The utility of intraoperative electrocorticography monitoring in epilepsy surgery at University Medical Center at Ho Chi Minh City
Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy - Trang - 2025
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật động kinh có sử dụng ghi điện vỏ não (ECoG) trong mổ, khảo sát vai trò của ghi điện vỏ não (ECoG) trong mổ và một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật động kinh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, phẫu thuật cắt tổn thương sinh động kinh, sử dụng ghi điện thế vỏ não (ECoG) trong mổ tại Bệnh viện Đại học Y Dược từ 01/2022 đến 06/2024. Kết quả: Trong 23 bệnh nhân nghiên cứu, có 10 nam: 13 nữ, tuổi phẫu thuật trung bình 24,3 tuổi, bệnh nhân có thời gian động kinh chưa kiểm soát được bằng thuốc từ 5 năm chiếm 47,8%. Có 95,7% ca có điểm Karnofsky trước mổ 80-100 điểm và 4,3% ca thuộc nhóm 50-70 điểm. Tất cả các ca có tín hiệu sóng dạng động kinh ngoài cơn (IED) trên điện não đồ trước mổ, 73,9% khu trú một thùy não, 17,4% khu trú một bán cầu, 8,7% lan tỏa hai bán cầu ưu thế một bên. Cộng hưởng từ trước mổ phát hiện tổn thương ở 100% bệnh nhân, 52,2% bên trái, 47,8% bên phải, 82,6% có tổn thương thùy thái dương, 8,7% ca có tổn thương ngoài thái dương, 8,7% ca có tổn thương cả trong và ngoài thùy thái dương. Phương án phẫu thuật trước mổ đã được điều chỉnh trong lúc mổ dựa trên kết quả bản ghi ECoG trong 11/23 ca (47,8%). Tỉ lệ kiếm soát cơn co giật (Engel I) ở các bệnh nhân phẫu thuật động kinh có sử dụng ECoG trong mổ 87%. Phân tích đơn biến chỉ ra rằng số lượng AED được sử dụng trước phẫu thuật, mức độ lan tỏa IED trên EEG trước phẫu thuật, điểm ghi ECoG cuối cùng sau cắt bỏ có tương quan với khả năng kiểm soát cơn động kinh sau mổ. Kết luận: Điện vỏ não trong mổ là công cụ hiệu quả, đáng tin cậy và an toàn trong phẫu thuật động kinh để hướng dẫn phẫu thuật có định hướng, định khu và xác định ranh giới phẫu thuật loại bỏ vùng não sinh động kinh.
