Chuyên gia X quang hiện diện để đánh giá panscan chấn thương: một chương trình đào tạo mô phỏng chất lượng cao cho cư dân ngành X quang tại trung tâm chấn thương cấp 1 học thuật

Emergency Radiology - Tập 30 - Trang 143-151 - 2022
Allison Y. Yang1, Nishant A. Patel2, Mansoor Khan3, Jill R. Cherry-Bukowiec4, Laura R. Brown5, David A. Machado-Aranda6, Michael B. Mazza7, Suzanne Chong8
1Rocky Vista University College of Osteopathic Medicine, Greenwood Village, USA
2Radiology Imaging Associates, Denver, USA
3Temple University, Jones Hall 707, Temple University Hospital System, Philadelphia, USA
4University of Michigan, Ann Arbor, USA
5University of Illinois College of Medicine, Peoria, USA
6University of California, Los Angeles, Los Angeles, USA
7University of Michigan, UMH Radiology, Ann Arbor, USA
8Indiana University, Indianapolis, USA

Tóm tắt

Các thực tập sinh ngành X quang cảm thấy không thoải mái khi đến máy CT để xem xét các panscan chấn thương và tương tác với các bác sĩ phẫu thuật chấn thương. Nghiên cứu này nhằm xác định xem các cư dân ngành X quang có thể được đào tạo để xác định chính xác các chấn thương cần được phẫu thuật ngay lập tức tại máy CT hay không. Một mô hình mô phỏng độ trung thực cao đã được tạo ra để cung cấp trải nghiệm đào tạo hòa nhập. Trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 4 năm 2017, 62 panscan chấn thương loại 1 đã được 11 cư dân ngành X quang năm thứ 3 (PGY-3) đọc tại máy CT. Các phát hiện được ghi nhận tại máy quét đã được so sánh với báo cáo sơ bộ và báo cáo cuối cùng của các cư dân ngành X quang và tương quan với kết quả lâm sàng. Thời gian ghi lại đã được phân tích. Các bản khảo sát đã được thực hiện để đánh giá tác động của đào tạo đối với sự tự tin của cư dân ngành X quang và để đánh giá sở thích của các bác sĩ phẫu thuật chấn thương về hiện diện của X quang tại máy quét. Mức độ ý nghĩa được thiết lập ở p < 0.05. Thời gian trung bình để cung cấp kết quả tại máy CT là 11.1 phút. Thời gian trung bình cho báo cáo sơ bộ đối với CT đầu và cột sống cổ là 24.4 ± 9.8 phút, và đối với CT ngực, bụng và vùng chậu là 16.3 ± 6.9 phút. 53 phát hiện chấn thương trên 62 panscan đã được xác định tại máy quét và được xác nhận qua các báo cáo sơ bộ và báo cáo cuối cùng, với tỷ lệ đồng thuận 85%, so với 72% cho nhóm đối chứng. Các cư dân ngành X quang đồng ý hoặc rất đồng ý rằng chương trình đào tạo đã chuẩn bị cho họ trong việc báo cáo panscan chấn thương. Các bác sĩ phẫu thuật chấn thương đã chuyển sang ủng hộ sự hiện diện của ngành X quang tại máy quét. Các cư dân ngành X quang có thể được đào tạo để xác định chính xác và nhanh chóng các chấn thương cần được phẫu thuật ngay lập tức tại máy CT. Những phát hiện này hỗ trợ giá trị cộng thêm của một chuyên gia X quang có mặt trực tiếp tại máy CT cho panscan chấn thương toàn thân nhằm tạo điều kiện phát hiện kịp thời các chấn thương đe dọa tính mạng và cải thiện mối quan hệ chuyên môn giữa các bác sĩ X quang và bác sĩ phẫu thuật chấn thương.

Từ khóa

#x quang #panscan chấn thương #đào tạo mô phỏng #bác sĩ phẫu thuật #chấn thương

Tài liệu tham khảo

Centers for Disease Control and Prevention, Injury Prevention and Control: Web-based Injury Statistics Query and Reporting System (WISQARS™). Available at https://www.cdc.gov/injury/wisqars. Accessed 3 Apr, 2017. Chidambaram S, Goh EL, Khan MA (2017) A meta-analysis of the efficacy of whole-body computed tomography imaging in the management of trauma and injury. Injury 48(8):1784–1793 Caputo ND, Stahmer C, Lim G, Shah K (2014) Whole-body computed tomographic scanning leads to better survival as opposed to selective scanning in trauma patients: a systematic review and meta-analysis. J Trauma Acute Care Surg 77(4):534–539 Hsieh S-L, Hsiao C-H, Chiang W-C, Shin SD (2022) Association between the time to definitive care and trauma patient outcomes: every minute in the golden hour matters. Eur J Trauma Emerg Radiol 48(4):2709–2716 Geiss CS, Ip IK, Gupte A et al (2022) Self-reported burnout: comparison of radiologists to non-radiologist peers at a large academic medical center. Acad Radiol 29(2):277–283 Dickerson EC, Hasan AB, Brown RKJ, Stojanovska J, Davenport MS (2016) In-person communication between radiologists and acute care surgeons leads to significant alterations in surgical decision making. J Am Coll Radiol 13(8):943–949 Matalon SA, Souza DAT, Gaviola GC, Silverman SG, Mayo-Smith WM, Lee LK (2022) Trainee and attending perspectives on remote radiology readouts in the era of the COVID-19 pandemic. Acad Radiol 27:1147–1153 Hayes, E. Will the shift to remote reading during COVID-19 be permanent? https://www.auntminnie.com, accessed Sept 7, 2022.