Scholar Hub/Chủ đề/#kính hiển vi điện tử quét/
Kính hiển vi điện tử quét là một loại kính hiển vi sử dụng công nghệ điện tử để tạo ra hình ảnh thông qua việc quét mẫu vật hoặc mẫu tinh thể bằng các tia elect...
Kính hiển vi điện tử quét là một loại kính hiển vi sử dụng công nghệ điện tử để tạo ra hình ảnh thông qua việc quét mẫu vật hoặc mẫu tinh thể bằng các tia electron chứ không phải sử dụng ánh sáng như các loại kính hiển vi quang học. Các ứng dụng của kính hiển vi điện tử quét bao gồm việc nghiên cứu cấu trúc vật liệu, sinh vật, hoặc các ứng dụng trong ngành công nghiệp và y học.
Kính hiển vi điện tử quét có hai loại chính là kính hiển vi quét tia electron (SEM) và kính hiển vi quét gương ngược (TEM). Kính hiển vi quét tia electron sử dụng các tia electron để quét mẫu và tạo ra hình ảnh chi tiết về bề mặt của mẫu, trong khi kính hiển vi quét gương ngược sử dụng các tia electron để quét mẫu từ phía sau để tạo ra hình ảnh về cấu trúc nội bộ của mẫu.
Cả hai loại kính hiển vi điện tử quét đều cho phép xem các chi tiết vô cùng nhỏ, thậm chí có thể phóng đại lên hàng ngàn lần so với kích thước ban đầu, và rất hữu ích cho việc nghiên cứu và phân tích các mẫu vật liệu, các cấu trúc tinh thể, tế bào sinh học, và nhiều ứng dụng khác.
Các ứng dụng của kính hiển vi điện tử quét rất đa dạng, bao gồm trong lĩnh vực y học để nghiên cứu về cấu trúc tế bào và tìm hiểu về các bệnh lý, trong lĩnh vực công nghiệp để kiểm tra chất lượng sản phẩm và phân tích vật liệu, cũng như trong lĩnh vực khoa học vật liệu để nghiên cứu các cấu trúc tinh thể và vật liệu mới.
Kính hiển vi điện tử quét còn được sử dụng để tạo ra các hình ảnh 3D của các mẫu vật liệu, giúp nghiên cứu và phân tích cấu trúc một cách chi tiết và chính xác. Nó cũng cho phép quan sát các mẫu vật liệu ở các góc nhìn khác nhau, cung cấp thông tin đa chiều và toàn diện về mẫu vật liệu.
Bên cạnh đó, kính hiển vi điện tử quét cũng đã trở thành công cụ quan trọng trong các ứng dụng vật lý học, hóa học, sinh học, y học, công nghệ vật liệu và nhiều lĩnh vực khác.
Nghiên cứu về vật chất hữu cơ dạng hạt tự do và bị bao bọc trong đất bằng phương pháp quang phổ NMR 13C CP/MAS và kính hiển vi điện tử quét Dịch bởi AI Soil Research - Tập 32 Số 2 - Trang 285 - 1994
Một phương pháp định lượng đơn giản để phân tách vật chất hữu cơ dạng hạt tự do và bị bao bọc đã được phát triển và áp dụng cho năm loại đất nguyên sinh. Vật chất hữu cơ tự do được tách ra bằng cách lơ lửng mẫu đất trong dung dịch natri polytungstate (d = 1.6 Mg m-3) và lắng đọng vật chất nhẹ. Đất còn lại được phân tán bằng siêu âm để giải phóng vật chất hữu cơ bị bao bọc. Phân đoạn nhẹ tự do bao gồm các mảnh rễ và thực vật lớn, chưa phân hủy hoặc phân hủy một phần. Phân đoạn này chiếm 0.59-4.34% trọng lượng khô của đất và chiếm 6.9-31.3% và 5.9-22.1% tổng lượng carbon và nitơ trong đất tương ứng. Các thành phần có thể nhận diện của phân đoạn bị bao bọc là các hạt nhỏ của chất hữu cơ phân hủy không hoàn toàn, hạt phấn, các hạt của mô thực vật như cuộn lignin và phytoliths. Phân đoạn này chiếm 0.69-1.81% trọng lượng khô của