[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_t%C3%B4m%20l%C3%BAa%20lu%C3%A2n%20canh{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_tôm lúa luân canh":38},{"code":4,"data":5,"meta":28},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":36,"vietnamLatest":37},[],[8,25],{"publicationId":9,"title":10,"originalTitle":11,"authorNames":12,"authorCount":16,"journalName":17,"vietnamJournal":18,"publishDate":19,"publishYear":20,"totalCitation":21,"url":22,"doi":23,"summary":24},"27926fcb-6d33-4244-a77d-33e152a90c2e","Hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình tôm càng xanh - lúa - tôm sú tại tỉnh Bạc Liêu","Technical and financial aspects of the freshwater prawn-rice-tiger shrimp farming systems in Bac Lieu province",[13,14,15],"Huỳnh Kim Hường","Trần Ngọc Hải","Đỗ Thị Thanh Hương",4,"Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ",false,"2016-06-23",2016,1,"https:\u002F\u002Fctujsvn.ctu.edu.vn\u002Findex.php\u002Fctujsvn\u002Farticle\u002Fview\u002F2264","10.22144\u002Fctu.jvn.2016.030","\u003Cp>Nghiên cứu kinh tế thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu khảo sát khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">tôm lúa luân canh\u003C\u002Fb> kết hợp tôm càng xanh và tôm sú. Số liệu từ 60 hộ điều tra cho thấy chi phí nuôi tôm càng xanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng đóng góp đáng kể vào lợi nhuận toàn mô hình, làm nổi bật tiềm năng phát triển thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.\u003C\u002Fp>",{"publicationId":26,"title":27,"originalTitle":28,"authorNames":29,"authorCount":16,"journalName":17,"vietnamJournal":18,"publishDate":32,"publishYear":33,"totalCitation":21,"url":34,"doi":28,"summary":35},"0f286f40-e85b-4e20-b888-380bafdfeb51","So sánh hiệu quả sản xuất giữa nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng luân canh với lúa ở tỉnh Kiên Giang",null,[30,14,31],"Phù Vĩnh Thái","Trương Hoàng Minh","2015-12-30",2015,"https:\u002F\u002Fctujsvn.ctu.edu.vn\u002Findex.php\u002Fctujsvn\u002Farticle\u002Fview\u002F2188","\u003Cp>Khảo sát nông nghiệp so sánh hiệu quả sản xuất giữa nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong hệ thống \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">tôm lúa luân canh\u003C\u002Fb> tại các huyện ven biển Kiên Giang. Phân tích trên 127 hộ dân chỉ ra tôm thẻ chân trắng cho năng suất và lợi nhuận trung bình cao hơn nhưng rủi ro tổn thất lớn hơn, cung cấp thông tin thực tiễn định hướng lựa chọn đối tượng nuôi bền vững.\u003C\u002Fp>",[],[],{"code":4,"data":39,"meta":28},{"id":40,"title":41,"description":42,"content":43,"term":40,"englishTitle":28,"synonyms":28,"definition":28,"discipline":28,"references":28,"faqs":28,"createUser":44,"publishUser":48,"keywords":49,"keywordCount":60,"enrichTopicLink":61,"status":62,"createTime":63,"updateTime":64,"publishTime":65,"linkEnrichedTime":66,"publicationScanTime":67,"contentErrorMessage":28,"viewCount":68,"relateTopics":69},"tôm lúa luân canh","Tôm lúa luân canh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Tôm lúa luân canh là hệ thống canh tác tuần hoàn kết hợp trồng lúa và nuôi tôm xen kẽ theo chu kỳ ngọt–mặn, tối ưu hóa năng suất và cải tạo đất. Chu kỳ trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô tận dụng biến động độ mặn theo thủy triều, giảm rủi ro thị trường và ổn định sinh kế bền vững. ","\u003Ch2>Giới thiệu\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Tôm lúa luân canh là mô hình nông–ngư kết hợp giữa trồng lúa và nuôi tôm trên cùng một diện tích ruộng, tận dụng biến động mặn – ngọt của nước và địa hình ngập mặn để tối ưu hóa năng suất cả hai sinh kế. Hệ thống này không chỉ gia tăng đa dạng sinh kế cho người dân, mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm thiểu chi phí đầu vào và rủi ro thời vụ khi giá lúa hay giá tôm biến động mạnh.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Mô hình hình thành từ thực tiễn canh tác ở vùng trũng ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long) Việt Nam, sau đó được áp dụng tại các khu vực ven biển có thủy triều như bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) và khu vực Sundarbans (Bangladesh). Theo Báo cáo của FAO, luân canh tôm–lúa góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất lúa nước và nuôi trồng thủy sản, đồng thời hỗ trợ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20b%E1%BB%81n%20v%E1%BB%AFng%22%7D}} (\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.fao.org\u002Faquaculture\u002Fen\u002F\">FAO Aquaculture\u003C\u002Fa>).