[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_tr%E1%BA%A7m%20t%C3%ADch%20ch%E1%BB%A9a%20hydrates{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_trầm tích chứa hydrates":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":63,"createUser":76,"publishUser":80,"keywords":84,"keywordCount":95,"enrichTopicLink":96,"status":97,"createTime":98,"updateTime":99,"publishTime":100,"linkEnrichedTime":101,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":102,"relateTopics":103},"trầm tích chứa hydrates","Trầm tích chứa hydrates là gì? Cấu trúc và tiềm năng","Trầm tích chứa hydrates là tầng địa chất biển sâu chứa tinh thể băng cháy giam giữ khí mê-tan, có ý nghĩa lớn về năng lượng và địa cơ học đáy biển.","\u003Cp>Trầm tích chứa hydrates là tầng địa chất trầm tích biển sâu hoặc trầm tích vùng cực bị đóng băng vĩnh cửu chứa các tinh thể khí hydrat thể rắn đan xen trong không gian lỗ rỗng giữa các hạt khoáng vật và chất lưu lỗ rỗng. Khí hydrat, thường được gọi là băng cháy, là hợp chất bao thể kết tinh trong đó các phân tử khí hydrocacbon (chủ yếu là khí mê-tan) bị giam giữ vật lý bên trong mạng lưới lồng tinh thể tạo bởi các liên kết hydro của phân tử nước ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao. Với tiềm năng năng lượng khổng lồ và vai trò then chốt trong địa chất công trình biển cũng như chu trình carbon toàn cầu, trầm tích chứa hydrates là đối tượng nghiên cứu liên ngành trọng điểm của địa chất dầu khí, địa vật lý biển và khoa học biến đổi khí hậu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất tinh thể học và điều kiện cân bằng nhiệt động\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khí hydrat tự nhiên thuộc nhóm hợp chất clathrate không tỷ lượng hóa học, hình thành khi phân tử khí kích thước phù hợp đóng vai trò là phân tử khách khuếch tán vào dung dịch nước bão hòa khí dưới áp suất cao và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99%20th%E1%BA%A5p%22%7D}}. Mạng tinh thể nước tạo thành các lồng đa diện bao quanh phân tử khí khách, được giữ ổn định nhờ lực liên kết Van der Waals yếu giữa phân tử khí và khung phân tử nước mà không xảy ra {{topic|%7B%22topic%22%3A%22li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt%20h%C3%B3a%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} cộng hóa trị.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong tự nhiên, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20tinh%20th%E1%BB%83%22%7D}} phổ biến nhất là cấu trúc loại một, được tạo thành từ hai loại lồng đa diện phân tử nước. Phản ứng phân ly {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20l%E1%BB%B1c%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} của hydrate khí mê-tan diễn ra khi môi trường vượt ra ngoài biên độ ổn định:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\mathrm{CH_4} \\cdot n\\mathrm{H_2O}\\ (\\text{rắn}) \\longrightarrow \\mathrm{CH_4}\\ (\\text{khí}) + n\\mathrm{H_2O}\\ (\\text{lỏng})\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Trong phương trình này, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n\u003C\u002Fscript> là hệ số hydrat hóa biểu thị số lượng phân tử nước trên một phân tử khí mê-tan, phụ thuộc vào mức độ điền đầy các lồng tinh thể trong cấu trúc mạng nước.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Công bố kinh điển của Kvenvolden (1993) trên Reviews of Geophysics ghi nhận 1 đơn vị thể tích hydrate khí mê-tan có thể nén giữ tới 164 đơn vị thể tích khí mê-tan ở điều kiện tiêu chuẩn, đồng thời ranh giới đáy của đới ổn định hydrate thường được nhận diện trên tài liệu địa chấn thông qua mặt phản xạ mô phỏng đáy biển (BSR) đặc trưng khi có sự tích tụ khí tự do bên dưới. Khả năng nén khí tỷ trọng cực cao này biến các tầng trầm tích đáy biển thành kho lưu trữ mê-tan tập trung lớn nhất trên hành tinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tổng quan của Ruppel và Kessler (2017) trên Reviews of Geophysics xác định đới ổn định hydrate khí tại các rìa lục địa đại dương đòi hỏi áp suất thủy tĩnh tối thiểu từ 3 đến 5 MPa tương ứng độ sâu cột nước bắt đầu từ khoảng 300 đến 500 mét và nhiệt độ đáy biển thường dưới 4 đến 7 độ C (hoặc có thể lên tới 10 đến 15 độ C ở độ sâu vỉa lớn), với trữ lượng carbon ước tính toàn cầu khoảng 1800 gigaton carbon. Đới ổn định này tạo thành một tầng địa chất nằm ngay bên dưới đáy biển dọc theo các rìa lục địa thụ động và rìa lục địa tích cực trên khắp các đại dương.