Nghiên cứu tương ứng với điểm số propensity để đánh giá mối liên hệ giữa thu hồi hạch bạch huyết với tỷ lệ sống còn lâu dài ở bệnh nhân ung thư thực quản

Annals of Surgical Oncology - Tập 28 - Trang 133-141 - 2020
Leonie R. van der Werf1,2, Elske Marra2, Suzanne S. Gisbertz3, Bas P. L. Wijnhoven1, Mark I. van Berge Henegouwen3
1Department of Surgery, Erasmus University Medical Center, Rotterdam, The Netherlands
2Scientific Bureau, Dutch Institute for Clinical Auditing, Leiden, The Netherlands
3Department of Surgery, Amsterdam University Medical Centers, University of Amsterdam, Amsterdam, The Netherlands

Tóm tắt

Các nghiên cứu trước đây đánh giá mối liên hệ giữa số lượng hạch bạch huyết (LN) và tỷ lệ sống còn đã đưa ra những kết quả mâu thuẫn và nhiều nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây rối và di chuyển giai đoạn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá liệu chỉ số chất lượng ‘thu hồi ít nhất 15 hạch bạch huyết’ có liên quan đến tỷ lệ sống còn lâu dài tốt hơn và phân loại bệnh lý chính xác hơn ở bệnh nhân ung thư thực quản được điều trị bằng hóa xạ trị neoadjuvant và phẫu thuật cắt. Dữ liệu của bệnh nhân ung thư thực quản đã trải qua hóa xạ trị neoadjuvant và phẫu thuật từ năm 2011 đến 2016 được lấy từ Cuộc kiểm toán ung thư tiêu hóa trên ở Hà Lan. Bệnh nhân có <15 và ≥15 hạch bạch huyết được so sánh sau khi ghép cặp theo điểm số propensity dựa trên đặc điểm bệnh nhân và khối u. Điểm cuối chính là tỷ lệ sống còn 3 năm. Để đánh giá tác động của số lượng hạch bạch huyết đến độ chính xác của phân loại bệnh lý, giai đoạn N bệnh lý đã được xem xét và tỷ lệ sống còn 3 năm đã được phân tích trong một nhóm con bệnh nhân có bệnh không có hạch. Trong 2260 trong số 3281 bệnh nhân (67%) đã thu hồi ≥15 hạch bạch huyết. Tổng cộng, 992 bệnh nhân có ≥15 hạch bạch huyết được ghép cặp với 992 bệnh nhân có <15 hạch bạch huyết. Tỷ lệ sống còn 3 năm không khác nhau giữa hai nhóm (57% so với 54%; p=0.28). pN+ được ghi nhận ở 41% bệnh nhân có ≥15 hạch bạch huyết so với 35% bệnh nhân có <15 hạch bạch huyết. Đối với bệnh nhân không có hạch, tỷ lệ sống còn 3 năm cao hơn đáng kể ở bệnh nhân có ≥15 hạch bạch huyết (69% so với 61%, p=0.01). Trong nhóm bệnh nhân được ghép cặp theo điểm số propensity này, tỷ lệ sống còn 3 năm tương đương cho bệnh nhân có ≥15 hạch bạch huyết, mặc dù việc tăng số lượng hạch bạch huyết liên quan đến việc phân loại chính xác hơn. Ở bệnh nhân không có hạch, tỷ lệ sống còn 3 năm cao hơn cho bệnh nhân có ≥15 hạch bạch huyết.

Từ khóa

#ung thư thực quản #hạch bạch huyết #tỷ lệ sống còn lâu dài #phân loại bệnh lý #hóa xạ trị neoadjuvant

Tài liệu tham khảo

Busweiler LA, Wijnhoven BP, van Berge Henegouwen MI, et al. Early outcomes from the Dutch Upper Gastrointestinal Cancer Audit. Br J Surg 2016; 103: 1855–1863. van der Werf LR, Dikken JL, van Berge Henegouwen MI, et al. A Population-based Study on Lymph Node Retrieval in Patients with Esophageal Cancer: Results from the Dutch Upper Gastrointestinal Cancer Audit. Ann Surg Oncol 2018; 25: 1211–1220. Herrera LJ. Extent of Lymphadenectomy in Esophageal Cancer: How Many Lymph Nodes Is Enough? Ann Surg Oncol 2010; 17: 676–678. Vektis. 2018. Available at: https://www.vektis.nl/over-vektis. statistiek Cbv. Onverzekerden tegen ziektekosten; GGD regio 2006-2010. 2012. Available at: https://opendata.cbs.nl/statline/#/CBS/nl/dataset/71431ned/table?ts=1533116782288. van der Werf LR, Wijnhoven BP, Fransen LFC, et al. A national cohort study evaluating the association between short-term outcomes and long-term survival after esophageal and gastric cancer surgery Annals of Surgery 2019;270(5):868–876. Hulscher JB, van Sandick JW, de Boer AG et al. Extended transthoracic resection compared with limited transhiatal resection for adenocarcinoma of the esophagus. N Engl J Med 2002; 347: 1662–1669. Visser E, Markar SR, Ruurda JP et al. Prognostic Value of Lymph Node Yield on Overall Survival in Esophageal Cancer Patients: A Systematic Review and Meta-analysis. Ann Surg 2019; 269: 261–268. Ho HJ, Chen HS, Hung WH et al. Survival Impact of Total Resected Lymph Nodes in Esophageal Cancer Patients With and Without Neoadjuvant Chemoradiation. Ann Surg Oncol 2018; 25: 3820–3832. van der Werf LR, Dikken JL, van Berge Henegouwen MI et al. A Population-based Study on Lymph Node Retrieval in Patients with Esophageal Cancer: Results from the Dutch Upper Gastrointestinal Cancer Audit. Ann Surg Oncol 2018;25(5):1211–1220. Dutch Institute for Clinical Auditing. Annual report: Dutch Upper gastrointestinal Cancer Audit. Dutch Institute for Clinical Auditing; 2017. Available at: https://dica.nl/jaarrapportage-2017/duca. Jiang C, Chen Y, Zhu Y, Xu Y. Systematic review and meta-analysis of the accuracy of 18F-FDG PET/CT for detection of regional lymph node metastasis in esophageal squamous cell carcinoma. J Thorac Dis 2018; 10: 6066–6076. Eyck BM, Onstenk BD, Noordman BJ, Nieboer D, Spaander MCW, Valkema R, et al. Accuracy of detecting residual disease after neoadjuvant chemoradiotherapy for esophageal cancer: a systematic review and meta-analysis. Ann Surg 2020;271(2):245–256. Yuasa Y, Seike J, Yoshida T et al. Sentinel lymph node biopsy using intraoperative indocyanine green fluorescence imaging navigated with preoperative CT lymphography for superficial esophageal cancer. Ann Surg Oncol 2012; 19: 486-493. Hagens ERC, van Berge Henegouwen MI, van Sandick JW, Cuesta MA, van der Peet DL, Heisterkamp J, et al. Distribution of lymph node metastases in esophageal carcinoma [TIGER study]: study protocol of a multinational observational study. BMC Cancer. 2019;19(1):662.