Nội dung được dịch bởi AI, chỉ mang tính chất tham khảo
Phác đồ Hóa trị Neoadjuvant Miễn phí, Liều Thấp, Đường Uống trong Ung thư Miệng Giai Đoạn Địa Phương Tiến Triển—Nghiên Cứu Tính Khả Thi
Tóm tắt
Phần lớn bệnh nhân ung thư miệng ở các quốc gia đang phát triển trình diện ở giai đoạn tiến triển, với giai đoạn gần có thể cắt bỏ/không thể cắt bỏ khi đến các trung tâm ung thư tuyến ba có tài nguyên hạn chế. Các phác đồ hóa trị liệu thông thường liên quan đến các vấn đề như độc tính, khả năng dung nạp, chi phí và sự tuân thủ điều trị. Nghiên cứu hiện tại được thực hiện để đánh giá tính khả thi của các lựa chọn hóa trị tại nhà với chi phí thấp. Một nghiên cứu tính khả thi một nhánh đã được tiến hành trên bệnh nhân ung thư miệng giai đoạn gần có thể cắt bỏ/không thể cắt bỏ. Hóa trị neoadjuvant tại nhà bao gồm methotrexate đường uống 15 mg/m2 một lần mỗi tuần và celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày trong 8 tuần đã được sử dụng. Tiêu chí RECIST 1.1 đã được dùng để đánh giá phản ứng với liệu pháp. Nghiên cứu bao gồm 60 bệnh nhân. Độ tuổi trung bình là 51.98 năm với sự vượt trội của nam giới (80%). Năm mươi lăm bệnh nhân tuân thủ điều trị; tỷ lệ tuân thủ đạt 91.60%. Khả năng chi trả (700 Rs mỗi tháng) và khả năng dung nạp liệu pháp là 100%, không có độc tính cấp III hoặc IV được ghi nhận. Tổng cộng, 18 bệnh nhân có bệnh ổn định (32.73%), phản ứng một phần được ghi nhận ở 15 bệnh nhân (27.27%), và bệnh tiến triển ở 22 bệnh nhân (40%). Vào cuối 8 tuần, có 26 (43.3%) bệnh nhân được cho là có thể cắt bỏ. Hóa trị neoadjuvant với chi phí thấp, chiến lược điều trị đều đặn tại nhà bằng methotrexate và celecoxib có vẻ là một lựa chọn khả thi trong việc quản lý ung thư miệng tiến triển ở những cơ sở hạn chế về tài nguyên.
Từ khóa
#ung thư miệng; hóa trị tại nhà; phương pháp chi phí thấp; khả năng dung nạp; nghiên cứu khả thiTài liệu tham khảo
India State-Level Disease Burden Initiative Cancer Collaborators (2018) The burden of cancers and their variations across the states of India: the Global Burden of Disease Study 1990–2016 [published correction appears in Lancet Oncol. 2018 Oct 3]. Lancet Oncol 19(10):1289–1306. https://doi.org/10.1016/S1470-2045(18)30447-9
Pai PS, Vaidya AD, Prabhash K, Banavali SD (2013) Oral metronomic scheduling of anticancer therapy-based treatment compared to existing standard of care in locally advanced oral squamous cell cancers: a matched-pair analysis. Indian J Cancer 50(2):135–141. https://doi.org/10.4103/0019-509X.117024
Scharovsky OG, Mainetti LE, Rozados VR (2009) Metronomic chemotherapy: changing the paradigm that more is better. Curr Oncol 16(2):7–15. https://doi.org/10.3747/co.v16i2.420
Kerbel RS, Kamen BA (2004) The anti-angiogenic basis of metronomic chemotherapy. Nat Rev Cancer 4(6):423–436. https://doi.org/10.1038/nrc1369
Coelho KR (2012) Challenges of the oral cancer burden in India. J Cancer Epidemiol 2012:701932–701917. https://doi.org/10.1155/2012/701932
Goyal G (2016) Knowledge, attitude and practice of chewing gutka, areca nut, snuff and tobacco smoking among the young population in the Northern India Population. Asian Pac J Cancer Prev 17(11):4813–481. Published 2016 Nov 1. https://doi.org/10.22034/APJCP.2016.17.11.4813
Shah S, Dave B, Shah R, Mehta TR, Dave R (2018) Socioeconomic and cultural impact of tobacco in India. J Family Med Prim Care 7(6):1173–1176. https://doi.org/10.4103/jfmpc.jfmpc_36_18
Hashitani S, Urade M, Nishimura N, Maeda T, Takaoka K, Noguchi K, Sakurai K (2003) Apoptosis induction and enhancement of cytotoxicity of anticancer drugs by celecoxib, a selective cyclooxygenase-2 inhibitor, in human head and neck carcinoma cell lines. Int J Oncol 23(3):665–672
Kerr DJ, Midgley R (2010) Can we treat cancer for a dollar a day? Guidelines for low-income countries. N Engl J Med 363(9):801–803. https://doi.org/10.1056/NEJMp1002812
Smith TJ, Hillner BE (2011) Bending the cost curve in cancer care. N Engl J Med 364(21):2060–2065. https://doi.org/10.1056/NEJMsb1013826
Vishak S, Rangarajan B, Kekatpure VD (2015) Neoadjuvant chemotherapy in oral cancers: selecting the right patients. Indian J Med Paediatr Oncol 36(3):148–153. https://doi.org/10.4103/0971-5851.166716