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc tính vật lý và vi cấu trúc trong môi trường rỗng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự tích tụ của tinh thể hydrate làm thay đổi hoàn toàn các thuộc tính vật lý, cơ học và thủy lực của khung trầm tích xốp. Tỷ lệ thể tích lỗ rỗng bị chiếm giữ bởi hydrate được đặc trưng bởi độ bão hòa hydrate:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">S_h = \\frac{V_h}{V_p}\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Ở đây, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">S_h\u003C\u002Fscript> là độ bão hòa hydrate, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V_h\u003C\u002Fscript> biểu thị tổng thể tích của pha hydrate rắn, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V_p\u003C\u002Fscript> là tổng thể tích lỗ rỗng của tầng trầm tích.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tổng quan của Ren và cộng sự (2020) trên Earth-Science Reviews phân tích cơ chế vi cấu trúc của hydrates trong lỗ rỗng trầm tích (dạng điền đầy lỗ rỗng, dạng chịu tải, dạng gắn kết hạt và dạng nứt nẻ) chi phối độ thấm hữu dụng của tầng trầm tích theo độ bão hòa hydrate. Khi hydrate phát triển ở dạng gắn kết xi măng tại các điểm tiếp xúc giữa các hạt khoáng vật cát, độ cứng và vận tốc truyền sóng âm của tầng đất tăng vọt ngay cả ở độ bão hòa thấp. Ngược lại, khi hydrate lơ lửng trong chất lưu lỗ rỗng ở dạng điền đầy, nó chủ yếu thu hẹp kích thước các cổ họng rỗng và làm suy giảm nghiêm trọng độ thấm của chất lưu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bảng sau đây tổng hợp bốn dạng hình thái phân bố vi cấu trúc chủ yếu của hydrates trong môi trường trầm tích rỗng theo phân tích của Ren và cộng sự (2020):\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Dạng hình thái vi cấu trúc\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Vị trí phân bố tinh thể hydrate\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ảnh hưởng cơ học khung hạt\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Mức độ suy giảm độ thấm\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dạng gắn kết xi măng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tập trung tại các tiếp điểm giữa các hạt khoáng vật\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tăng cường độ cứng và độ bền cắt mạnh mẽ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Suy giảm độ thấm ở mức vừa phải\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dạng chịu tải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đóng vai trò như các hạt cấu thành khung chịu lực\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Gia tăng mô-đun đàn hồi và chống biến dạng nén\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Suy giảm độ thấm tỷ lệ thuận độ bão hòa\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dạng điền đầy lỗ rỗng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tự do trong khoảng trống chất lưu lỗ rỗng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ít làm thay đổi khung truyền lực ban đầu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thu hẹp cổ rỗng, cản trở dòng chảy mạnh\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Dạng nứt nẻ màng dăm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Điền đầy vào các khe nứt và thấu kính bùn sét\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tạo tính bất đẳng hướng cơ học cục bộ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Độ thấm dẫn hướng theo phương khe nứt\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Đặc tính địa cơ học và nguy cơ trượt lở đáy biển\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một trong những khía cạnh địa chất