[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_tr%E1%BB%8Dng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20b%C3%ACnh%20th%C6%B0%E1%BB%9Dng{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_tr%E1%BB%8Dng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20b%C3%ACnh%20th%C6%B0%E1%BB%9Dng":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":72,"createUser":85,"publishUser":89,"keywords":90,"keywordCount":86,"enrichTopicLink":91,"status":92,"createTime":93,"updateTime":94,"publishTime":95,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":96,"wikidataId":10,"relateTopics":97},"trọng lượng bình thường","Trọng lượng bình thường (normal weight) là gì?","Trọng lượng bình thường là phân loại thể trạng tối ưu theo chỉ số khối cơ thể (BMI), giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường và tử vong.","\u003Cp>\u003Cstrong>Trọng lượng bình thường\u003C\u002Fstrong> (tiếng Anh: \u003Cem>normal weight\u003C\u002Fem>, hay còn gọi là \u003Cem>thể trọng bình thường\u003C\u002Fem> hoặc \u003Cem>cân nặng bình thường\u003C\u002Fem>) là khoảng phân loại nhân trắc học chỉ trạng thái khối lượng cơ thể của một cá nhân nằm trong phạm vi tham chiếu tối ưu theo chiều cao, được xác định là có liên quan đến nguy cơ bệnh tật và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở mức thấp nhất trong quần thể dân số chung. Trong y học lâm sàng, dịch tễ học và dinh dưỡng học, tình trạng này chủ yếu được lượng hóa thông qua chỉ số khối cơ thể (\u003Cem>body mass index\u003C\u002Fem>, BMI) kết hợp với các chỉ số phân bố mỡ như chu vi vòng bụng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất khoa học và lịch sử hình thành\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Khái niệm trọng lượng bình thường phản ánh sự cân bằng tối ưu giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao, cho phép duy trì các chức năng sinh lý bình thường mà không gây ra tình trạng tích lũy mỡ thừa bệnh lý hoặc thiếu hụt năng lượng dự trữ. Việc chuẩn hóa và định lượng thể trọng đã trải qua quá trình phát triển lâu dài từ các công thức nhân trắc học đơn giản đến các mô hình dịch tễ học phức tạp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nền tảng của việc đánh giá thể trọng dựa trên tỷ lệ giữa cân nặng và chiều cao xuất phát từ các nghiên cứu nhân trắc của học giả người Bỉ Adolphe Quetelet vào thế kỷ XIX. Đến năm 1972, nhà sinh lý học Ancel Keys cùng các cộng sự đã công bố công trình nghiên cứu quy mô lớn trên 7 426 nam giới khỏe mạnh từ 12 quần thể thuộc 5 quốc gia. Công trình này so sánh nhiều chỉ số tương đối về thể trọng và đi đến kết luận rằng tỷ số giữa cân nặng tính bằng kilôgam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét có tương quan chặt chẽ nhất với độ dày nếp gấp da và tỷ lệ mỡ cơ thể, với hệ số tương quan dao động từ 0,7 đến 0,8, trong khi hầu như không phụ thuộc vào chiều cao. Nhóm nghiên cứu của Ancel Keys vào năm 1972 đã chính thức đặt tên cho tỷ số này là \u003Cem>Body Mass Index\u003C\u002Fem> (chỉ số khối cơ thể, viết tắt là BMI).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt toán học, chỉ số khối cơ thể được biểu diễn thông qua công thức:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\text{BMI} = \\frac{W}{H^2}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong công thức trên, đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">W\u003C\u002Fscript> biểu thị khối lượng cơ thể đo bằng kilôgam, và đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H\u003C\u002Fscript> biểu thị chiều cao của cá nhân đo bằng mét. Đơn vị của chỉ số khối cơ thể là kilôgam trên mét vuông (kg\u002Fm²).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bên cạnh công thức tính chỉ số khối cơ thể, trong thực hành dinh dưỡng và lâm sàng, việc ước tính mức cân nặng tối ưu cho một chiều cao nhất định cũng được quy định cụ thể. Theo tài liệu chuyên môn ban hành kèm theo Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT ngày 22\u002F10\u002F2022 của Bộ Y tế, cân nặng lý tưởng của một người trưởng thành có thể được ước tính nhanh theo công thức:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">W_{\\text{lt}} = H^2 \\times 22\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó, đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">W_{\\text{lt}}\u003C\u002Fscript> là cân nặng lý tưởng tính bằng kilôgam, đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H\u003C\u002Fscript> là chiều cao của cá nhân tính bằng mét, và số 22 là hệ số tương ứng với mức chỉ số khối cơ thể tối ưu ở người trưởng thành.