\u003C\u002Fp>\u003Cp>Chu kỳ luân phiên thường kéo dài 10–12 tháng: vụ lúa bắt đầu mùa nước ngọt, vụ tôm lợi dụng mùa khô và mặn lên. Sở dĩ mô hình thành công là nhờ khả năng cải tạo đất tự nhiên; nước mặn rửa phèn, vôi hóa đất, tạo môi trường thích hợp cho tôm phát triển, trong khi bùn thải từ ao tôm {{topic|%7B%22topic%22%3A%22b%E1%BB%95%20sung%20dinh%20d%C6%B0%E1%BB%A1ng%22%7D}} cho vụ lúa kế tiếp.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Định nghĩa tôm lúa luân canh\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), tôm lúa luân canh là hệ thống canh tác tuần hoàn, trong đó vụ lúa nước và vụ nuôi tôm nước lợ hoặc mặn diễn ra xen kẽ trên cùng thửa ruộng, sử dụng thay đổi độ mặn theo mùa để tối ưu điều kiện sinh trưởng của cả hai đối tượng. Mô hình này khác với xen canh lúa–vật nuôi ở chỗ tận dụng độ mặn biến động tự nhiên theo thủy triều.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Vụ lúa thường diễn ra vào mùa mưa (tháng 5–9), khi nước ngọt dồi dào, phù hợp cho giống lúa chịu hạn và ngập. Sau khi thu hoạch lúa, ruộng được xả nước, san gạt, bón vôi, rửa phèn trong 2–4 tuần để chuẩn bị nền cho nuôi tôm. Vụ tôm thả giống vào mùa khô (tháng 10–4) khi độ mặn dao động 5–20‰, nhiệt độ ổn định và ôxy hòa tan cao.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Chu trình này lặp lại hàng năm, tạo quỹ thời gian luân canh rõ ràng. Người dân có thể linh hoạt điều chỉnh lịch gieo cấy và thả giống tôm theo {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%99ng%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}} và thị trường, giúp tăng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%E1%BA%A3%20n%C4%83ng%20ch%E1%BB%91ng%20ch%E1%BB%8Bu%22%7D}} {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}} và rủi ro thị trường.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Lợi ích kinh tế\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Luân canh tôm–lúa tăng tổng thu nhập trên mỗi ha so với chỉ trồng lúa hoặc chỉ nuôi tôm. Trung bình, mỗi ha trồng lúa cho sản lượng 5–6 tấn, thu về 30–40 triệu đồng, trong khi nuôi tôm sau đó cho sản lượng 1.000–1.500 kg, tương đương 60–80 triệu đồng. Tổng thu nhập hàng năm có thể lên tới 90–120 triệu đồng\u002Fha, gấp 2–3 lần so với canh tác đơn lẻ.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Sự đa dạng hóa sản phẩm cũng giảm rủi ro giá: nếu giá lúa giảm thì tôm bù đắp lợi nhuận, và ngược lại. Chi phí đầu tư cho mô hình luân canh vừa phải, chủ yếu tập trung vào hạ tầng ruộng (đường bờ, cống trại), mua giống, thức ăn tôm, bón phân và chăm sóc lúa. Nhờ tận dụng hạ tầng chung, chi phí bình quân\u002Fđơn vị sản phẩm giảm, nâng cao {{topic|%7B%22topic%22%3A%22hi%E1%BB%87u%20qu%E1%BA%A3%20kinh%20t%E1%BA%BF%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Chỉ tiêu\u003C\u002Fth>\u003Cth>Ruộng lúa\u003C\u002Fth>\u003Cth>Nuôi tôm\u003C\u002Fth>\u003Cth>Tổng\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Sản lượng\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>5 tấn\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>1.200 kg\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>—\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Doanh thu\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>35 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>72 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>107 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Chi phí\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>8 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>20 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>28 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Lợi nhuận\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>27 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>52 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>79 triệu VNĐ\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Ch2>Lợi ích môi trường\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Luân canh tôm–lúa giúp cải thiện chất lượng đất và nước tự nhiên. Nước mặn trong giai đoạn nuôi tôm rửa phèn, giảm độ chua và độc tố kim loại, đồng thời kích thích vi sinh vật có lợi phá vỡ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%A3p%20ch%E1%BA%A5t%20h%E1%BB%AFu%20c%C6%A1%22%7D}}. Khi quay lại vụ lúa, đất đã được cải tạo có pH ổn định, tăng độ phì và khả năng giữ nước.