolomide #thử nghiệm lâm sàng #sống sót tổng thểTài liệu tham khảo
Jemal A, Siegel R, Ward E, et al. Cancer statistics. CA Cancer J Clin. 2006;56:106–30.
Stupp R, Mason WP, van den Bent MJ, et al. Radiotherapy plus concomitant and adjuvant temozolomide for glioblastoma. N Engl J Med. 2005;352:987–96.
Kirkpatrick JP, Sampson JH. Recurrent malignant gliomas. Semin Radiat Oncol. 2014;24:289–98.
Martínez-Carrillo M, Tovar-Martín I, Zurita- Herrera M, et al. Salvage radiosurgery for selected patients with recurrent malignant gliomas. Biomed Res Int. 2014;2014:657953.
Roa W, Brasher PMA, Bauman G, et al. Abbreviated course of radiation therapy in older patients with glioblastoma multiforme: a prospective randomized clinical trial. J Clin Oncol. 2004;22(9):1583–8.
Roa W, Kepka L, Kumar N, et al. International Atomic Energy Agency randomized phase III study of radiation therapy in elderly and/or frail patients with newly diagnosed glioblastoma multiforme. J Clin Oncol. 2015;33(35):4145–50.
Vogelbaum MA, Jost S, Aghi MK, et al. Application ofnovel response/progression measures for surgically delivered therapies for gliomas: response assessment in neuro-oncology (RANO) working group. Neurosurgery. 2012;70(1):234–44.
Brandsma D, et al. Clinical features, mechanisms, and management of pseudoprogression in malignant gliomas. Lancet Oncol. 2008;9:453–61.
Suh CH, Kim HS, Choi YJ, et al. Prediction of pseudoprogression in patients with glioblastomas using the initial and final area under the curve’s ratio derived from dynamic contrast-enhanced T1-weighted perfusion MR imaging. AJNR Am JNeuroradiol. 2013;34(12):2278–86.
Guan Y, et al. Hypofractionated Radiosurgery Plus Bevacizumab for Locally Recurrent Brain Metastasis with Previously High-Dose Irradiation. World Neurosurg. 2020;133:e252–8.
Malmström A, et al. Temozolomide versus standard 6-week radiotherapy versus hypofractionated radiotherapy in patients older than 60 years with glioblastoma: the Nordic randomised, phase 3 trial. Lancet Oncol. 2012;13:916–26.
Perry JR, et al. Short-course radiation plus temozolomide in elderly patients with glioblastoma. N Engl J Med. 2017;11:1027–37.