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tiêu chuẩn phân loại và ngưỡng xác định\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Tiêu chuẩn xác định trọng lượng bình thường có sự khác biệt rõ rệt giữa quần thể người da trắng phương Tây và quần thể người châu Á. Sự khác biệt này bắt nguồn từ các nghiên cứu nhân trắc học cho thấy với cùng một mức chỉ số khối cơ thể, người châu Á thường có tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể cao hơn và xu hướng tích lũy mỡ nội tạng lớn hơn so với người gốc Âu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Khuyến cáo quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Năm 2004, nhóm tham vấn chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố báo cáo trên tạp chí \u003Cem>The Lancet\u003C\u002Fem> về chỉ số khối cơ thể thích hợp cho quần thể người châu Á. Báo cáo xác định lại rằng thang phân loại quốc tế của WHO giữ nguyên phạm vi trọng lượng bình thường là từ 18,5 đến 24,9 kg\u002Fm². Các ngưỡng dưới 18,5 kg\u002Fm² được xếp vào nhóm thiếu cân, từ 25 kg\u002Fm² trở lên là thừa cân, và từ 30 kg\u002Fm² trở lên là béo phì.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Tuy nhiên, các bằng chứng dịch tễ học được tổng hợp trong báo cáo của WHO năm 2004 chỉ ra rằng ở nhiều quần thể châu Á, nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch đã gia tăng đáng kể ngay từ ngưỡng 23 kg\u002Fm². Nhóm chuyên gia ghi nhận điểm cắt gia tăng nguy cơ ở người châu Á dao động từ 22 đến 25 kg\u002Fm², và điểm cắt nguy cơ cao dao động từ 26 đến 31 kg\u002Fm². Trên cơ sở đó, WHO khuyến nghị các điểm cắt can thiệp sức khỏe cộng đồng cho người châu Á gồm 23 kg\u002Fm² và 27,5 kg\u002Fm², đồng thời thừa nhận khoảng từ 18,5 đến 22,9 kg\u002Fm² là khoảng thể trọng bình thường tối ưu cho nhiều quốc gia trong khu vực.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Quy định chuyên môn của Bộ Y tế Việt Nam\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Tại Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm thể chất của người dân trong nước và các bằng chứng khoa học khu vực, Bộ Y tế đã chính thức chuẩn hóa tiêu chuẩn đánh giá thể trọng. Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì ban hành kèm theo Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT ngày 22\u002F10\u002F2022, phân loại tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành châu Á được áp dụng thống nhất tại các cơ sở y tế trên toàn quốc.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bảng đối chiếu dưới đây thể hiện sự khác biệt giữa chuẩn quốc tế của WHO và tiêu chuẩn áp dụng cho người trưởng thành châu Á theo Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT của Bộ Y tế năm 2022:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Phân loại thể trạng\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Chuẩn quốc tế WHO (kg\u002Fm²)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Chuẩn Bộ Y tế Việt Nam \u002F Châu Á (kg\u002Fm²)\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Thiếu cân\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dưới 18,5\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dưới 18,5\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Trọng lượng bình thường\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 18,5 đến 24,9\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 18,5 đến 22,9\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Thừa cân\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 25 đến 29,9\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 23 đến 24,9\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Béo phì độ I\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 30 đến 34,9\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 25 đến 29,9\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Béo phì độ II\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 35 đến 39,9\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 30 đến 34,9\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Béo phì độ III\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 40 trở lên\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Từ 35 trở lên\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Theo Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT của Bộ Y tế, ngoài chỉ số khối cơ thể, việc đánh giá sự phân bố mô mỡ đóng vai trò then chốt trong xác định nguy cơ chuyển hóa. Ngưỡng chu vi vòng bụng bình thường ở người châu Á được xác định là dưới 90 cm ở nam giới và dưới 80 cm ở nữ giới. Khi chu vi vòng bụng từ 90 cm trở lên ở nam hoặc từ 80 cm trở lên ở nữ, cá nhân được xác định có tình trạng béo phì trung tâm và đối mặt với nguy cơ bệnh lý tim mạch, đái tháo đường tăng cao bất kể chỉ số khối cơ thể có nằm trong giới hạn bình thường hay không.