Nội dung được dịch bởi AI, chỉ mang tính chất tham khảo
Ảnh hưởng của Colloid trong các nghiên cứu độ hòa tan thực nghiệm của Ni trong môi trường nước tự nhiên và tổng hợp
Tóm tắt
Việc ước lượng giá trị hòa tan nickel để đánh giá hiệu suất bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt các giá trị hòa tan đã được xác thực thực nghiệm trong các điều kiện liên quan đến các vị trí lấp chất thải hạt nhân thực tế. Vì lý do này, các nghiên cứu hòa tan nickel thực nghiệm đã được thực hiện trong các điều kiện liên quan đến một vị trí lấp chất thải có thể xảy ra tại Phần Lan, Olkiluoto. Sử dụng nồng độ nickel ban đầu là 10−3 M, độ hòa tan nickel được tiếp cận từ trạng thái bão hòa trong ba môi trường nước – nước ngầm tự nhiên, nước ngầm muối tổng hợp, và nước ngầm điều kiện xi măng có thêm sắt fe và sulfide. Ngoài các giá trị hòa tan nickel, sự liên kết của nickel với các pha hạt và colloidal cũng đã được đo. Gần 100% nickel ban đầu được tìm thấy liên kết với pha hạt đã tách ra trong nước ngầm tự nhiên và nước ngầm điều kiện xi măng, và chỉ trong nước ngầm tự nhiên khoảng 0,04% hoặc 0,4% với phần colloidal đã tách ra, tùy thuộc vào lượng sắt fe và sulfide được thêm vào ban đầu. Trong nước ngầm muối tổng hợp, tất cả nickel được tìm thấy trong phần hòa tan ngoại trừ một phần nhỏ hấp phụ lên thành chai mẫu. Nickel liên kết với colloid không có ảnh hưởng thực tiễn đến các giá trị hòa tan thu được. Hành vi ngược lại của độ hòa tan Ni và sự hấp phụ trong nước ngầm tự nhiên so với hai pha nước khác được nghiên cứu được nghi ngờ là do màu vàng chưa xác định của nước ngầm mà đã có dấu hiệu về cả hai thành phần hữu cơ và vô cơ. Dựa trên các kết quả đo được, sự hiện diện của sulfide và sắt fe sẽ làm giảm lượng nickel di động, cả hòa tan và colloidal, trong nước ngầm tự nhiên không mặn và nước ngầm điều kiện xi măng, trong khi đó trong nước ngầm mặn nickel vẫn ở trong các pha di động.
Từ khóa
#Nickel; Hòa tan; Nước ngầm; Colloid; Nghiên cứu thực nghiệm; Chất thải hạt nhânTài liệu tham khảo
T. Vieno, F. Mészáros, H. Nordman, and V. Taivassalo, Nuclear Waste Commission of Finnish Power Companies, Report YJT-93-27 (1993).
T. Carlsson, U. Vuorinen, T. Kekki, and H. Aalto, this volume.
T. Carlsson, H. Aalto, and U. Vuorinen, Mat. Res. Soc. Symp. Proc. 556, 969–975 (1999).
U. Vuorinen, and M. Snellman, POSIVA OY, Working Report 98-61.
