[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ti%C3%AAm%20vaccine%20t%E1%BA%BF%20b%C3%A0o{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ti%C3%AAm%20vaccine%20t%E1%BA%BF%20b%C3%A0o":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":59,"createUser":72,"publishUser":76,"keywords":77,"keywordCount":73,"enrichTopicLink":78,"status":79,"createTime":80,"updateTime":81,"publishTime":82,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":83,"wikidataId":10,"relateTopics":84},"tiêm vaccine tế bào","Tiêm vaccine tế bào (cellular vaccination) là gì?","Tìm hiểu tiêm vaccine tế bào (cellular vaccination): cơ chế kích hoạt miễn dịch, liệu pháp tế bào tua, bằng chứng thử nghiệm lâm sàng và triển vọng.","\u003Cp>Tiêm vaccine tế bào là phương thức miễn dịch trị liệu chủ động sử dụng các tế bào sống nguyên vẹn hoặc các thành phần tế bào đã xử lý nhằm kích thích hệ thống miễn dịch tạo ra đáp ứng bảo vệ đặc hiệu chống lại tế bào ung thư hoặc vi sinh vật gây bệnh. Khác với các dạng vaccine phòng ngừa truyền thống chỉ chứa kháng nguyên tinh sạch hay peptide tái tổ hợp, liệu pháp tế bào khai thác năng lực tương tác sinh học phức tạp giữa các tế bào trình diện kháng nguyên chuyên nghiệp và tế bào lympho T hiệu ứng. Bài viết trình bày chi tiết về cơ chế tác động phân tử, phân loại kỹ thuật, bằng chứng lâm sàng kinh điển, quy trình điều chế và các hướng tiếp cận kết hợp trong điều trị học hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất sinh học và cơ chế tác động miễn dịch\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nền tảng sinh học của việc tiêm vaccine tế bào dựa trên nguyên lý kích hoạt nhánh miễn dịch thích ứng trung gian tế bào. Trong cơ thể sinh vật, phản ứng tiêu diệt mục tiêu bệnh lý phụ thuộc vào sự nhận diện đặc hiệu giữa thụ thể tế bào T và phức hợp hòa hợp mô chủ yếu (MHC) trên bề mặt tế bào trình diện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Trình diện kháng nguyên chéo và hoạt hóa tế bào T\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo công trình tổng quan của Palucka và Banchereau (2012) trên tạp chí Nature Reviews Cancer, tế bào tua là thành phần trung tâm đóng vai trò cầu nối thiết yếu giữa miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch thích ứng. Khi các tế bào tua được nạp kháng nguyên ngoại sinh ở môi trường nuôi cấy hoặc tại mô bị tổn thương, chúng kích hoạt cơ chế trình diện chéo đặc thù.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Cơ chế này cho phép các mảnh peptide có nguồn gốc từ tế bào khối u hoặc mầm bệnh được xử lý qua proteasome nội bào và gắn lên các phân tử MHC lớp một. Nhờ đó, tế bào tua có khả năng mẫn cảm hóa trực tiếp quần thể tế bào lympho T gây độc mang dấu ấn CD8+, biến chúng thành những tế bào hiệu ứng có khả năng tìm kiếm và kích hoạt quá trình tự chết ở tế bào bệnh thông qua phóng thích perforin và granzyme.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đồng thời, các đoạn peptide dài hơn được trình diện qua phân tử MHC lớp hai để kích hoạt tế bào lympho T hỗ trợ mang dấu ấn CD4+. Quần thể tế bào này tiết ra các cytokine quan trọng như interferon-gamma và interleukin-2, hỗ trợ duy trì hoạt lực của tế bào T gây độc và kích thích hình thành trí nhớ miễn dịch lâu dài.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại các phương thức tiêm vaccine tế bào\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dựa trên bản chất sinh học của tế bào được sử dụng làm phương tiện vận chuyển kháng nguyên hoặc kích thích miễn dịch, các liệu pháp tiêm vaccine tế bào trong thực hành lâm sàng được chia thành hai nhóm chiến lược chính.