đất và đại diện cho 9.2-17.5% và 6.2-14.1% tổng lượng carbon và nitơ trong đất. Tỷ lệ carbon hữu cơ trong đất được thu hồi như phân đoạn bị bao bọc cao trong đất có hàm lượng đất sét cao. Thành phần hóa học của vật chất hữu cơ bị bao bọc và tự do đã được nghiên cứu bằng quang phổ NMR 13C CP/MAS ở trạng thái rắn. Mặc dù có sự khác biệt giữa các loại đất, điều kiện môi trường và thảm thực vật, cấu trúc hữu cơ của phân đoạn nhẹ tự do tương tự trong bốn trên năm loại đất. Phân đoạn này bao gồm 55-63% C-alkyl O, 18-25% C-alkyl, 14-18% C-aromatic và 5-7% C-carbonyl. Trong loại đất còn lại, phân đoạn này cho thấy tỷ lệ C-alkyl cao hơn (31%) và C-alkyl O thấp hơn (46%). Hầu hết các sự khác biệt giữa các loại đất liên quan đến vật chất hữu cơ có trong phân đoạn nhẹ bị bao bọc. Sự khác biệt trong cấu trúc hóa học giữa phân đoạn nhẹ bị bao bọc và các phân đoạn nhẹ tự do tương tự nhau ở tất cả các loại đất được nghiên cứu. Dữ liệu NMR cho thấy tỷ lệ C-alkyl O thấp hơn và C-alkyl cao hơn trong các phân đoạn nhẹ bị bao bọc so với các phân đoạn nhẹ tự do. Tỷ lệ carbon aromatic và carbonyl cao hơn trong các phân đoạn bị bao bọc của ba loại đất trong khi tỷ lệ của hai loại carbon này không thay đổi ở hai loại đất còn lại. Người ta cho rằng vật chất hữu cơ bị bao bọc là một nguồn carbon cổ mà đã được tích tụ bên trong các khối kết trong suốt nhiều thập kỷ tăng trưởng rễ và chính nguồn đó đã bị mất do canh tác.
Ngăn cản sự di chuyển của tế bào biểu mô giác mạc tại đường cong bao nang do cạnh thấu kính hình chữ nhật của thấu kính nội nhãn phòng sau tạo ra Dịch bởi AI Ophthalmic Surgery Lasers and Imaging Retina - Tập 29 Số 7 - Trang 587-594 - 1998
* BỐI CẢNH VÀ MỤC TIÊU: Nghiên cứu cơ chế dẫn đến tỷ lệ mờ bao sau (PCO) thấp ở các mắt đã điều trị bằng thấu kính nội nhãn phòng sau (PC IOL).
* NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP: Các thiết kế thấu kính nội nhãn khác nhau, bao gồm PC IOL, được nghiên cứu bằng kính hiển vi điện tử quét. Bao giác mạc của thỏ được nghiên cứu mô học vào 2, 3 và 4 tuần sau khi cấy ghép một PC IOL vào một mắt và một thấu kính thủy tinh hai mặt lồi polymethylmethacrylate (PMMA) vào mắt đối diện làm đối chứng.
* KẾT QUẢ: Cạnh thấu kính của PC IOL sắc nét và hình chữ nhật, trong khi của các thấu kính PMMA hoặc silicone hai mặt lồi đã được đánh bóng và làm tròn. PCO đã giảm đáng kể trong mắt có PC IOL của tất cả thỏ. Bao giác mạc ôm sát vào cạnh thấu kính của PC IOL để nó có hình dạng tương tự và từ đó tạo ra một nếp gấp hình chữ nhật rõ rệt trong bao hoặc một hình chữ nhật giữa cạnh thấu kính và bao sau. Các tế bào biểu mô giác mạc di chuyển (LECs) rõ ràng đã bị ức chế tại vị trí đó.
* KẾT LUẬN: Nếp gấp bao đứt quãng hoặc hình chữ nhật tạo ra bởi cạnh thấu kính sắc nét, vuông của PC IOL có thể đã gây ra ức chế tiếp xúc đối với các tế bào biểu mô giác mạc di chuyển và giảm PCO. Cần làm rõ việc thiết kế phụ thuộc như thế nào và mức độ ảnh hưởng bởi đặc điểm của nguyên liệu thấu kính thông qua việc so sánh với kết quả đạt được với một thấu kính làm từ cùng nguyên liệu thiết kế khác hoặc ngược lại.