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Mô hình giảm mạnh việc sử dụng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%C3%B3a%20ch%E1%BA%A5t%20b%E1%BA%A3o%20v%E1%BB%87%20th%E1%BB%B1c%20v%E1%BA%ADt%22%7D}} (thuốc trừ sâu, diệt cỏ) và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20b%C3%B3n%20v%C3%B4%20c%C6%A1%22%7D}}. Trong giai đoạn nuôi tôm, người dân sử dụng thức ăn và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%BF%20ph%E1%BA%A9m%20vi%20sinh%22%7D}} để giữ môi trường ao ổn định; khi chuyển sang trồng lúa, vi sinh vật phân giải thức ăn dư thừa và phân tôm tiếp tục cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>Giảm ô nhiễm nước mặt: hạn chế xả thải hóa chất và dư lượng phân bón.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Tăng đa dạng sinh học: môi trường xen kẽ thu hút nhiều loài côn trùng, thủy sinh.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Cải thiện cấu trúc đất: giảm xói mòn, tăng độ xốp và tơi xốp.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>Nhiều nghiên cứu tại Trường Đại học Cần Thơ cho thấy độ mặn và pH đất trong mô hình luân canh ổn định trong ngưỡng thích hợp cho lúa và tôm, đồng thời giảm phát thải khí mêtan so với ruộng lúa đơn thuần (\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.ctu.edu.vn\">Can Tho University\u003C\u002Fa>).\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Kỹ thuật và quy trình canh tác\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Chu trình tôm lúa luân canh bắt đầu bằng khâu chuẩn bị đồng ruộng sau thu hoạch lúa: xả cạn nước, bơm rửa phèn, bón vôi CaCO₃ với liều 1–2 tấn\u002Fha để trung hòa axit và cải thiện cấu trúc đất. Thao tác này thường kéo dài 2–3 tuần, giúp loại bỏ độc tố kim loại nặng và tạo nền tảng đất kiềm nhẹ thuận lợi cho tôm.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Trước khi thả giống, ruộng được san phẳng, xây dựng hệ thống cống điều tiết mực nước và lắp đặt lưới ngăn tôm trôi ra ngoài. Mật độ thả tôm nuôi thường từ 10–20 con\u002Fm² (tương đương 100.000–200.000 con\u002Fha), chọn giống post‐larvae (PL) khỏe mạnh, kích cỡ 0,5–1 g\u002Fcon.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>Thức ăn:\u003C\u002Fstrong> hỗn hợp cám công nghiệp công thức cao đạm (35–40%) và phụ phẩm thủy sản.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Quản lý mực nước:\u003C\u002Fstrong> duy trì 0,8–1,2 m; tần suất thay nước 10–20% mỗi tuần.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Chăm sóc lúa:\u003C\u002Fstrong> bón phân hữu cơ định kỳ, kiểm soát sâu bệnh bằng biện pháp sinh học như thả cá rô phi ăn ấu trùng muỗi.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>Khi kết thúc vụ tôm (4–6 tháng), ao được tháo hết nước, bùn đáy được thu lại dùng ủ phân bón cho vụ lúa kế tiếp. Việc luân canh xen kẽ hai đối tượng này giúp tận dụng dinh dưỡng còn lại, giảm chi phí phân bón và xử lý bùn thải.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Quản lý chất lượng nước\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Chất lượng nước là yếu tố quyết định hiệu quả nuôi tôm: duy trì độ mặn 5–20‰, pH 7,5–8,5, oxy hòa tan (DO) ≥4 mg\u002FL. Người nuôi sử dụng định kỳ chế phẩm vi sinh (biofloc) để cải thiện DO và xử lý chất thải, đồng thời hạn chế bùng phát tảo độc.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>Đo pH và độ mặn:\u003C\u002Fstrong> máy đo cầm tay hoặc cảm biến tự động, kiểm tra 2–3 lần\u002Fngày.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm soát NH₄⁺, NO₂⁻:\u003C\u002Fstrong> nồng độ amoniac &lt;0,5 mg\u002FL, nitrit &lt;0,1 mg\u002FL; nếu vượt ngưỡng, thay 20–30% nước và bổ sung khoáng.