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa dịch tễ học và tương quan tỷ lệ tử vong\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mối quan hệ giữa thể trọng và tuổi thọ đã được làm sáng tỏ thông qua các nghiên cứu dịch tễ học tiến cứu quy mô lớn. Năm 2016, nhóm hợp tác quốc tế Global BMI Mortality Collaboration đã công bố trên tạp chí \u003Cem>The Lancet\u003C\u002Fem> một phân tích gộp dữ liệu cá nhân từ 239 nghiên cứu tiến cứu tại 4 châu lục, bao gồm 10 625 411 người tham gia.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để loại trừ các yếu tố gây nhiễu nghiêm trọng như tình trạng sụt cân do bệnh mạn tính tiềm ẩn hoặc thói quen hút thuốc lá, phân tích chính của nghiên cứu năm 2016 tập trung vào nhóm những người chưa từng hút thuốc và không mắc bệnh mạn tính trước thời điểm bắt đầu theo dõi. Kết quả cho thấy đường cong biểu diễn mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân có dạng chữ U hoặc chữ J:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân đạt mức thấp nhất ở khoảng chỉ số khối cơ thể từ 20,0 đến 25,0 kg\u002Fm².\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Khi chỉ số khối cơ thể giảm xuống dưới mức 20,0 kg\u002Fm², tỷ lệ tử vong bắt đầu tăng lên, phản ánh nguy cơ liên quan đến suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch và các bệnh lý suy mòn.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Khi chỉ số khối cơ thể vượt quá 25,0 kg\u002Fm², nguy cơ tử vong tăng dần theo mức độ tăng của thể trọng. Nghiên cứu của Di Angelantonio và cộng sự năm 2016 xác định rằng mỗi mức tăng 5 kg\u002Fm² của chỉ số khối cơ thể trên ngưỡng 25,0 kg\u002Fm² làm tăng 31% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, với tỷ số nguy cơ (\u003Cem>hazard ratio\u003C\u002Fem>, HR) là 1,31 và khoảng tin cậy 95% từ 1,29 đến 1,33.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Các dữ liệu từ nghiên cứu của Di Angelantonio và cộng sự năm 2016 cung cấp cơ sở khoa học vững chắc khẳng định việc duy trì thể trọng trong khoảng bình thường đem lại lợi ích bảo vệ sức khỏe toàn diện và kéo dài tuổi thọ trong cộng đồng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các thực thể bệnh lý đặc thù ở người có thể trọng bình thường\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mặc dù việc nằm trong khoảng trọng lượng bình thường theo chỉ số khối cơ thể thường gắn liền với trạng thái sức khỏe tốt, các tiến bộ trong y học chuyển hóa và chẩn đoán hình ảnh đã chứng minh rằng chỉ số BMI đơn thuần không thể loại trừ hoàn toàn các rối loạn chuyển hóa nguy hiểm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Béo phì thể trọng bình thường\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Một thực thể lâm sàng ngày càng được quan tâm là tình trạng béo phì thể trọng bình thường (\u003Cem>Normal Weight Obesity\u003C\u002Fem>, viết tắt là NWO). Khái niệm này chỉ những cá nhân có chỉ số khối cơ thể hoàn toàn nằm trong giới hạn bình thường nhưng lại sở hữu tỷ lệ phần trăm mô mỡ trong cơ thể ở mức cao bệnh lý, kèm theo khối lượng cơ xương suy giảm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu của Romero-Corral và cộng sự năm 2009 được công bố trên tạp chí \u003Cem>European Heart Journal\u003C\u002Fem> đã theo dõi 6 171 người trưởng thành từ khảo sát NHANES III trong thời gian trung bình 8,8 năm. Nhóm nghiên cứu định nghĩa béo phì thể trọng bình thường là tình trạng có chỉ số khối cơ thể từ 18,5 đến 24,9 kg\u002Fm² nhưng tỷ lệ mỡ cơ thể vượt quá 23,1% ở nam giới và vượt quá 33,3% ở nữ giới khi đo bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA) hoặc trở kháng điện sinh học.