[Phẫu Thuật Lasers Nhãn Khoa 1998;29:587-594.]
#Thấu kính nội nhãn phòng sau #mờ bao sau #tế bào biểu mô giác mạc #kính hiển vi điện tử quét #thiết kế thấu kính
Kính hiển vi điện tử quét về Pseudomonas syringae pv, morsprunorum trên lá anh đào ngọt Dịch bởi AI Journal of Phytopathology - Tập 108 Số 1 - Trang 18-25 - 1983
Tóm tắtKính hiển vi điện tử quét cho thấy các khoang phụ khí khổng trên lá anh đào ngọt là "các vị trí được bảo vệ" mà nơi trú ngụ của quần thể vi khuẩn Pseudomonas syringae pv. morsprunorum. Vi khuẩn xâm nhập vào khí khổng, phát triển trong các khoang và xuất hiện thành một khối vào ngày thứ 6 sau khi nhiễm. Không có triệu chứng rõ rệt, cho thấy rằng tác nhân gây bệnh đã thuộc địa hóa ký chủ với số lượng "trong lâm sàng" thấp để tạo ra những quần thể sau đó được phát tán ra bề mặt lá trong các điều kiện thích hợp.
Mô hình vật lý và toán học về quá trình nạp điện do chùm electron gây ra ở các vật liệu điện sinh cực trong quá trình chuyển đổi cấu trúc miền Dịch bởi AI Journal of Surface Investigation: X-ray, Synchrotron and Neutron Techniques - Tập 7 - Trang 680-684 - 2013
Kết quả mô hình hóa các quá trình nạp điện động xảy ra khi các vật liệu điện sinh cực chịu tác động của chùm electron trong kính hiển vi điện tử quét được trình bày. Việc thực hiện mô hình dựa trên giải đồng thời phương trình liên tục và phương trình Poisson với sự tính toán độ dẫn nội tại kích thích do bức xạ của mẫu bị chiếu xạ và với phân bố điện tích ban đầu được xác định bằng phương pháp Monte Carlo. Bài toán biên tiến hóa đa chiều được giải bằng các phương pháp lưới. Mô hình này cho phép nghiên cứu động học của quá trình nạp điện gây ra bởi chùm electron ở các vật liệu điện sinh cực. Các ước lượng cho các giá trị của các trường điện được sinh ra bởi các điện tích tích lũy trong quá trình chiếu xạ được trình bày cho một tập hợp các tham số mô hình tương ứng với dữ liệu thực nghiệm thu được trong các quan sát thực nghiệm về chuyển đổi phân cực của tinh thể lithium niobate điện sinh cực.
#nạp điện #điện sinh cực #chùm electron #kính hiển vi điện tử quét #mô hình hóa #phương trình Poisson #phương pháp Monte Carlo #chuyển đổi phân cực
Phân tích thành phần khoáng vật sét bằng phương pháp nhiễu xạ tia X và minh giải hình ảnh từ kính hiển vi điện tử quét để tái hiện điều kiện khí hậu cổ địa lý tập D Lô 15-2 & 15-2/01 bể Cửu LongBài báo trình bày kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction) định lượng cho thành phần khoáng vật tạo đá và thành phần sét thực hiện trên 29 mẫu gồm mẫu lõi và mẫu vụn các giếng khoan ở tập D của Lô 15-2 & 15-2/01. Kết quả phân tích thành phần đá chủ yếu là thạch anh, kali-feldspar và plagiocla. Thành phần xi măng gồm calcite, dolomite, siderite và pyrite. Thành phần khoáng vật sét có vai trò quan trọng trong tập D, kết quả phân tích XRD và minh giải hình ảnh từ kính hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy thành phần sét trong tập này chủ yếu là illite, kaolinite, chlorite và hỗn hợp lớp illite-smectite...Sự kết hợp các khoáng vật sét có thể được chia thành 3 loại: (I) illite và hỗn hợp lớp illite-smectite chiếm chủ yếu; (II) kaolinite chiếm chủ yếu; (III) illite, hỗn hợp lớp illite-smectite, kaolinite và chlorite tương đồng. Sự thay đổi hàm lượng khoáng vật sét trong từng độ sâu của từng giếng khoan trong tập D cho thấy sự thay đổi về khí hậu và môi trường cổ địa lý.
