Đánh giá độ chính xác thiết lập cho xạ trị ung thư vú ở tư thế nằm sấp bằng hệ thống hình ảnh bề mặt ba chiều

Journal of the Korean Physical Society - Tập 81 - Trang 1182-1186 - 2022
Young Min Moon1, Jin Kyu Kang2, To Sol Yu1, Wan Jeon1, Chul Won Choi1, Jin Young Kim1, Jin Beom Chung3, Sang Won Kang3, Sung Kwang Park4, Moo Jae Han4, Seung Woo Yang4
1Department of Radiation Oncology, Dongnam Institute of Radiological and Medical Sciences, Busan, Korea
2Department of Radiation Oncology, Inje University Sanggye Paik Hospital, Seoul, Korea
3Department of Radiation Oncology, Seoul National University Bundang Hospital, Seongnam, Korea
4Department of Radiation Oncology, Inje University Busan Paik Hospital, Busan, Korea

Tóm tắt

Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng việc phát hiện các bề mặt cơ thể phẳng (ngực, chậu) bằng hệ thống hình ảnh bề mặt quang học ba chiều (3D–OSIS) kém chính xác hơn so với các bề mặt cong (đầu, cổ). Ở đây, chúng tôi đã đánh giá khả năng áp dụng và hiệu suất kỹ thuật của 3D–OSIS để xạ trị ung thư vú ở tư thế nằm sấp bằng cách sử dụng các đánh dấu cốc silicon. Ba cốc silicon được gắn trên bề mặt lưng của một mô hình nguyên tử nữ. Chúng tôi đã đánh giá khả năng tái lập dữ liệu với các cốc đánh dấu này và so sánh độ chính xác với và không có sự sử dụng của chúng. Đối với thử nghiệm tái lập, chúng tôi đã quét một vật thể 11 lần mỗi 15 giây bằng 3D–OSIS và ghi nhận sự khác biệt. Đối với thử nghiệm độ chính xác, chúng tôi đã định vị mô hình trên bàn và di chuyển nó thủ công theo các hướng X, Y và Z đến các giá trị đã xác định trước. Những giá trị này được so sánh với những giá trị được đo bằng 3D–OSIS. Quá trình này được lặp lại 21 lần và những khác biệt của các giá trị đo được đã được so sánh theo sự hiện diện hay không của các đánh dấu. Trong thử nghiệm tái lập, các biến đổi trung bình cho sự dịch chuyển theo hướng ngang, dọc và thẳng đứng lần lượt là 0.15 ± 0.22 mm, 0.47 ± 0.13 mm và 0.34 ± 0.19 mm. Và độ lệch trung bình dựa trên thử nghiệm độ chính xác cho các dịch chuyển được áp dụng thủ công và đo được trong các hướng ngang, dọc và thẳng đứng lần lượt là (a) 0.23 ± 0.1 mm, 0.044 ± 0.39 mm và 0.18 ± 0.1 mm khi có sử dụng các đánh dấu, và (b) 0.44 ± 0.33 mm, 0.97 ± 0.55 mm và 0.63 ± 0.55 mm khi không có đánh dấu. Việc sử dụng các cốc silicon đã mang lại kết quả rất chính xác trong 3D–OSIS. Việc sử dụng 3D–OSIS và cốc silicon có tiềm năng trong việc đạt được thiết lập bệnh nhân chính xác và giảm tần suất CBCT trong xạ trị ung thư vú ở tư thế nằm sấp.

Từ khóa

#3D–OSIS #xạ trị ung thư vú #cốc silicon #độ chính xác #thiết lập bệnh nhân

Tài liệu tham khảo

L.A. Dawson, M.B. Sharpe, Lancet Oncol. 7, 848 (2006) U. Schneider et al., Radiat. Oncol. 10, 188 (2015) A. Amer et al., Br. J. Radiol. 80, 476 (2007) C. Gaisberger et al., Strahlenther. Onkol. 189, 887 (2013) M. Krengli et al., Radiat Oncol. 4, 9 (2009) F. Stieler et al., Strahlenther. Onkol. 189, 938 (2013) F. Walter et al., Radiat. Oncol. 11, 154 (2016) D. Djajaputra, S. Li, Med Phys. 32, 65 (2005) D. Shin et al., Prog. Med. Phys. 24, 191 (2013) M.F. Spadea et al., Radiother. Oncol. 79, 170 (2006) F. Stieler et al., Strahlenther. Onkol. 188, 1080 (2012) K. Wikström et al., Acta Oncol. 53, 268 (2014) T. Moser et al., Int. J. Radiat. Oncol. Biol. Phys. 85, 846 (2013) S. Pallotta et al., Med. Phys. 39, 706 (2012) T. Alderliesten et al., Int. J. Radiat. Oncol. Biol. Phys. 85, 536 (2013) P. Freislederer et al., Radiat. Oncol. 10, 68 (2015) S. Schönecker et al., Radiat. Oncol. 11, 143 (2016) K. Sung et al., Radiat. Oncol. 32, 84 (2014)