công trình quan trọng nhất của trầm tích chứa hydrates là tính {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%E1%BB%95n%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} của sườn dốc lục địa. Khung trầm tích biển sâu duy trì {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BA%A1ng%20th%C3%A1i%20%E1%BB%A9ng%20su%E1%BA%A5t%22%7D}} hiệu dụng theo nguyên lý ứng suất Terzaghi:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma' = \\sigma - u\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Trong công thức này, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> là ứng suất hiệu dụng chịu bởi bộ khung hạt trầm tích, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> là tổng ứng suất toàn phần do trọng lượng các lớp trầm tích và cột nước bên trên đè xuống, còn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> biểu thị áp suất chất lưu lỗ rỗng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tổng quan của Waite và cộng sự (2009) trên Reviews of Geophysics chứng minh sự hiện diện của khí hydrat làm gia tăng vận tốc sóng dọc và sóng ngang trong khung trầm tích, đồng thời quá trình phân ly hydrate giải phóng khí và nước làm tăng áp vọt áp suất lỗ rỗng dẫn đến suy giảm độ bền cắt và nguy cơ trượt lở sườn lục địa. Khi nhiệt độ đáy biển tăng lên hoặc mực nước biển hạ thấp làm giảm áp suất thủy tĩnh, tinh thể hydrate rắn phân hủy thành khí tự do và nước lỏng. Vì thể tích khí sinh ra lớn hơn rất nhiều thể tích tinh thể ban đầu, áp suất lỗ rỗng tăng thêm một lượng đáng kể:\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma' = \\sigma - (u + \\Delta u)\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Khi đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta u\u003C\u002Fscript> tăng vọt, ứng suất hiệu dụng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'\u003C\u002Fscript> giảm mạnh về gần không làm suy kiệt sức kháng cắt ma sát giữa các hạt khoáng vật, đồng thời sự biến mất của tinh thể hydrate phá vỡ lực liên kết xi măng của khung trầm tích. Sự sụp đổ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99%20b%E1%BB%81n%20c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} này có thể kích hoạt các vụ trượt lở quy mô lớn dưới đáy biển, gây phá hủy hạ tầng đường ống dẫn dầu khí ngầm và tạo ra các cơn sóng thần nguy hiểm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tiềm năng tài nguyên và các phương pháp khai thác khí\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trầm tích chứa khí hydrat phân bố rộng khắp các sườn và chân dốc lục địa trên toàn cầu, được xem là nguồn tài nguyên khí hydrocacbon tiềm năng lớn của thế giới. Tuy nhiên, khả năng thu hồi thương mại phụ thuộc chặt chẽ vào loại đá vỉa chứa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tổng quan của Boswell và Collett (2011) trên Energy &amp; Environmental Science làm rõ các vỉa trầm tích cát có độ rỗng và độ thấm cao là đối tượng khai thác khí khả thi nhất thông qua ba phương pháp giảm áp suất kích nhiệt và bơm hóa chất ức chế nhiệt động. Các vỉa cát biển sâu cho phép khí và nước thoát lưu thông suốt sau khi phân ly, trong khi các tầng bùn sét hạt mịn giữ nước chặt và có độ thấm quá thấp khiến việc thu hồi khí gặp nhiều rào cản kỹ thuật.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các phương pháp thu hồi khí chủ đạo bao gồm ba cơ chế phân ly nhiệt động truyền thống cùng phương pháp thay thế khí:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp giảm áp suất:\u003C\u002Fstrong> Bơm hút chất lưu để hạ áp suất lòng giếng xuống dưới áp suất phân ly cân bằng nhiệt động tại nhiệt độ vỉa, kích thích hydrate tự rã thành khí và nước. Đây được xem là phương pháp tiết kiệm năng lượng và có tính khả thi kỹ thuật cao nhất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp kích nhiệt:\u003C\u002Fstrong> Bơm nước nóng, hơi nước hoặc áp dụng sóng vi ba đốt nóng tầng trầm tích để nâng nhiệt độ vượt qua đường cong phân ly cân bằng. Phương pháp này đòi hỏi chi phí năng lượng lớn và thất thoát nhiệt ra môi trường xung quanh.