#Quantitative XRD analysis #scanning electron microscope (SEM) #clay minerals #paleoclimate #Cuu Long basin
ĐỘ CỨNG VICKERS VÀ CẤU TRÚC BỀ MẶT SỨ LITHIUM DISILICATE TRƯỚC VÀ SAU XỬ LÝ AXIT HYDROFLUORICMục tiêu: Nghiên cứu đánh giá độ cứng Vickers và cấu trúc bề mặt của sứ thuỷ tinh lithium disilicate trước và sau khi xử lý với axit hydrofluoric (HF) 5%. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 52 đĩa tròn sứ thuỷ tinh lithium disilicate (26 đĩa sứ GC Initial Lisi Press-LP và 26 đĩa sứ IPS e.max Press-EP) có kích thước 4x2mm được chuẩn bị bằng kỹ thuật ép nóng. Sau khi đánh bóng bề mặt, một nửa số đĩa sứ được xử lý bề mặt với HF 5%. Sau đó, 40 đĩa sứ được dùng để đánh giá độ cứng Vickers và 12 đĩa dùng để quan sát bề mặt dưới kính hiển vi điện tử quét. Kết quả: Sau khi xử lý bề mặt với HF 5%, độ cứng Vickers của 2 nhóm nghiên cứu đều giảm có ý nghĩa thống kê và nhóm LP có độ cứng Vickers lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm EP. Hình ảnh SEM cho thấy cấu trúc bề mặt của nhóm LP có các tinh thể với kích thước nhỏ, đều hơn so với nhóm EP. Kết luận: Việc xử lý với HF 5% làm giảm độ cứng bề mặt của sứ lithium disilicate và độ cứng của LP lớn hơn EP.
#Độ cứng Vickers #kính hiển vi điện tử quét #sứ lithium disilicate #axit hydrofluoric
Tổng hợp cacbon nano ống bằng phương pháp kết tụ hóa học trong pha hơi sử dụng ethane làm nguồn cacbonCacbon nano ống (CNTs) đã được quan tâm bởi cộng đồng khoa học kể từ thời điểm công bố kết quả của hai nhóm nghiên cứu S. Iijima và D.S. Bethune vào năm 1993. Nhờ vào những tính chất ưu việt của CNTs mà chúng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Kết tụ hóa học trong pha hơi (CVD) là phương pháp thường được sử dụng trong tổng hợp CNTs vì có nhiều ưu điểm. Ở nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp CVD với nguồn cacbon là ethane và xúc tác Fe/γ-Al2O3 để tổng hợp CNTs. Đánh giá tính chất của sản phẩm thu được bằng các phương pháp phân tích hóa lý hiện đại như hấp phụ đẳng nhiệt nitơ lỏng và tính toán bề mặt riêng theo phương pháp BET, XPS, SEM và TEM. Ảnh hưởng của việc sử dụng khí mang lên tính chất sản phẩm cũng đã được khảo sát.