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Kết quả nghiên cứu của Romero-Corral và cộng sự năm 2009 cho thấy những người mắc hội chứng béo phì thể trọng bình thường có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp gần 4 lần so với những người có thể trọng bình thường và lượng mỡ bình thường, với tỷ lệ 16,6% so với 4,8%. Đặc biệt ở nữ giới, tình trạng này làm tăng 2,2 lần nguy cơ tử vong do bệnh lý tim mạch, với tỷ số nguy cơ (HR) là 2,20 và khoảng tin cậy 95% dao động từ 1,03 đến 4,67.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Bệnh gan nhiễm mỡ ở người có thể trọng bình thường\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Trước đây, bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa thường được biết đến với danh pháp bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (\u003Cem>non-alcoholic fatty liver disease\u003C\u002Fem>, NAFLD). Vào năm 2023, theo đồng thuận quốc tế Delphi giữa các hiệp hội nghiên cứu gan mật lớn do Mary E. Rinella và cộng sự công bố trên tạp chí \u003Cem>Hepatology\u003C\u002Fem>, danh pháp này đã chính thức được chuyển đổi thành bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (\u003Cem>metabolic dysfunction-associated steatotic liver disease\u003C\u002Fem>, MASLD), và viêm gan thoái hóa mỡ (NASH) được đổi thành MASH nhằm phản ánh chính xác bản chất cơ chế bệnh sinh. Bệnh lý này từng được xem là gắn liền với tình trạng thừa cân hoặc béo phì; tuy nhiên, các bằng chứng y học đã ghi nhận sự xuất hiện phổ biến của bệnh lý này ở cả những người có thể trạng bình thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong bài tổng quan công bố năm 2022 trên tạp chí \u003Cem>Diabetology &amp; Metabolic Syndrome\u003C\u002Fem>, Johanna K. DiStefano và Glenn S. Gerhard chỉ ra rằng tỷ lệ lưu hành của bệnh gan nhiễm mỡ ở những người có thể trọng bình thường dao động từ 5% đến 34% trong các nghiên cứu riêng lẻ, với tỷ lệ gộp ước tính khoảng 10,6% (khoảng tin cậy 95% từ 7,8% đến 14,1%) theo phân tích gộp năm 2020 của Ye và cộng sự được trích dẫn trong bài tổng quan. Tác giả DiStefano và Gerhard năm 2022 nhấn mạnh rằng những bệnh nhân có thể trạng bình thường khi mắc gan nhiễm mỡ vẫn đối mặt với nguy cơ tiến triển thành viêm gan thoái hóa mỡ, xơ hóa gan và xơ gan không bù trừ tương đương với nhóm bệnh nhân béo phì.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đáng lo ngại hơn, do sở hữu thể trọng trong ngưỡng bình thường và không có các biểu hiện thừa cân bên ngoài, nhóm bệnh nhân này thường bị bỏ sót trong các chương trình sàng lọc định kỳ, dẫn đến việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn khi các tổn thương nhu mô gan đã tiến triển nặng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Người có thể trọng bình thường nhưng rối loạn chuyển hóa\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Hiện tượng người có thể trọng bình thường nhưng rối loạn chuyển hóa (\u003Cem>Metabolically Unhealthy Normal Weight\u003C\u002Fem>, MUNW) được định nghĩa là tình trạng cá nhân có chỉ số khối cơ thể bình thường nhưng xuất hiện từ hai tiêu chuẩn trở lên của hội chứng chuyển hóa, bao gồm tăng huyết áp, tăng nồng độ triglyceride máu, giảm nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C), hoặc rối loạn dung nạp glucose lúc đói.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bảng dưới đây tóm tắt các đặc điểm lâm sàng và sinh hóa phân biệt giữa thể trạng bình thường khỏe mạnh chuyển hóa và các biến thể bệnh lý ở người có thể trọng bình thường:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Đặc điểm đánh giá\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Thể trạng bình thường khỏe mạnh\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Béo phì thể trọng bình thường\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Gan nhiễm mỡ thể trạng bình thường\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Chỉ số khối cơ thể (BMI)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Trong giới hạn chuẩn\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Trong giới hạn chuẩn\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Trong giới hạn chuẩn\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bình thường\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tăng cao bất thường\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Có thể tăng hoặc bình thường\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Khối lượng cơ xương\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Được duy trì đầy đủ\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Thường suy