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Sử dụng hệ thống sục khí:\u003C\u002Fstrong> máy sục kiểu trục đứng hoặc tua bin giúp phân tán oxy và duy trì DO ổn định.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>Kết quả giám sát tại Trường Đại học Cần Thơ cho thấy áp dụng biofloc giúp nâng DO lên 20–30% và giảm 40% nitrit trong 2 tuần đầu vụ tôm (\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.ctu.edu.vn\">Can Tho University\u003C\u002Fa>).\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Thời vụ và biến động khí hậu\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Thời vụ lý tưởng cho trồng lúa là giai đoạn mùa mưa (tháng 5–9) khi lượng mưa dồi dào và nước ngọt đủ để cây sinh trưởng. Vụ tôm được bố trí vào mùa khô (tháng 10–4) khi độ mặn tăng lên do nước biển xâm nhập, phù hợp cho tôm sinh trưởng tốt và hạn chế nấm bệnh.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Biến đổi khí hậu gây nóng lên toàn cầu và dâng mực nước biển, làm tăng độ mặn sớm và kéo dài hơn. Nông dân cần linh hoạt điều chỉnh lịch gieo cấy và thả tôm, sử dụng giống lúa ST25 chịu mặn, tôm thẻ chân trắng cải thiện chịu nhiệt cao hơn 32°C.\u003C\u002Fp>\u003Col>\u003Cli>Giảm trồng lúa vụ sớm, chuyển sang giống lúa chịu mặn nhẹ.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Thăm dò độ mặn hàng tuần, điều chỉnh thời điểm thả giống tôm.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Áp dụng hệ thống “ruộng mặn ruộng ngọt luân phiên” kết hợp trồng ốc bươu đen, trùn quế để cải tạo đất.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Fol>\u003Ch2>Tác động đến đa dạng sinh học\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Mô hình luân canh tôm–lúa tạo nên cảnh quan xen kẽ giữa đồng ruộng ngập nước và ao nuôi, thúc đẩy sinh cảnh cho nhiều loài thủy sinh, chim nước và côn trùng. Các khu vực rìa ruộng thường trồng cây chắn sóng như bần trắng, mắm để bảo vệ bờ bãi và tăng nơi cư trú cho thủy sinh.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Việc giảm sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học trong giai đoạn trồng lúa tạo điều kiện cho hệ sinh thái vi sinh vật đất tái sinh, cung cấp dinh dưỡng tự nhiên cho vụ tôm. Nghiên cứu tại Bangladesh ghi nhận mật độ cá nhỏ và tôm càng xanh hoang dã tăng 30% trong hệ thống luân canh so với trồng lúa thuần (\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fenaca.org\">ENACA\u003C\u002Fa>).\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Đánh giá năng suất và hiệu quả\u003C\u002Fh2>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Chỉ tiêu\u003C\u002Fth>\u003Cth>Giá trị trung bình\u003C\u002Fth>\u003Cth>Đơn vị\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Sản lượng lúa\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>5,5\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>tấn\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Sản lượng tôm\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>1.300\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>kg\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Doanh thu tổng\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>110\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>triệu VNĐ\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Lợi nhuận ròng\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>80\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>triệu VNĐ\u002Fha\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Hiệu quả kinh tế và sinh thái được đánh giá qua chỉ số lợi nhuận\u002Fchi phí (ROI) trung bình 2,5–3,0 và chỉ số đa dạng sinh học (Shannon index) tăng 15–20% so với canh tác đơn lẻ.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Thách thức và khuyến nghị\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Mô hình tôm lúa luân canh đối mặt với rào cản kỹ thuật, khí hậu và thị trường: thiếu hạ tầng cống thoát nước, biến động độ mặn quá nhanh, dịch bệnh tôm như EMS và dịch giáp xác, giá tôm biến động mạnh.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ giống lúa, tôm chịu mặn, chịu nhiệt cao và kháng bệnh.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Xây dựng hệ thống cống ngăn triều và trạm quan trắc tự động để điều chỉnh lịch thời vụ.