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp bơm chất ức chế nhiệt động:\u003C\u002Fstrong> Bơm các dung dịch như methanol hoặc muối vào vỉa để dịch chuyển đường cong cân bằng pha sang vùng đòi hỏi nhiệt độ thấp hơn và áp suất cao hơn, thúc đẩy quá trình rã hydrate nhưng có nguy cơ gây ô nhiễm hóa chất đối với môi trường biển.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp thay thế khí carbon dioxide:\u003C\u002Fstrong> Bơm khí carbon dioxide vào vỉa để thay thế phân tử mê-tan trong các lồng tinh thể, vừa giải phóng mê-tan phục vụ năng lượng vừa cô lập vĩnh viễn {{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%C3%AD%20nh%C3%A0%20k%C3%ADnh%22%7D}} trong tầng trầm tích đáy biển mà vẫn duy trì tính ổn định cơ học của khung hạt.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Tác động môi trường và mối liên hệ với chu trình khí nhà kính\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khí mê-tan là một loại khí nhà kính mạnh với khả năng giữ nhiệt trong khí quyển cao gấp nhiều lần carbon dioxide trong chu kỳ ngắn hạn. Các tầng trầm tích chứa hydrates đóng vai trò như một màng chắn địa chất khổng lồ ngăn chặn khí mê-tan thoát vào đại dương và khí quyển.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sự ấm lên của các dòng hải lưu đáy biển do {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}} toàn cầu có thể làm mỏng đới ổn định hydrate từ phía trên hoặc phía dưới, dẫn tới hiện tượng rò rỉ khí mê-tan qua các miệng phun lạnh đáy biển. Dù phần lớn lượng mê-tan hòa tan trong nước biển sẽ bị vi khuẩn oxy hóa thành carbon dioxide trước khi lên tới mặt nước, quá trình oxy hóa này tiêu thụ oxy hòa tan và gây axit hóa tầng nước sâu, đe dọa {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91a%20d%E1%BA%A1ng%20sinh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} biển.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Việc theo dõi chặt chẽ tính nguyên vẹn của các tầng trầm tích chứa hydrates và quản lý rủi ro địa kỹ thuật khi khoan thăm dò biển sâu là điều kiện tiên quyết để vừa khai thác tiềm năng năng lượng, vừa bảo vệ hệ thống khí hậu Trái Đất.\u003C\u002Fp>\n","gas hydrate-bearing sediments",[19,20,21],"trầm tích chứa băng cháy","vỉa khí hydrat đáy biển","trầm tích chứa mê-tan hydrat","Trầm tích chứa hydrates là tầng địa chất trầm tích biển sâu hoặc trầm tích vùng cực bị đóng băng vĩnh cửu chứa các tinh thể khí hydrat thể rắn đan xen trong không gian lỗ rỗng giữa các hạt khoáng vật và chất lưu lỗ rỗng ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao.","NATURAL_SCIENCES",[25,33,41,48,56],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Ren X, Guo Z, Ning F, Ma S (2020). Permeability of hydrate-bearing sediments. Earth-Science Reviews, 202, 103100.","Permeability of hydrate-bearing sediments","Ren, Guo, Ning, Ma","Earth-Science Reviews",2020,"10.1016\u002Fj.earscirev.2020.103100","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.earscirev.2020.103100",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":40},"Waite WF, Santamarina JC, Cortes DD, et al. (2009). Physical properties of hydrate‐bearing sediments. Reviews of Geophysics, 47(4), RG4003.","Physical properties of hydrate‐bearing sediments","Waite, Santamarina, Cortes, Dugan, Espinoza, Germaine, Jang, Jung, Kneafsey, Shin, Soga, Winters, Yun","Reviews of Geophysics",2009,"10.1029\u002F2008rg000279","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1029\u002F2008rg000279",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":37,"year":45,"doi":46,"url":47},"Ruppel CD, Kessler JD (2017). The interaction of climate change and methane hydrates. Reviews of Geophysics, 55(1), 126-168.","The interaction of climate change and methane hydrates","Ruppel, Kessler",2017,"10.1002\u002F2016rg000534","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002F2016rg000534",{"citationText":49,"title":50,"authors":51,"source":52,"year":53,"doi":54,"url":55},"Boswell R, Collett TS (2011). Current perspectives on gas hydrate resources. Energy & Environmental Science, 4(4), 