Shintaro Narita1,2, Shingo Hatakeyama3,2, Masahiro Takahashi4,2, Toshihiko Sakurai5,2, Sadafumi Kawamura6,2, Senji Hoshi7,2, Masanori Ishida8,2, Toshiaki Kawaguchi9,2, Shigeto Ishidoya10,2, Jiro Shimoda8,2, Hiromi Sato1, Atsushi Koizumi1, Koji Mitsuzuka4,2, Tatsuo Tochigi6,2, Norihiko Tsuchiya5,2, Chikara Ohyama3,2, Yoichi Arai4,2, Kyoko Nomura11, Tomonori Habuchi1,2
1Department of Urology, Akita University School of Medicine, Akita, Japan
2Michinoku Japan Urological Cancer Study Group (MJUCSG), Sendai, Japan
3Department of Urology, Hirosaki University School of Medicine, Hirosaki, Japan
4Department of Urology, Tohoku University School of Medicine, Sendai, Japan
5Department of Urology, Yamagata University School of Medicine, Yamagata, Japan
6Department of Urology, Miyagi Cancer Center, Natori, Japan
7Department of Urology, Yamagata Prefectural Central Hospital, Yamagata, Japan
8Department of Urology, Iwate Prefectural Isawa Hospital, Oshu, Japan
9Department of Urology, Aomori Prefectural Central Hospital, Aomori, Japan
10Department of Urology, Sendai City Hospital, Sendai, Japan
11Department of Public Health, Akita University School of Medicine, Akita, Japan
Tóm tắt
Kết quả lâm sàng của bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư tiền liệt tuyến di căn hormone-naïve (mHNPC) mới và được điều trị ban đầu bằng liệu pháp kháng androgen (ADT) đã được đánh giá. Hồ sơ y tế của 605 bệnh nhân mHNPC liên tiếp với ADT ban đầu hoặc điều trị kết hợp kháng androgen (CAB) tại chín trung tâm nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2016 đã được xem xét hồi cứu. Thời gian sống không tiến triển thành ung thư tiền liệt tuyến kháng castration (CRPC) và thời gian sống toàn bộ (OS) được ước tính bằng phương pháp Kaplan–Meier. Mối liên quan của các yếu tố rủi ro trước điều trị với thời gian sống không tiến triển thành CRPC và OS được đánh giá bằng các mô hình nguy cơ tỷ lệ Cox và sự khác biệt trong thời gian sống được phân loại theo số lượng yếu tố rủi ro. Thời gian theo dõi trung vị là 2.95 năm, thời gian sống không tiến triển thành CRPC trung vị là 21.9 tháng và thời gian sống toàn bộ trung vị là 5.37 năm. Phân tích đa biến cho thấy bốn yếu tố rủi ro, điểm Gleason ≥ 9, di căn hạch lympho, điểm mức độ bệnh ≥ 2, và LDH huyết thanh > 220 IU có liên quan độc lập với cả thời gian sống không tiến triển thành CRPC và OS. Thời gian sống không tiến triển thành CRPC trung vị của bệnh nhân nguy cơ thấp không có hoặc có một yếu tố là 86.5 tháng, 17.9 tháng ở bệnh nhân nguy cơ trung bình với hai hoặc ba yếu tố, và 11.0 tháng ở bệnh nhân nguy cơ cao với bốn yếu tố. Thời gian sống toàn bộ trung vị là 4.72 năm ở bệnh nhân nguy cơ trung bình và 2.44 năm ở bệnh nhân nguy cơ cao. Thời gian sống không đạt ở bệnh nhân nguy cơ thấp. Trong chuỗi này, thời gian sống không tiến triển thành CRPC và OS của một nhóm bệnh nhân mHNPC ở Nhật Bản được điều trị bằng ADT hoặc CAB có kết quả tốt hơn về thời gian sống không tiến triển và thời gian sống toàn bộ tại Nhật Bản. Việc điều trị dựa trên yếu tố tiên lượng mới có thể có lợi cho các bệnh nhân mHNPC được chọn lựa.