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Tăng cường liên kết chuỗi giá trị: hợp tác xã sản xuất, doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Đào tạo kỹ thuật cho nông dân, hỗ trợ tài chính theo mùa vụ và bảo hiểm nông nghiệp.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Ch2>Tài liệu tham khảo\u003C\u002Fh2>\u003Cul>\u003Cli>Food and Agriculture Organization. “Rice–Shrimp Farming Systems.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.fao.org\u002Faquaculture\u002Fen\u002F\">fao.org\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003Cli>ENACA. “Integrated Rice–Shrimp Farming.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fenaca.org\">enaca.org\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Can Tho University. “Research on Rice–Shrimp Rotation in Mekong Delta.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.ctu.edu.vn\">ctu.edu.vn\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003Cli>International Rice Research Institute. “Alternate Wetting and Drying in Rice–Shrimp Cropping.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.irri.org\">irri.org\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003Cli>WorldFish. “Sustainable Aquaculture in Coastal Zones.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.worldfishcenter.org\">worldfishcenter.org\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003Cli>Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific. “Rice–Shrimp Polyculture.” \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fenaca.org\">enaca.org\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>",{"id":45,"researcherId":28,"name":46,"imageUrl":47},2681,"Cuong Ta","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocKFuWh0ZD601Hp0_V_2xAK3kIOs20Kyv3V5ZLBo6fwfjyymJYzE=s96-c",{"id":45,"researcherId":28,"name":46,"imageUrl":47},[50,51,52,53,54,55,56,57,58,59],"phát triển bền vững","bổ sung dinh dưỡng","biến động khí hậu","khả năng chống chịu","biến đổi khí hậu","hiệu quả kinh tế","hợp chất hữu cơ","hóa chất bảo vệ thực vật","phân bón vô cơ","chế phẩm vi sinh",10,true,"PUBLISHED","2025-07-01T06:39:33.788+00:00","2026-09-10T05:12:05.583+00:00","2025-07-01T08:26:38.783+00:00","2026-09-10T05:12:05.166+00:00","2026-09-05T03:23:42.202+00:00",415,[70,73,76,79,82,85,88,91,101,104],{"id":71,"title":72,"term":71,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"thảm thực vật","Thảm thực vật là gì? Các công bố khoa học về Thảm thực vật",{"id":74,"title":75,"term":74,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"cơ sở vật chất","Cơ sở vật chất là gì? Các công bố khoa học về Cơ sở vật chất",{"id":77,"title":78,"term":77,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"giáo dục khởi nghiệp","Giáo dục khởi nghiệp là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":80,"title":81,"term":80,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"phân compost","Phân compost là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phân compost",{"id":83,"title":84,"term":83,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"bất bình đẳng xã hội","Bất bình đẳng xã hội là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học",{"id":86,"title":87,"term":86,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"yếu tố địa lý","Yếu tố địa lý là gì? Các công bố khoa học về Yếu tố địa lý",{"id":89,"title":90,"term":89,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"mỹ latinh","Mỹ latinh là gì? Các nghiên cứu khoa học về Mỹ latinh",{"id":92,"title":93,"term":92,"englishTitle":94,"definition":95,"discipline":96,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"đồng vị","Đồng vị là gì? Phân loại và ứng dụng trong khoa học hiện đại","isotope","Đồng vị là các biến thể của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số proton trong hạt nhân nhưng khác nhau về số neutron, dẫn đến khối lượng nguyên tử khác nhau.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"geopolymer","Geopolymer là gì? Các nghiên cứu khoa học về Geopolymer",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":28,"definition":28,"discipline":28,"disciplineCode":28,"disciplineLabel":28,"disciplineColor":28,"disciplineIcon":28},"nhà máy nhiệt điện","Nhà máy nhiệt điện là gì? Các nghiên cứu về Nhà máy nhiệt điện"]