1206-1215.","Current perspectives on gas hydrate resources","Boswell, Collett","Energy & Environmental Science",2011,"10.1039\u002Fc0ee00203h","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1039\u002Fc0ee00203h",{"citationText":57,"title":58,"authors":59,"source":37,"year":60,"doi":61,"url":62},"Kvenvolden KA (1993). Gas hydrates—geological perspective and global change. Reviews of Geophysics, 31(2), 173-187.","Gas hydrates—geological perspective and global change","Kvenvolden",1993,"10.1029\u002F93rg00268","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1029\u002F93rg00268",[64,67,70,73],{"question":65,"answer":66},"Khí hydrat trong trầm tích được hình thành trong điều kiện nào?","Khí hydrat hình thành trong điều kiện áp suất thủy tĩnh tối thiểu từ 3 đến 5 MPa (bắt đầu từ độ sâu cột nước khoảng 300 đến 500 mét trở lên) và nhiệt độ đáy biển thường dưới 4 đến 7 độ C (hoặc có thể lên tới 10 đến 15 độ C ở độ sâu vỉa lớn với áp suất cao) tại các tầng trầm tích rìa lục địa hoặc dưới lớp băng vĩnh cửu.",{"question":68,"answer":69},"Mặt phản xạ BSR trên tài liệu địa chấn là gì?","BSR (Bottom Simulating Reflector) là mặt phản xạ địa chấn mô phỏng đáy biển, đánh dấu ranh giới đáy của đới ổn định hydrate nơi có sự suy giảm đột ngột vận tốc sóng âm giữa tầng trầm tích cứng chứa hydrate phía trên và tầng chứa khí tự do phía dưới.",{"question":71,"answer":72},"Tại sao sự phân ly hydrate lại đe dọa độ ổn định sườn dốc biển?","Khi hydrate phân ly, một lượng lớn khí và nước được giải phóng vào lỗ rỗng làm tăng áp suất chất lưu cục bộ, làm suy kiệt sức kháng cắt ma sát và phá vỡ liên kết xi măng của khung trầm tích, dễ kích hoạt sạt trượt ngầm sườn lục địa.",{"question":74,"answer":75},"Phương pháp khai thác khí từ trầm tích hydrate nào khả thi nhất?","Phương pháp giảm áp suất thông qua việc bơm hút chất lưu lòng giếng để hạ áp suất vỉa xuống dưới ngưỡng cân bằng phân ly được đánh giá là tiết kiệm năng lượng và khả thi nhất về mặt kỹ thuật đối với các vỉa cát biển sâu.",{"id":77,"researcherId":10,"name":78,"imageUrl":79},2681,"Cuong Ta","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocKFuWh0ZD601Hp0_V_2xAK3kIOs20Kyv3V5ZLBo6fwfjyymJYzE=s96-c",{"id":81,"researcherId":10,"name":82,"imageUrl":83},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[85,86,87,88,89,90,91,92,93,94],"nhiệt độ thấp","liên kết hóa học","cấu trúc tinh thể","nhiệt động lực học","ổn định cơ học","trạng thái ứng suất","độ bền cơ học","khí nhà kính","biến đổi khí hậu","đa dạng sinh học",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:10.567+00:00","2026-09-08T08:11:22.274+00:00","2026-09-08T07:59:16.399+00:00","2026-09-08T08:11:21.473+00:00",0,[104,107,110,113,116,119,122,125,128,131],{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhiệt dung","Nhiệt dung là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nhiệt dung",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hệ số dẫn nhiệt","Hệ số dẫn nhiệt là gì? Các công bố khoa học về Hệ số dẫn nhiệt",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hình thái","Hình thái là gì? Các công bố khoa học về Hình thái",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tán xạ","Tán xạ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tán xạ",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"syngas","Syngas là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Syngas",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"thủy phân enzyme","Thủy phân enzyme là gì? Các nghiên cứu khoa học về Thủy phân enzyme",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ứng suất","Ứng suất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ứng suất",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tái sử dụng","Tái sử dụng là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tái sử dụng",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương pháp đồng kết tủa","Phương pháp đồng kết tủa là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hấp phụ","Hấp phụ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Hấp phụ"]