giảm\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bình thường hoặc suy giảm nhẹ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Mỡ nội tạng và mỡ gan\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Mức độ tối thiểu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tích lũy mỡ nội tạng cao\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tích lũy tế bào mỡ tại nhu mô gan\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Độ nhạy insulin\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bảo tồn tốt\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Kháng insulin tiến triển\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Kháng insulin tại gan và ngoại vi\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Nguy cơ tim mạch và tử vong\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Mức nền thấp nhất\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Gia tăng đáng kể\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Gia tăng nguy cơ tim mạch và xơ gan\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Nghịch lý béo phì trong bối cảnh lâm sàng mạn tính\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Trong nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, các nhà khoa học đã ghi nhận một hiện tượng dịch tễ học đặc biệt được gọi là nghịch lý béo phì (\u003Cem>obesity paradox\u003C\u002Fem>). Hiện tượng này mô tả việc ở một số nhóm bệnh nhân mắc bệnh lý mạn tính nặng như suy tim mạn tính, bệnh thận mạn giai đoạn cuối hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, những người có chỉ số khối cơ thể thừa cân nhẹ đôi khi lại có tỷ lệ sống sót trong ngắn hạn cao hơn so với những người có chỉ số khối cơ thể trong giới hạn trọng lượng bình thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Cơ chế sinh học lý giải cho hiện tượng này không nằm ở việc thừa mỡ đem lại lợi ích sức khỏe, mà chủ yếu do các hạn chế nội tại của chỉ số BMI. Ở các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính tiến triển, thể trọng bình thường theo BMI thường che giấu tình trạng suy kiệt cơ bắp, mất khối nạc và cạn kiệt nguồn năng lượng dự trữ chuyển hóa. Những bệnh nhân thừa cân nhẹ có thể sở hữu trữ lượng năng lượng dự trữ lớn hơn để chống chọi lại trạng thái dị hóa mạnh và phản ứng viêm toàn thân mạn tính do bệnh lý giai đoạn muộn gây ra.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Giới hạn của chỉ số khối cơ thể và phương pháp đánh giá bổ trợ\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mặc dù chỉ số khối cơ thể là công cụ sàng lọc dịch tễ học đơn giản, thuận tiện và có chi phí thấp nhất, việc chỉ dựa vào BMI để xác định trọng lượng bình thường bộc lộ nhiều điểm hạn chế mang tính nguyên lý:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Chỉ số BMI chỉ tính toán dựa trên tổng khối lượng cơ thể và chiều cao mà hoàn toàn không phân biệt được các thành phần cấu tạo nên khối lượng đó, bao gồm khối cơ bắp, khối xương, lượng nước trong cơ thể và khối lượng mô mỡ. Một vận động viên thể thao có khối lượng cơ bắp phát triển lớn có thể có BMI vượt ngưỡng 25 kg\u002Fm² nhưng tỷ lệ mỡ rất thấp và hoàn toàn khỏe mạnh.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Chỉ số BMI không cung cấp bất kỳ thông tin nào về vị trí phân bố mô mỡ. Về mặt sinh lý bệnh học, mô mỡ dưới da ở vùng hông và đùi ít gây hại chuyển hóa, trong khi mô mỡ nội tạng bao quanh các tạng trong ổ bụng là nguồn sản sinh chính các cytokine gây viêm và acid béo tự do, dẫn đến kháng insulin và xơ vữa động mạch.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Chỉ số BMI có xu hướng đánh giá thấp tỷ lệ mỡ ở người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh và những người có lối sống ít vận động do khối cơ xương bị thoái hóa và teo nhỏ theo thời gian.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Để khắc phục những thiếu sót của chỉ số khối cơ thể, các hướng dẫn lâm sàng, tiêu biểu là Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT năm 2022 của Bộ Y tế, khuyến cáo kết hợp đo chỉ số khối cơ thể với đo chu vi vòng bụng để đánh giá tình trạng béo bụng. Trong các cơ sở chuyên khoa, các phương pháp phân tích thành phần cơ thể hiện đại như đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA) hoặc đo trở kháng điện sinh học (BIA) được sử dụng để xác định chính xác tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể, khối lượng cơ xương và lượng mỡ nội tạng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa thực tiễn và chiến lược duy trì thể trạng khỏe mạnh\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Tại Việt Nam, việc nâng cao nhận thức về trọng lượng bình thường có ý nghĩa cấp thiết trong bối cảnh mô hình bệnh tật đang chuyển dịch nhanh chóng từ các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh không lây nhiễm liên quan đến lối sống và chuyển hóa. Định hướng can thiệp không chỉ dừng lại ở việc giữ mức cân nặng nằm trong giới hạn BMI từ 18,5 đến 22,9 kg\u002Fm², mà phải hướng tới việc xây dựng và duy trì một thành phần cơ thể cân đối.