Tác động của việc giảm cân do phẫu thuật lên các chỉ số bạch cầu của tình trạng viêm mãn tính ở người béo phì bệnh lý

Springer Science and Business Media LLC - Tập 12 - Trang 335-342 - 2002
D R Cottam, P A Schaefer, G W Shaftan, L Velcu, L D George Angus

Tóm tắt

Bối cảnh: Chứng cứ gần đây cho thấy béo phì bệnh lý là một tình trạng viêm mãn tính có thể liên quan đến rối loạn miễn dịch. Để kiểm tra giả thuyết này, chúng tôi đã điều tra một số dấu hiệu bạch cầu bề mặt của viêm mãn tính và theo dõi phản ứng của chúng với việc giảm cân do phẫu thuật. Phương pháp: 26 bệnh nhân thực hiện phẫu thuật nối dạ dày Roux-en-Y (RYGBP) do béo phì bệnh lý (BMI > 40) đã được so sánh với 10 đối chứng bình thường (BMI < 25). Tần suất tương đối của bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính, cũng như biểu hiện của các kháng nguyên kích hoạt CD11b (phân tử bám dính), CD16 (thụ thể Fc) và CD62L (L-selectin), đã được đánh giá bằng phương pháp phân tích tế bào dòng trước phẫu thuật và sau đó 1, 3, 6 và 12 tháng sau RYGBP. Các trường hợp được xem như là đối chứng tự thân nhưng cũng được so sánh với các đối chứng không béo phì. Kết quả được phân tích thống kê bằng phép thử t của Student và ANOVA cho các giá trị tham số và Mann-Whitney kết hợp với ANOVA Kruskal-Wallis cho các giá trị phi tham số. Kết quả: Nhóm đối chứng có độ tuổi trung bình 37 ± 7.6 với BMI trung bình 23 ± 2.5 và không có bệnh lý đi kèm. Độ tuổi trung bình của nhóm mẫu là 40.36 ± 13.7 với BMI trung bình 52 ± 8.2. Tần suất tương đối bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân của CD11b (bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính), và CD16 (chỉ bạch cầu trung tính) tương đương với các đối chứng ở cơ sở và không thay đổi đáng kể với việc giảm cân trong suốt thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, có sự giảm đáng kể của biểu hiện CD62L (L-selectin) ở bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính ở cơ sở (bạch cầu trung tính 103 so với 240 gmf, p<0.001) (bạch cầu đơn nhân 104 so với 246 gmf, P<0.001) so với các đối chứng bình thường. Mức độ của L-selectin đã trở lại bình thường sau 6 tháng ở cả bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính, và sau 12 tháng đã tăng bất thường ở bạch cầu đơn nhân (bạch cầu đơn nhân 391 gmf, P=0.007); ở bạch cầu trung tính, có xu hướng tăng nhưng không đạt ý nghĩa thống kê. Biểu hiện của thụ thể LPS CD14 trong nhóm nghiên cứu được nâng cao đáng kể so với các đối chứng ở cơ sở (1129 so với 719 gmf, P=0.004); dấu hiệu này có vẻ trở về bình thường sau 3 tháng. Tỷ lệ phần trăm các nhóm con CD14+/CD16+ của bạch cầu đơn nhân cũng được nâng cao đáng kể ở cơ sở (14.3% so với 5.25%, P <0.001), giảm trong suốt thời gian nhưng vẫn còn đáng kể sau 1 năm (8.8%, P<0.001). Tỷ lệ eosinophil đã tăng cao ở cơ sở (3.3% ở người béo phì so với 1.8% ở đối chứng, P=0.003) và vẫn duy trì tình trạng này trong suốt thời gian nghiên cứu. Kết luận: Những thiếu hụt trong hệ thống miễn dịch của những người béo phì bệnh lý bao gồm mức độ eosinophil, CD14 bạch cầu đơn nhân và các nhóm con CD14+/CD16+ của bạch cầu đơn nhân cao, cùng với sự suy giảm CD62L ở bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính. Các giá trị bất thường này phục hồi nhanh chóng với việc giảm cân do phẫu thuật. RYGBP không chỉ là một phẫu thuật giảm cân mà còn dường như là một quy trình phục hồi miễn dịch.

Từ khóa