#CNTs #Phương pháp CVD #xúc tác Fe/γ-Al2O3 #phổ quang điện tử tia X (XPS) #BET #kính hiển vi điện tử quét (SEM) #kính hiển vi điển tử truyền qua (TEM)
Đo lường kích thước tuyến tính của các yếu tố nanorelief silicon với hình dạng gần như chữ nhật bằng cách làm mờ chùm electron của kính hiển vi điện tử quét Dịch bởi AI Pleiades Publishing Ltd - Tập 39 - Trang 394-400 - 2010
Các yếu tố nanorelief silicon đơn độc với các chiều rộng khác nhau được nghiên cứu bằng cách sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM). Từ các đường cong tín hiệu video thu được trong chế độ electron chậm thứ cấp của các phép đo SEM, các phụ thuộc của độ dài các đoạn kiểm tra G
p
(D
ef) và L
p
(D
ef), trong đó D
ef là đường kính hiệu quả của đầu dò SEM, được xác định. Các phụ thuộc được tìm thấy là tuyến tính cho cả bốn phần nhô đơn độc, và khi D
ef tăng lên, độ dài G
p
tăng lên và độ dài L
p
giảm xuống. Đã chỉ ra rằng phương pháp làm mờ đầu dò electron của SEM cung cấp một phương tiện để xác định kích thước tuyến tính của các yếu tố nanorelief có hình dạng gần như chữ nhật bằng cách nội suy các phụ thuộc tuyến tính G
p
(D
ef) và L
p
(D
ef) đến D
ef = 0. Đã xác định rằng đoạn kiểm tra không thay đổi đại diện cho kích thước tuyến tính của một yếu tố relief cụ thể nằm ở mức (sl)aver = 0.80 ± 0.03 cho các yếu tố silicon với các chiều rộng khác nhau.
Đặc trưng đa kỹ thuật của thuốc nhuộm trong các loại vải Kaitag cổ đại từ Caucasus Dịch bởi AI Archaeological and Anthropological Sciences - Tập 4 - Trang 185-197 - 2012
Vải Kaitag, được đặt tên theo quận Kaitag ở Tây Nam Daghestan, Nga, nơi chúng được sản xuất, là một hình thức nghệ thuật thêu dệt độc đáo. Chúng được các gia đình sử dụng trong những dịp đặc biệt như sinh nhật, kết hôn hoặc cái chết của một trong những thành viên của họ và do đó đã được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác như di sản gia đình. Hiện nay, chỉ còn vài trăm mẫu cổ quý giá này có thể được tìm thấy, và các ví dụ còn lại chủ yếu có nguồn gốc từ thế kỷ XVII và XVIII. Trong bài viết này, một nghiên cứu rộng rãi nhằm phân tích khoa học vải Kaitag được trình bày như là sự tiếp nối hợp lý và cập nhật của các cuộc điều tra được thực hiện bằng sắc ký lớp mỏng gần hai thập kỷ trước. Một cách tiếp cận đa kỹ thuật đã được sử dụng, kết hợp giữa các kỹ thuật vi xâm lấn và phi phá hủy phù hợp cho các phân tích tại chỗ, nhằm mục tiêu xác định các chất tạo màu của vải Kaitag và mực được sử dụng cho bản vẽ bên dưới. Các phân tích được thực hiện bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao, phổ Raman tăng cường bề mặt, kính hiển vi điện tử quét kết hợp với phân tích tia X năng lượng phân tán, cũng như phổ phản xạ khả kiến và phổ huỳnh quang tia X. Ngoài ra, hình ảnh hồng ngoại và huỳnh quang tia cực tím cũng được sử dụng để hình dung các bản vẽ bên dưới và các phục hồi có thể có. Các hiện tượng ăn mòn được quan sát trong các khu vực nhuộm màu nâu và đen cũng đã được điều tra.
#Vải Kaitag #sắc ký lỏng hiệu năng cao #phổ Raman #kính hiển vi điện tử quét #phân tích tia X năng lượng phân tán #huỳnh quang #chất tạo màu.
Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến tính chất của composite từ nhựa polyester không no và bột đá phế thảiMục tiêu của nghiên cứu nhằm khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến tính chất của composite trên cơ sở nhựa polyester không no (UPE) và bột đá phế thải từ Làng đá Non Nước, thành phố Đà Nẵng. Mẫu composite được chế tạo bằng công nghệ đúc ép. Áp lực và thời gian ép được lựa chọn thích hợp tương ứng là 40 Psi và 2h. Các phép đo cơ lý kéo, uốn, nén và va đập được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của kích thước hạt và hàm lượng bột đá đến các tính chất của composite nền nhựa polyester không no. Bề mặt phá hủy của mẫu composite cũng được khảo sát bằng Kính hiển vi điện tử quét. Kết quả phân tích cho thấy độ bền composite giảm khi kích thước hạt và hàm lượng bột đá tăng, đặc biệt đối với bột đá ướt.
#Composite #bột đá #polyester không no #tính chất cơ lý #Kính hiển vi điện tử quét (SEM)