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Chiến lược kiểm soát thể trạng tối ưu đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chế độ dinh dưỡng cân bằng và chế độ rèn luyện thể lực phù hợp. Chế độ ăn uống cần đảm bảo cung cấp đủ lượng protein chất lượng cao để bảo tồn khối cơ, hạn chế các loại carbohydrate tinh chế, giảm thiểu chất béo bão hòa và kiểm soát tổng năng lượng nạp vào. Đồng thời, việc kết hợp giữa các bài tập aerobic rèn luyện sức bền tim mạch và các bài tập kháng lực giúp kích thích phát triển cơ bắp, giảm tích tụ mỡ nội tạng và nâng cao độ nhạy cảm insulin của mô ngoại vi, bảo đảm thể trạng bình thường cả về mặt chỉ số nhân trắc lẫn chất lượng chuyển hóa nội môi.\u003C\u002Fp>\n","Trọng lượng bình thường","normal weight",[20,21],"cân nặng bình thường","thể trọng bình thường","Trọng lượng bình thường là trạng thái khối lượng cơ thể của một cá nhân nằm trong giới hạn tham chiếu chuẩn theo chiều cao, tương ứng với mức nguy cơ bệnh tật và tỷ lệ tử vong thấp nhất trong quần thể.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[25,31,38,44,51,58,65],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":28,"year":29,"doi":10,"url":30},"Bộ Y tế (2022). Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT ngày 22\u002F10\u002F2022 ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì.","Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT ngày 22\u002F10\u002F2022 ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì","Bộ Y tế",2022,"https:\u002F\u002Fluatvietnam.vn\u002Fy-te\u002Fquyet-dinh-2892-qd-byt-233777-d1.html",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":10},"WHO Expert Consultation (2004). Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies. The Lancet, 363(9403), 157-163.","Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies","WHO Expert Consultation","The Lancet",2004,"10.1016\u002FS0140-6736(03)15268-3",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":35,"year":42,"doi":43,"url":10},"Di Angelantonio, E. và cs. (2016). Body-mass index and all-cause mortality: individual-participant-data meta-analysis of 239 prospective studies in four continents. The Lancet, 388(10046), 776-786.","Body-mass index and all-cause mortality: individual-participant-data meta-analysis of 239 prospective studies in four continents","Emanuele Di Angelantonio, Shilpa N Bhupathiraju, David Wormser, et al.",2016,"10.1016\u002FS0140-6736(16)30175-1",{"citationText":45,"title":46,"authors":47,"source":48,"year":49,"doi":50,"url":10},"Romero-Corral, A. và cs. (2009). Normal weight obesity: a risk factor for cardiometabolic dysregulation and cardiovascular mortality. European Heart Journal, 31(6), 737-746.","Normal weight obesity: a risk factor for cardiometabolic dysregulation and cardiovascular mortality","Abel Romero-Corral, Virend K Somers, Justo Sierra-Johnson, et al.","European Heart Journal",2009,"10.1093\u002Feurheartj\u002Fehp487",{"citationText":52,"title":53,"authors":54,"source":55,"year":29,"doi":56,"url":57},"DiStefano, J. K. & Gerhard, G. S. (2022). NAFLD in normal weight individuals. Diabetology & Metabolic Syndrome, 14(1), 45.","NAFLD in normal weight individuals","Johanna K DiStefano, Glenn S Gerhard","Diabetology & Metabolic Syndrome","10.1186\u002Fs13098-022-00814-z","https:\u002F\u002Fdmsjournal.biomedcentral.com\u002Farticles\u002F10.1186\u002Fs13098-022-00814-z",{"citationText":59,"title":60,"authors":61,"source":62,"year":63,"doi":64,"url":10},"Keys, A. và cs. (1972). Indices of relative weight and obesity. Journal of Chronic Diseases, 25(6-7), 329-343.","Indices of relative weight and obesity","Ancel Keys, Flaminio Fidanza, Martti J Karvonen, Noboru Kimura, Henry Longstreet Taylor","Journal of Chronic