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Vaccine tế bào trình diện kháng nguyên (Dendritic Cell Vaccines)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Chiến lược này sử dụng chính các tế bào tua của bệnh nhân làm nền tảng. Theo phân tích của Santos và Butterfield (2018) trên The Journal of Immunology, các tế bào đơn nhân được phân lập từ máu ngoại vi của người bệnh qua kỹ thuật gạn tách bạch cầu, sau đó được nuôi cấy trong điều kiện chuyên biệt với các yếu tố tăng trưởng để biệt hóa thành tế bào tua non. Tại phòng thí nghiệm, tế bào tua được cho tiếp xúc với kháng nguyên mục tiêu dưới nhiều dạng khác nhau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Peptide tổng hợp đặc hiệu theo chuỗi đột biến tân kháng nguyên (neoantigen) của từng người bệnh.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Dịch ly giải tế bào khối u toàn phần, cung cấp một phổ kháng nguyên đa dạng mà không cần xác định trước danh tính từng peptide.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Phân tử mRNA hoặc vector virus mang mã di truyền của kháng nguyên, cho phép tế bào tự dịch mã và biểu hiện kháng nguyên nội sinh.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Protein tái tổ hợp dung hợp với các phân tử gắn thụ thể bề mặt nhằm tăng cường hiệu suất thực bào.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Sau giai đoạn nạp kháng nguyên, hỗn hợp cytokine kích hoạt trưởng thành được bổ sung để kích thích tế bào tua biểu hiện các phân tử đồng kích thích quan trọng trước khi tiêm trở lại cơ thể người bệnh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Vaccine tế bào khối u toàn phần (Whole-Cell Tumor Vaccines)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trái ngược với việc dùng tế bào miễn dịch làm phương tiện mang, chiến lược tế bào toàn phần sử dụng chính các tế bào ung thư để làm nguồn kích thích miễn dịch. Theo tổng kết của de Gruijl và cs. (2008) trên tạp chí Cancer Immunology, Immunotherapy, hướng tiếp cận này phân chia thành hai nhánh điều trị:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vaccine tế bào tự thân:\u003C\u002Fstrong> Tế bào khối u được phân lập trực tiếp từ mô bệnh phẩm phẫu thuật của chính bệnh nhân, sau đó được xử lý chiếu xạ gây chết tế bào nhưng vẫn giữ nguyên tính kháng nguyên bề mặt. Ưu điểm nổi bật là chứa trọn vẹn đột biến cá thể hóa của người bệnh, nhưng nhược điểm là đòi hỏi phẫu thuật lớn và tỷ lệ nuôi cấy thành công biến động.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vaccine tế bào đồng loại:\u003C\u002Fstrong> Sử dụng các dòng tế bào ung thư nuôi cấy sẵn trong ngân hàng sinh học có chung phân loại mô bệnh học. Các dòng tế bào này thường được biến đổi gen để tiết yếu tố kích thích dòng đại thực bào và bạch cầu hạt nhằm lôi kéo tế bào tua nội sinh đến vị trí tiêm.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc tính kỹ thuật\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Vaccine tế bào tua tự thân\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Vaccine tế bào khối u tự thân\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Vaccine tế bào khối u đồng loại\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Loại tế bào sử dụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tế bào tua biệt hóa từ tế bào đơn nhân\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tế bào khối u phân lập từ mô bệnh nhân\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dòng tế bào ung thư chuẩn hóa từ ngân hàng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Bản chất nguồn gốc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tự thân hoàn toàn (autologous)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tự thân hoàn toàn (autologous)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đồng loại ghép chéo (allogeneic)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phổ kháng