Cố định các chấn thương tâm thần ở mắt cá chân

American Journal of Sports Medicine - Tập 40 Số 12 - Trang 2828-2835 - 2012
Gohar A. Naqvi1, Patricia M. Cunningham2, Bernadette Lynch2, Rose Galvin3, Nasir Awan1
1Department of Trauma and Orthopaedics, Our Lady of Lourdes Hospital, Drogheda, Ireland
2Department of Radiology, Our Lady of Lourdes Hospital, Drogheda, Ireland
3HRB Centre for Primary Care Research, Royal College of Surgeons in Ireland, Dublin, Ireland

Tóm tắt

Trong bối cảnh:

Các chấn thương tâm thần ở mắt cá chân là một tình trạng phức tạp và yêu cầu phải phục hồi giải phẫu và cố định để khôi phục lại sinh lý bình thường của khớp mắt cá chân và ngăn ngừa các biến chứng lâu dài.

Mục đích:

Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh độ chính xác và khả năng duy trì sự phục hồi tâm thần khi sử dụng lưỡi kéo chặt (TightRope) với việc cố định bằng vít tâm thần.

Thiết kế Nghiên cứu:

Nghiên cứu cohorte; Mức độ chứng cứ, 2.

Phương pháp:

Nghiên cứu cohorte này bao gồm những bệnh nhân liên tiếp được điều trị cho các bệnh lý giãn nở tâm thần ở mắt cá chân từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2009. Các máy chụp cắt lớp vi tính (CT) đơn sắc của cả hai mắt cá chân được thực hiện ở mức độ tâm thần, 1 cm ở trên mặt phẳng của xương chày. Việc giãn nở tâm thần hơn 2 mm so với mắt cá chân không điều trị đối diện được coi là giảm sai nghĩa quan trọng. Các kết quả lâm sàng được đo lường bằng cách sử dụng các điểm số của Hiệp hội Chỉnh hình Mỹ cho Bàn chân và Mắt cá chân (AOFAS) và Chỉ số Khuyết tật Bàn chân và Mắt cá chân (FADI).

Kết quả:

Trong số 55 bệnh nhân đủ điều kiện, 46 đã tham gia vào nghiên cứu; 23 bệnh nhân ở nhóm lưỡi kéo chặt và 23 ở nhóm vít tâm thần. Độ tuổi trung bình là 42 tuổi ở nhóm lưỡi kéo chặt và 40 tuổi ở nhóm vít tâm thần, và thời gian theo dõi trung bình là 2,5 năm (từ 1,5 đến 3,5 năm). Chiều rộng trung bình của tâm thần bình thường là 4,03 ± 0,89 mm. Ở nhóm lưỡi kéo chặt, chiều rộng trung bình của tâm thần là 4,37 mm (SD, ±1,12 mm) (P = .30, kiểm tra t) so với 5,16 mm (SD, ±1,92 mm) ở nhóm vít tâm thần (P = .01, kiểm tra t). Năm trong số 23 mắt cá chân (21,7%) ở nhóm vít tâm thần có giảm sai nghĩa tâm thần, trong khi không có mắt cá chân nào ở nhóm lưỡi kéo chặt cho thấy giảm sai nghĩa trên các phim CT (P = .04, kiểm tra chính xác Fisher). Thời gian trung bình đến khi chịu trọng lượng hoàn toàn là 8 tuần ở nhóm lưỡi kéo chặt và 9,1 tuần ở nhóm vít tâm thần. Không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm lưỡi kéo chặt và nhóm vít tâm thần về điểm số AOFAS sau phẫu thuật trung bình (89,56 và 86,52, tương ứng) hoặc điểm số FADI (82,42 và 81,22, tương ứng). Phân tích hồi quy đã xác nhận giảm sai nghĩa tâm thần là biến số độc lập duy nhất ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng (hệ số hồi quy, −12,39; t = −2,43; P = .02).

Kết luận:

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy việc cố định bằng lưỡi kéo chặt cung cấp một phương pháp chính xác hơn cho sự ổn định tâm thần so với cố định bằng vít. Giảm sai nghĩa tâm thần là yếu tố tiên đoán độc lập quan trọng nhất đối với các kết quả lâm sàng; do đó, cần chú ý để giảm tâm thần một cách chính xác.

Từ khóa


Tài liệu tham khảo

Arthrex Inc. Surgical technique. www.ankletightrope.com. Accessed March 26, 2011.

10.1097/01.blo.0000129152.81015.ad

Coetzee JC, 2009, South Afr Orthop J, 8, 32

10.1053/j.jfas.2009.07.013

10.3113/FAI.2008.0773

10.3109/17453679809002355

10.1302/0301-620X.90B4.19750

10.3113/FAI.2011.0250

10.1177/107110079701801103

10.1007/s00256-009-0809-4

10.1177/107110070602701005

10.1097/00005131-200407000-00001

10.1177/107110070602701006

10.1177/107110079701800503

10.1016/j.injury.2011.03.019

10.1016/j.injury.2011.10.002

10.2106/00004623-197658030-00010

10.1097/00005131-199103000-00014

10.1177/107110070002100904

10.1097/01.blo.0000151845.75230.a0

10.1177/107110070302400208

10.1016/S8756-3282(01)00614-7

10.1097/00005131-200502000-00006

10.1097/BOT.0b013e3181bedca1

10.1016/j.injury.2009.05.008