Stig Müller1,2, Gunder Lilleaasen1, Tor Erik Sand1, Lars Løfsgaard1, Manuela Estop-Garanto1, Dan Helgø1, Peter Sund1, Vegard Mygland1
1Department of Urology, Akershus University Hospital, Lørenskog, Norway
2Institute of Clinical Medicine, University of Oslo, Oslo, Norway
Tóm tắt
Kể từ tháng 1 năm 2015, tất cả nam giới được giới thiệu đến bác sĩ tiết niệu ở Na Uy do PSA cao hoặc nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt khác đều được thực hiện chụp cộng hưởng từ đa tham số (mpMRI) trước khi sinh thiết tuyến tiền liệt. Tại bệnh viện của chúng tôi, bệnh nhân và kết quả chụp MRI ban đầu được bác sĩ tiết niệu đánh giá và nếu cần thiết, bệnh nhân được chuyển đến cơ sở khác để sinh thiết hợp nhất MR/US. Trước khi thực hiện sinh thiết MR/US, bệnh nhân sẽ trải qua lần chụp mpMRI thứ hai. Vì nhận thấy sự không đồng nhất giữa hai lần chụp mpMRI này trước khi sinh thiết, chúng tôi đã đánh giá hồi tố mức độ đồng ý giữa hai lần chụp mpMRI của hai cơ sở. Trong sáu tháng đầu năm 2015, 292 bệnh nhân đã được giới thiệu đến phòng khám ngoại trú của chúng tôi. Chúng tôi đã chuyển 126 bệnh nhân trong số này đến cơ sở khác để sinh thiết hợp nhất MR/US. Hai lần chụp mpMRI này được thực hiện trong vòng 4 tuần. Chúng tôi phân tích các báo cáo MRI và sơ đồ để xác định số lượng tổn thương và điểm số PIRADS cao nhất theo từng bên tuyến tiền liệt cũng như kết quả mô học của các mẫu sinh thiết. Đồ thị Bland–Altman được sử dụng để so sánh mức độ đồng ý giữa hai lần chụp mpMRI của cùng một bệnh nhân trước khi sinh thiết. Có một mức độ đồng ý kém giữa hai lần chụp mpMRI và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong điểm số PIRADS. Phân tích hồi quy cho thấy không có sự thiên lệch tỷ lệ hay hệ thống nào. Ở những bệnh nhân không được chọn lọc có PSA cao, dường như có sự biến động đáng kể của kết quả mpMRI giữa các cơ sở. Hệ thống chấm điểm PIRADS cần được xác nhận về mặt trang thiết bị MR, các giao thức mpMRI và sự thay đổi giữa các người đọc của các bác sĩ X-quang.