nguyên\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kháng nguyên chọn lọc hoặc dịch ly giải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Toàn bộ đột biến riêng của người bệnh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Các kháng nguyên khối u chia sẻ chung\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Quy trình điều chế\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nuôi cấy, nạp kháng nguyên, hoạt hóa\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phân lập mô, chiếu xạ bất hoạt tế bào\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nuôi cấy công nghiệp, biến đổi gen kích thích\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Khả năng cung ứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cá thể hóa, cần thời gian điều chế\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phụ thuộc lượng mô phẫu thuật thu thập\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sẵn có trên kệ, quy mô sản xuất lớn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hiệu quả kích hoạt T\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trực tiếp kích hoạt qua phân tử đồng kích thích\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cần tế bào tua của vật chủ đến xử lý\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cần tế bào tua của vật chủ đến xử lý\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Bằng chứng lâm sàng và cột mốc phê duyệt điều trị\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Lịch sử ứng dụng lâm sàng của tiêm vaccine tế bào ghi nhận một cột mốc mang tính bước ngoặt vào năm 2010 với sự ra đời của liệu pháp sipuleucel-T trong chuyên ngành tiết niệu ung thư.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thử nghiệm pha 3 IMPACT trên ung thư tuyến tiền liệt\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Công trình thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi có đối chứng mang tên IMPACT do Kantoff và cs. (2010) chủ trì, công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, đã cung cấp bằng chứng thuyết phục về hiệu quả sống còn của vaccine tế bào. Nghiên cứu thực hiện trên 512 bệnh nhân nam giới mắc ung thư tuyến tiền liệt di căn kháng cắt tinh hoàn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Liệu pháp sipuleucel-T được điều chế bằng cách nuôi cấy các tế bào đơn nhân máu ngoại vi của bệnh nhân với protein tái tổ hợp bao gồm kháng nguyên phosphatase acid tuyến tiền liệt liên kết với yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt - đại thực bào. Kết quả phân tích cho thấy việc tiêm sipuleucel-T giúp giảm 22% nguy cơ tử vong ở nhóm can thiệp so với nhóm dùng giả dược, tương ứng với tỷ số nguy hại 0,78.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đặc biệt, nghiên cứu ghi nhận thời gian sống thêm toàn bộ trung vị được kéo dài thêm 4,1 tháng ở nhóm dùng liệu pháp tế bào, đạt 25,8 tháng so với 21,7 tháng ở nhóm giả dược. Đây là liệu pháp vaccine tế bào điều trị ung thư đầu tiên được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt chính thức trên thị trường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Các bước tiến với vaccine tế bào gốc ung thư\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sự chú ý của giới nghiên cứu hướng tới quần thể tế bào gốc ung thư - nhóm tế bào chịu trách nhiệm chính cho hiện tượng kháng thuốc và tái phát di căn. Một nghiên cứu tổng quan hệ thống toàn diện của Hashemi và cs. (2022) đăng trên tạp chí Stem Cells đã tổng hợp hàng loạt dữ liệu tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng giai đoạn sớm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các tác giả khẳng định việc sử dụng tế bào gốc ung thư nguyên vẹn hoặc nạp dịch ly giải của chúng vào tế bào tua có khả năng tạo ra đáp ứng miễn dịch đa kháng nguyên mạnh mẽ. Khác với vaccine nhắm vào một kháng nguyên biệt hóa duy nhất, vaccine tế bào gốc giúp hạn chế tối đa nguy cơ tế bào u lẩn trốn miễn dịch thông qua đột biến mất biểu hiện gen.