Phân loại sắt trong nước mưa bằng phân đoạn kích thước, phân hủy axit, chiết xuất axit và xác định xúc tác

Analytical Sciences - Tập 16 - Trang 945-949 - 2000
Susumu Kawakubo1, Masaaki Iwatsuki1
1Department of Applied Chemistry and Biotechnology, Faculty of Engineering, Yamanashi University, Takeda, Kofu, Japan

Tóm tắt

Để xác định sự phân loại của sắt vi lượng trong nước mưa, nồng độ (CL) của sắt dễ hao mòn được xác định bằng phương pháp quang phổ xúc tác dựa trên sự oxy hóa của o-phenylenediamine với peroxyde hydro. Nồng độ tổng (CT) của sắt cũng được xác định bằng phương pháp này sau khi phân hủy bằng axit để thu được nồng độ (CT-CL) của sắt không dễ hao mòn. Đối với phân đoạn hạt (kích thước hạt ≥0.45 µm), sắt hòa tan trong HCl 0.1 M được xác định bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử. Các hợp chất humic đồng hiện được xác định bằng phương pháp quang phổ huỳnh quang như axit humic. Sắt dễ hao mòn được tìm thấy trong phân đoạn có trọng lượng phân tử (MW) < 103 và được ước lượng như FeOH2+ và Fe(OH)2+ từ các cân bằng hóa học của ion hydroxo sắt(III). Sắt không dễ hao mòn được tìm thấy trong phân đoạn hạt và được xác định là hydroxide sắt hòa tan trong axit và các cụm sắt humic cũng như các hợp chất không hòa tan trong axit, như oxit và silicat. Sắt dễ hao mòn cũng được tìm thấy trong phân đoạn hạt của các mẫu nước mưa ban đầu và được xác định là sắt phức hợp trên các cụm sắt humic. Các kết quả phân loại trên đã được xác nhận bằng phân tích các mẫu tổng hợp.

Từ khóa


Tài liệu tham khảo

B. T. Hart and T. Hines, “Trace Elements in Natural Waters”, ed. B. Salbu and E. Steinnes, Chap. 9, 1995, CRC Press, Boca Raton, 206. T. M. Florence, “Trace Element Speciation: Analytical Methods and Problems”, ed. G. E. Batley, Chap. 4, 1989, CRC Press, Boca Raton, 77–116. S. Kawakubo, Y. Hagihara, Y. Honda, and M. Iwatsuki, Anal. Chim. Acta, 1999, 388, 35. M. Hiraide, Anal. Sci., 1992, 8, 453. W. Ködel, M. Dassenakis, J. Lintelmann, and S. Padberg, Pure Appl. Chem., 1997, 69, 1571. H. Hara, E. Ito, T. Katou, Y. Kitamura, T. Komeiji, M. Oohara, T. Okita, K. Sekiguchi, K. Taguchi, M. Tamaki, Y. Yamanaka, and K. Yoshimura, Bull. Chem. Soc. Jpn., 1990, 63, 2691. T. M. Florence, J. Electroanal. Chem., 1970, 26, 293. Z. Gao and K. S. Siow, Talanta, 1996, 43, 727. H. Hofmann, P. Hoffmann, and K. H. Lieser, Fresenius J. Anal. Chem., 1991, 340, 591. S. Kawakubo, M. Yamamoto, and T. Fukasawa, J. Japan Soc. Air Pollut., 1994, 29, 196. G. L. Brun and D. L. D. Milburn, Anal. Lett., 1977, 10, 1209. T. Kyotani and M. Iwatsuki, Anal. Sci., 1998, 14, 741. K. Goto, T. Yotsuyanagi, and M. Nagayama, Kogyo Kagaku Zasshi, 1969, 72, 1871. G. Davies, A. Fataftah, A. Cherkasskiy, E. A. Ghabbour, A. Radwan, S. A. Jansen, S. Kolla, M. D. Paciolla, L. T. Sein, Jr., W. Buermann, M. Balasubramanian, J. Budnick, and B. Xing, J. Chem. Soc, Dalton Trans., 1997, 4047. S. Patsayeva and R. Reuter, Proc. SPIE — Int. Soc. Opt. Eng., 1995, 2586, 151. Y. Ambe and M. Nishikawa, Atoms. Environ., 1986, 20, 1931. D. J. Mackey and A. Zirino, Anal. Chim. Acta, 1994, 284, 635. M. Hiraide, M. Ishii, and A. Mizuike, Anal. Sci., 1988, 4, 605. C. F. Baes, Jr. and R. E. Mesmer, “The Hydrolysis of Cations”, 1976, Wiley-Interscience, New York, 234. T. Fukasawa and M. Iwatsuki, J. Japan Soc. Air Pollut., 1985, 20, 23. J. Hlavay, K. Polyäk, A. Molnär, and E. Mészâros, Analyst [London], 1998, 123, 859.