Nội dung được dịch bởi AI, chỉ mang tính chất tham khảo
Chọc sinh thiết thận hướng dẫn bằng siêu âm qua da ở bệnh nhân nhi: so sánh kỹ thuật đồng trục và không đồng trục sử dụng kim sinh thiết lõi 18-gauge
Tóm tắt
Việc chọc sinh thiết thận hướng dẫn bằng siêu âm qua da được thực hiện trên các bệnh nhân nhi nhằm đánh giá bệnh lý tổ chức thận khuếch tán. Khi so sánh với kỹ thuật không đồng trục, kỹ thuật đồng trục có ưu điểm là thu thập nhiều mẫu mô qua một lần chọc bao nang và nút b embol hóa đường chọc. Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh kỹ thuật đồng trục và không đồng trục trong việc chọc sinh thiết thận bản địa dưới sự hướng dẫn của siêu âm ở trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh thận. Chúng tôi đã xác định hồi cứu các bệnh nhân liên tiếp đã thực hiện chọc sinh thiết thận hướng dẫn bởi siêu âm sử dụng kim sinh thiết lõi 18-gauge từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 7 năm 2021 tại một trung tâm thận nhi khoa ba tuyến duy nhất. Các sinh thiết khối u thận khu trú và sinh thiết thận ghép không được đưa vào nghiên cứu. Chúng tôi đã so sánh tổng sản lượng cầu thận, độ phù hợp của mẫu, tỷ lệ biến chứng và thời gian thực hiện giữa nhóm đồng trục và không đồng trục. Có tổng cộng 34 ca sinh thiết thận hướng dẫn bằng siêu âm qua da: 22 ca sử dụng kỹ thuật đồng trục và 12 ca sử dụng kỹ thuật không đồng trục. Tổng sản lượng cầu thận trung vị thu được cao hơn ở nhóm đồng trục (đồng trục=37,9; không đồng trục=22,2; P=0,02). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa độ phù hợp của mẫu (đồng trục=100%; không đồng trục=91,7%; P=0,35). Mặc dù không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ biến chứng tổng thể (đồng trục=13,6%; không đồng trục=41,7%; P=0,09), nhóm đồng trục có tỷ lệ biến chứng chảy máu thấp hơn (đồng trục=4,5%; không đồng trục=41,7%; P=0,01). Một bệnh nhân trong nhóm không đồng trục bị chảy máu sau sinh thiết cần phải xử lý bằng nút mạch. Thời gian thực hiện ngắn hơn ở nhóm đồng trục (đồng trục=26,3 ± 7,0 phút; không đồng trục=51,3 ± 11,5 phút; P<0,001). Sinh thiết thận hướng dẫn bằng siêu âm qua da ở trẻ em sử dụng kỹ thuật đồng trục có tổng sản lượng cầu thận cao hơn đáng kể, thời gian thực hiện ngắn hơn và ít biến chứng chảy máu hơn so với sinh thiết sử dụng kỹ thuật không đồng trục.
Từ khóa
Tài liệu tham khảo
Towbin RB, Baskin K (2015) Pediatric interventional radiology. Cambridge University Press, Cambridge
Sheth RA, Baerlocher MO, Connolly BL et al (2020) Society of Interventional Radiology quality improvement standards on percutaneous needle biopsy in adult and pediatric patients. J Vasc Interv Radiol 31:1840–1848
Furness PN (2000) ACP Best practice no 160. Renal biopsy specimens. J Clin Pathol 53:433–438
Hatfield MK, Beres RA, Sane SS et al (2008) Percutaneous imaging-guided solid organ core needle biopsy: coaxial versus noncoaxial method. AJR Am J Roentgenol 190:413–417
McDonald J, Amirabadi A, Farhat Z et al (2019) Experience with compressed gelfoam plugs in children during liver biopsies and other IR procedures: a retrospective single-center case series. J Vasc Interv Radiol 30:1855–1862
Babaei Jandaghi A, Lebady M, Zamani AA et al (2017) A randomised clinical trial to compare coaxial and noncoaxial techniques in percutaneous core needle biopsy of renal parenchyma. Cardiovasc Intervent Radiol 40:106–111
Uppot RN, Harisinghani MG, Gervais DA (2010) Imaging-guided percutaneous renal biopsy: rationale and approach. AJR Am J Roentgenol 194:1443–1449
Fotiadis N, De Paepe KN, Bonne L et al (2020) Comparison of a coaxial versus non-coaxial liver biopsy technique in an oncological setting: diagnostic yield, complications and seeding risk. Eur Radiol 30:6702–6708
Robbins KA, Keet CA (2015) Intraoperative anaphylaxis likely due to Gelfoam in a pediatric patient undergoing liver biopsy. Ann Allergy Asthma Immunol 114:531–533
Mai J, Yong J, Dixson H et al (2013) Is bigger better? A retrospective analysis of native renal biopsies with 16 gauge versus 18 gauge automatic needles. Nephrol (Carlton) 18:525–530