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng tế bào\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tiêm vaccine tế bào đòi hỏi một quy trình công nghệ sinh học phức tạp tuân thủ các tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt nghiêm ngặt nhằm đảm bảo độ tinh khiết và an toàn sinh học.\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thu thập tế bào nguồn:\u003C\u002Fstrong> Người bệnh được kết nối với hệ thống máy gạn tách bạch cầu liên tục trong nhiều giờ để thu nhận phân đoạn tế bào đơn nhân giàu tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phân lập và nuôi cấy biệt hóa:\u003C\u002Fstrong> Mẫu tế bào sau khi chuyển đến phòng sạch đạt chuẩn được nuôi dưỡng trong môi trường giàu dưỡng chất có bổ sung cytokine chuyên biệt để thúc đẩy tế bào đơn nhân chuyển đổi thành dạng tế bào mong muốn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nạp kháng nguyên và xử lý thành phẩm:\u003C\u002Fstrong> Tế bào được cho tiếp xúc với kháng nguyên khối u, sau đó kích thích bằng các tín hiệu báo động phân tử để kích hoạt trạng thái biểu hiện thụ thể bề mặt tối ưu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm tra an toàn vi sinh:\u003C\u002Fstrong> Sản phẩm trước khi giải phóng phải trải qua các phép thử nghiêm ngặt về độ vô trùng, nồng độ nội độc tố vi khuẩn, khả năng sống của tế bào và xác định tỷ lệ biểu hiện dấu ấn bề mặt qua phương pháp đếm tế bào dòng chảy.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiêm truyền lâm sàng:\u003C\u002Fstrong> Liệu pháp được tiêm vào cơ thể người bệnh qua đường trong da, dưới da hoặc truyền tĩnh mạch theo lịch trình liều lượng định sẵn.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\n\u003Ch2>Ưu điểm và các thách thức sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù mở ra hướng đi đầy tiềm năng cho liệu pháp miễn dịch cá thể hóa, tiêm vaccine tế bào vẫn đối diện với nhiều rào cản kỹ thuật và sinh lý học phức tạp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Lợi thế miễn dịch học độc đáo\u003C\u002Fh3>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đa dạng hóa mục tiêu tấn công:\u003C\u002Fstrong> Tế bào toàn phần hoặc tế bào tua mang dịch ly giải cung cấp hàng trăm chuỗi peptide khác nhau, kích thích đa dòng tế bào T và ngăn ngừa sự chọn lọc các biến thể tế bào u kháng thuốc.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tác động đồng vận bẩm sinh:\u003C\u002Fstrong> Sự hiện diện của các thụ thể nhận diện mẫu trên bề mặt tế bào tua giúp kích hoạt các tín hiệu cảnh báo nguy hiểm nội sinh, thúc đẩy môi trường vi mô có lợi cho phản ứng viêm cục bộ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tính an toàn dung nạp cao:\u003C\u002Fstrong> Đa phần các thử nghiệm lâm sàng đều ghi nhận liệu pháp tế bào tự thân có hồ sơ tác dụng phụ rất nhẹ, chủ yếu là phản ứng sốt thoáng qua hoặc đau tại vị trí tiêm, không gây ra độc tính cơ quan nặng nề như hóa trị liệu cổ điển.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Rào cản vi môi trường và hạn chế thực hành\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Thách thức lớn nhất đối với tiêm vaccine tế bào đơn độc là hiện tượng ức chế miễn dịch tại khối u. Các khối u rắn thường tiết ra các chất hòa tan ức chế như yếu tố biến đổi tăng trưởng beta và các cytokine ức chế miễn dịch, đồng thời thu hút các tế bào T điều hòa và tế bào ức chế dòng tủy đến bao quanh khối u, vô hiệu hóa các tế bào T vừa được vaccine hoạt hóa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh đó, chi phí điều chế tế bào tự thân vô cùng đắt đỏ, đòi hỏi cơ sở hạ tầng phòng sạch hiện đại và đội ngũ kỹ thuật viên tay nghề cao. Thời gian chờ đợi điều chế kéo dài từ vài ngày đến vài tuần đôi khi không phù hợp với những bệnh nhân có khối u tiến triển nhanh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Xu hướng phối hợp và hướng đi tương lai\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để khắc phục những hạn chế của đơn trị liệu, xu hướng hiện đại tập trung vào việc tích hợp tiêm vaccine tế bào vào các phác đồ đa phương thức.