Diseases",1972,"10.1016\u002F0021-9681(72)90027-6",{"citationText":66,"title":67,"authors":68,"source":69,"year":70,"doi":71,"url":10},"Rinella, M. E. và cs. (2023). A multisociety Delphi consensus statement on new fatty liver disease nomenclature. Hepatology, 78(6), 1966-1986.","A multisociety Delphi consensus statement on new fatty liver disease nomenclature","Mary E Rinella, Jeffrey V Lazarus, Vlad Ratziu, et al.","Hepatology",2023,"10.1097\u002FHEP.0000000000000520",[73,76,79,82],{"question":74,"answer":75},"Chỉ số khối cơ thể (BMI) của người có trọng lượng bình thường là bao nhiêu?","Theo chuẩn quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng trọng lượng bình thường có chỉ số BMI từ 18,5 đến 24,9 kg\u002Fm². Tuy nhiên, tại Việt Nam và nhiều nước châu Á, theo Quyết định số 2892\u002FQĐ-BYT của Bộ Y tế, ngưỡng trọng lượng bình thường được xác định tối ưu trong khoảng từ 18,5 đến 22,9 kg\u002Fm² nhằm dự phòng sớm các biến chứng tim mạch và rối loạn chuyển hóa.",{"question":77,"answer":78},"Béo phì thể trọng bình thường (NWO) là gì và có nguy hiểm không?","Béo phì thể trọng bình thường là tình trạng một cá nhân có chỉ số BMI trong ngưỡng bình thường nhưng tỷ lệ phần trăm mô mỡ trong cơ thể lại vượt mức cho phép, thường do suy giảm khối lượng cơ bắp. Tình trạng này làm gia tăng nguy cơ kháng insulin, rối loạn lipid máu và bệnh tim mạch, do đó cần kết hợp đo chu vi vòng bụng hoặc phân tích thành phần cơ thể để phát hiện sớm.",{"question":80,"answer":81},"Làm thế nào để duy trì trọng lượng bình thường một cách khỏe mạnh và bền vững?","Duy trì trọng lượng bình thường đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa chế độ dinh dưỡng cân bằng và chế độ rèn luyện thể lực thường xuyên. Cần đảm bảo cung cấp đủ lượng protein chất lượng cao để bảo tồn khối cơ xương, hạn chế thực phẩm chứa nhiều carbohydrate tinh chế và chất béo bão hòa, đồng thời duy trì tối thiểu các hoạt động thể lực hiếu khí kết hợp bài tập kháng lực.",{"question":83,"answer":84},"Tại sao chỉ số BMI không phản ánh toàn diện tình trạng thể trọng của một người?","Chỉ số BMI chỉ tính toán dựa trên tổng cân nặng và chiều cao mà không phân biệt được các thành phần cơ thể như khối cơ, khối xương và khối mô mỡ. Do đó, những người có khối cơ bắp lớn như vận động viên thể thao có thể bị xếp nhầm vào nhóm thừa cân, trong khi những người có thể trạng bình thường nhưng tích tụ nhiều mỡ nội tạng lại bị bỏ sót các nguy cơ chuyển hóa.",{"id":86,"researcherId":10,"name":87,"imageUrl":88},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":86,"researcherId":10,"name":87,"imageUrl":88},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.564+00:00","2026-09-22T05:00:45.945+00:00","2026-09-22T05:00:45.885+00:00",0,[98,107,113,118,124,129,135,141,146,151],{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":101,"definition":102,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":108,"title":109,"term":110,"englishTitle":111,"definition":112,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":116,"definition":117,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":119,"title":120,"term":121,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":125,"title":126,"term":125,"englishTitle":127,"definition":128,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":130,"title":131,"term":132,"englishTitle":133,"definition":134,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":136,"title":137,"term":138,"englishTitle":139,"definition":140,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":142,"title":143,"term":142,"englishTitle":144,"definition":145,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":147,"title":148,"term":147,"englishTitle":149,"definition":150,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi.",{"id":152,"title":153,"term":152,"englishTitle":152,"definition":154,"discipline":23,"disciplineCode":103,"disciplineLabel":104,"disciplineColor":105,"disciplineIcon":106},"apexification","Apexification là gì? Kỹ thuật đóng chóp răng chưa hoàn thiện","Apexification (thủ thuật đóng chóp) là một phương pháp điều trị nội nha nhằm kích thích sự hình thành hàng rào khoáng hóa cứng (calcified barrier) hoặc đặt trực tiếp một nút chặn nhân tạo tại vùng cuống của răng vĩnh viễn chưa trưởng thành bị hoại tử tủy và mở rộng chóp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trám bít ống tủy kín khít hoàn toàn."]