Tóm tắtGHI NỘI: Việc xử lý nước thải từ nhà máy chưng cất, nước thải axit terephthalic tinh khiết (PTA) và nước glucose tổng hợp đã được thực hiện và các sản phẩm vi sinh hòa tan (SMPs) trong effluent kỵ khí đã được điều tra.
KẾT QUẢ: Phân tích khí sắc ký - khối phổ (GC-MS) cho thấy ngoài các dư lượng phân hủy, các alkane chuỗi dài, ester và axit đã chiếm hầu hết các SMPs có trọng lượng phân tử thấp trong các effluent. Tổng lượng protein và polysaccharide SMPs trong effluent đã tăng từ 50 lên 323 mg L−1 khi tỷ lệ tải hữu cơ (OLR) tăng từ 2.5 lên 10.5 kg m−3 d−1; khi COD đầu vào thay đổi từ 5000 lên 10 000 mg L−1, tổng lượng đã tăng từ 54 lên 98 mg L−1 ở OLR khoảng 5 kg m−3 d−1.
KẾT LUẬN: Kết quả cho thấy rằng SMPs chiếm một tỷ lệ quan trọng trong các hợp chất hữu cơ trong các effluent kỵ khí; các SMPs có trọng lượng phân tử thấp chủ yếu là alkane chuỗi dài, ester và axit. Các SMPs protein và polysaccharide tăng lên khi OLR tăng, trong khi nồng độ đầu vào cao hơn dẫn đến nồng độ SMPs cao hơn tại cùng một OLR. Từ sự biến đổi của SMPs protein và polysaccharide dọc theo chiều cao của các phản ứng kỵ khí, có thể suy ra rằng các methanogen có thể đã đóng góp nhiều hơn vào việc tiêu thụ SMPs. Bản quyền © 2010 Hiệp hội Công nghiệp Hóa học