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sự kết hợp giữa vaccine tế bào với các kháng thể ức chế điểm kiểm soát miễn dịch đang chứng minh hiệu quả cộng hưởng rõ rệt. Vaccine tế bào đóng vai trò tạo mồi, kích thích và lôi kéo các tế bào T đặc hiệu thâm nhiễm sâu vào lòng khối u, biến khối u từ trạng thái lạnh về mặt miễn dịch thành khối u nóng. Ngay sau đó, các thuốc ức chế thụ thể chết tế bào theo chương trình một hoặc phối tử của nó sẽ giải phóng tế bào T khỏi trạng thái kiệt quệ, cho phép chúng duy trì năng lực tiêu diệt tế bào ác tính.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ngoài ra, công nghệ chỉnh sửa gen như CRISPR\u002FCas9 đang được nghiên cứu ứng dụng để vô hiệu hóa trực tiếp các gen ức chế bên trong tế bào tua trước khi tiêm, tạo ra các dòng tế bào siêu miễn dịch có khả năng kháng lại các tín hiệu tiêu cực từ vi môi trường khối u.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nhìn chung, tiêm vaccine tế bào tiếp tục giữ vị trí then chốt trong bức tranh toàn cảnh của y học tái tạo và liệu pháp sinh học, mang lại niềm hy vọng lớn trong việc kiểm soát bền vững các bệnh lý ác tính khó chữa.\u003C\u002Fp>\n","cellular vaccination",[19,20],"cell-based vaccination","tiêm vắc xin tế bào","Tiêm vaccine tế bào là phương thức miễn dịch trị liệu chủ động sử dụng các tế bào sống hoặc thành phần tế bào đã xử lý nhằm kích hoạt đáp ứng miễn dịch đặc hiệu.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[24,31,38,45,52],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":10},"Kantoff, P. W., Higano, C. S., Shore, N. D., Berger, E. R., Small, E. J., Penson, D. F., Redfern, C. H., Ferrari, A. C., Dreicer, R., Sims, R. B., Xu, Y., Frohlich, M. W., Schellhammer, P. F. (2010). Sipuleucel-T Immunotherapy for Castration-Resistant Prostate Cancer. New England Journal of Medicine, 363(5), 411-422. doi:10.1056\u002Fnejmoa1001294","Sipuleucel-T Immunotherapy for Castration-Resistant Prostate Cancer","Kantoff, Higano, Shore, Berger, Small, Penson, Redfern, Ferrari, Dreicer, Sims, Xu, Frohlich, Schellhammer","New England Journal of Medicine",2010,"10.1056\u002Fnejmoa1001294",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":10},"Palucka, K., Banchereau, J. (2012). Cancer immunotherapy via dendritic cells. Nature Reviews Cancer, 12(4), 265-277. doi:10.1038\u002Fnrc3258","Cancer immunotherapy via dendritic cells","Palucka, Banchereau","Nature Reviews Cancer",2012,"10.1038\u002Fnrc3258",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":42,"year":43,"doi":44,"url":10},"Hashemi, F., Razmi, M., Tajik, F., Zöller, M., Dehghan Manshadi, M., Mahdavinezhad, F., Tiyuri, A., Ghods, R., Madjd, Z. (2022). Efficacy of Whole Cancer Stem Cell-Based Vaccines: A Systematic Review of Preclinical and Clinical Studies. Stem Cells, 41(3), 207-232. doi:10.1093\u002Fstmcls\u002Fsxac089","Efficacy of Whole Cancer Stem Cell-Based Vaccines: A Systematic Review of Preclinical and Clinical Studies","Hashemi, Razmi, Tajik, Zöller, Dehghan Manshadi, Mahdavinezhad, Tiyuri, Ghods, Madjd","Stem Cells",2022,"10.1093\u002Fstmcls\u002Fsxac089",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":10},"Santos, P. M., Butterfield, L. H. (2018). Dendritic