Bilgehan Savaş Oz1, Hikmet Iyem1, Hakki Tankut Akay1, Cengiz Bolcal1, Mehmet Yokusoglu2, Erkan Kuralay1, Ufuk Demirkilic1, Harun Tatar1
1Department of Cardiovascular Surgery, Gulhane Military Medical Academy, Ankara, Turkey
2Department of Cardiology, Gulhane Military Medical Academy, Ankara, Turkey
Tóm tắt
Mục đích của nghiên cứu này là điều tra ảnh hưởng của các biến số trước phẫu thuật, trong phẫu thuật, và sau phẫu thuật đến kết quả sớm, trung bình và dài hạn của việc thay thế lại van tim nhân tạo. Giữa tháng 2 năm 1989 và tháng 1 năm 2004, 192 bệnh nhân được điều trị do rối loạn van tim nhân tạo đã được phân tích hồi cứu sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu dựa trên máy tính. Việc thay thế lại van tim nhân tạo đã được thực hiện, bao gồm 164 trường hợp thay thế lần hai, 10 trường hợp thay thế lần ba và 2 trường hợp thay thế lần bốn. Số lần thay thế lại đạt 6,1% (n = 176) trong tổng số phẫu thuật van tim. Có 90 bệnh nhân nam (46,8%) và độ tuổi trung bình là 61,6 ± 8,3 năm. Thời gian theo dõi trung bình là 7,8 năm. Tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là 11,7% (n = 14). Phân suất tống máu (EF) thấp, lớp chức năng Hiệp hội Tim mạch New York (NYHA) tiến triển, viêm nội tâm mạc van nhân tạo, và phù phổi đã được tìm thấy là những yếu tố dự đoán tử vong sớm. Tỷ lệ sống sống được phân tích theo 1, 5 và 10 năm lần lượt là 92% ± 3%, 78% ± 3% và 45% ± 2%. Phân tích đa biến cho thấy lớp NYHA IV, EF thấp, viêm nội tâm mạc van nhân tạo, tuổi cao, đường kính cuối tâm thu thất trái (LVESD) >50 mm, và thay thế hai van là các yếu tố độc lập dự đoán tỷ lệ tử vong muộn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, lớp NYHA IV, EF thấp, viêm nội tâm mạc van nhân tạo, và LVESD >50 mm được xác định là các yếu tố nguy cơ cho cả tỷ lệ tử vong trong bệnh viện và tỷ lệ sống lâu dài. Ngoài ra, phù phổi, tuổi cao, và thay thế hai van cũng là các yếu tố nguy cơ trong dài hạn. Việc điều trị tích cực viêm nội tâm mạc và thay thế lại sớm trước khi chức năng thất trái xấu đi sẽ cải thiện kết quả.