Cell–Based Cancer Vaccines. The Journal of Immunology, 200(2), 443-449. doi:10.4049\u002Fjimmunol.1701024","Dendritic Cell–Based Cancer Vaccines","Santos, Butterfield","The Journal of Immunology",2018,"10.4049\u002Fjimmunol.1701024",{"citationText":53,"title":54,"authors":55,"source":56,"year":57,"doi":58,"url":10},"de Gruijl, T. D., van den Eertwegh, A. J., Pinedo, H. M., Scheper, R. J. (2008). Whole-cell cancer vaccination: from autologous to allogeneic tumor- and dendritic cell-based vaccines. Cancer Immunology, Immunotherapy, 57(10), 1569-1577. doi:10.1007\u002Fs00262-008-0536-z","Whole-cell cancer vaccination: from autologous to allogeneic tumor- and dendritic cell-based vaccines","de Gruijl, van den Eertwegh, Pinedo, Scheper","Cancer Immunology, Immunotherapy",2008,"10.1007\u002Fs00262-008-0536-z",[60,63,66,69],{"question":61,"answer":62},"Tiêm vaccine tế bào hoạt động theo cơ chế nào?","Liệu pháp sử dụng các tế bào trình diện kháng nguyên (như tế bào tua) hoặc tế bào khối u đã bất hoạt để trình diện peptide qua phân tử MHC, kích hoạt trực tiếp tế bào lympho T gây độc CD8+ và tế bào T hỗ trợ CD4+ nhận diện mục tiêu bệnh lý.",{"question":64,"answer":65},"Vaccine tế bào đầu tiên được phê duyệt điều trị là gì?","Liệu pháp sipuleucel-T là vaccine tế bào điều trị ung thư đầu tiên được FDA Hoa Kỳ phê duyệt vào năm 2010, sau khi thử nghiệm lâm sàng pha 3 IMPACT chứng minh giúp giảm 22% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn.",{"question":67,"answer":68},"Vaccine tế bào tua khác gì so với vaccine tế bào khối u toàn phần?","Vaccine tế bào tua sử dụng tế bào miễn dịch của người bệnh được nạp kháng nguyên ex vivo để trực tiếp kích thích tế bào T, trong khi vaccine tế bào toàn phần sử dụng chính các tế bào ung thư bị bất hoạt để cung cấp phổ kháng nguyên rộng cho hệ miễn dịch.",{"question":70,"answer":71},"Tại sao cần phối hợp vaccine tế bào với thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch?","Sự phối hợp giúp khắc phục tình trạng ức chế miễn dịch tại khối u; trong đó vaccine tế bào đóng vai trò lôi kéo tế bào T thâm nhiễm vào khối u, còn thuốc ức chế điểm kiểm soát giải phóng tế bào T khỏi tình trạng kiệt quệ.",{"id":73,"researcherId":10,"name":74,"imageUrl":75},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":73,"researcherId":10,"name":74,"imageUrl":75},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:15.619+00:00","2026-11-05T11:57:42.335+00:00","2026-11-05T11:57:42.291+00:00",0,[85,94,99,105,110,116,121,127,133,138],{"id":86,"title":87,"term":86,"englishTitle":88,"definition":89,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":95,"title":96,"term":95,"englishTitle":97,"definition":98,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":100,"title":101,"term":102,"englishTitle":103,"definition":104,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":108,"definition":109,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":111,"title":112,"term":113,"englishTitle":114,"definition":115,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":119,"definition":120,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":122,"title":123,"term":124,"englishTitle":125,"definition":126,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":128,"title":129,"term":130,"englishTitle":131,"definition":132,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":134,"title":135,"term":134,"englishTitle":136,"definition":137,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":139,"title":140,"term":139,"englishTitle":141,"definition":142,"discipline":22,"disciplineCode":90,"disciplineLabel":91,"disciplineColor":92,"disciplineIcon":93},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]