[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_t%C3%A2y%20siberia{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_tây siberia":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":10,"definition":19,"discipline":20,"references":21,"faqs":45,"createUser":55,"publishUser":59,"keywords":60,"keywordCount":71,"enrichTopicLink":72,"status":73,"createTime":74,"updateTime":75,"publishTime":76,"linkEnrichedTime":77,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":78,"relateTopics":79},"tây siberia","Tây siberia là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","Tây Siberia là một khu vực rộng lớn ở Nga, trải dài từ dãy Ural đến sông Yenisey, chủ yếu bao gồm đồng bằng Tây Siberia với địa hình thấp, bằng phẳng Đây là vùng giàu tài nguyên, đặc biệt dầu khí, có khí hậu lục địa khắc nghiệt và đóng vai trò quan trọng trong thủy văn, sinh thái và nghiên cứu khí hậu toàn cầu\n","\u003Cp>\u003Cstrong>Tây Siberia\u003C\u002Fstrong> (\u003Cem>Western Siberia\u003C\u002Fem>) là vùng địa lý tự nhiên rộng lớn của Liên bang Nga trải dài từ dãy núi Ural ở phía tây đến sông Yenisei ở phía đông, nổi bật với đồng bằng bồi tích trũng lớn nhất thế giới, đầm lầy than bùn khổng lồ và trữ lượng dầu khí dồi dào.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Diện tích của Tây Siberia khoảng 2,5–3 triệu km², chiếm phần lớn đồng bằng Tây Siberia – một trong những vùng đồng bằng có diện tích liên tục lớn nhất thế giới. Khu vực này trải dài qua nhiều chủ thể hành chính của Nga, bao gồm các tỉnh như Tyumen, Tomsk, Omsk, Novosibirsk, và các khu tự trị như Khanty-Mansi và Yamalo-Nenets.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Bảng thông tin vị trí địa lý cơ bản:\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Ranh giới địa lý\u003C\u002Fth>\u003Cth>Đặc điểm\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Phía Tây\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Dãy núi Ural\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Phía Đông\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Sông Yenisey\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Phía Bắc\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Biển Kara, Bắc Băng Dương\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Phía Nam\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Biên giới Kazakhstan\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Tài liệu tham khảo địa lý chi tiết từ \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.britannica.com\u002Fplace\u002FWest-Siberian-Plain\">Encyclopædia Britannica\u003C\u002Fa> cung cấp mô tả đầy đủ về ranh giới tự nhiên và đặc điểm địa hình đặc trưng của khu vực này.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Đặc điểm địa hình và đồng bằng Tây Siberia\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Địa hình Tây Siberia chủ yếu là đồng bằng rộng lớn, thấp và bằng phẳng, được gọi là đồng bằng Tây Siberia (West Siberian Plain). Đây là một trong những vùng đồng bằng nội địa rộng nhất hành tinh, với độ cao trung bình chỉ từ 100–300 m so với mực nước biển. Khu vực này hình thành chủ yếu từ trầm tích sông và băng hà lắng đọng qua hàng triệu năm.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Địa hình bằng phẳng và độ dốc thấp khiến khu vực này có hệ thống thoát nước kém, dễ hình thành các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%C3%B9ng%20%C4%91%E1%BA%A5t%20ng%E1%BA%ADp%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22%7D}}, đầm lầy và than bùn. Vào mùa xuân, khi tuyết tan, lượng nước lớn không thoát kịp gây ra hiện tượng ngập úng diện rộng. Các vùng đất ngập nước ở đây là một trong những bãi lưu trữ carbon tự nhiên lớn nhất thế giới.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Một số vùng nổi bật trong đồng bằng Tây Siberia:\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>Đầm lầy Vasyugan:\u003C\u002Fstrong> hệ thống đầm lầy lớn nhất ở lục địa Á-Âu.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng đất thấp Ob-Irtysh:\u003C\u002Fstrong> trung tâm của hệ thống sông ngòi và than bùn.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng permafrost Yamalo-Nenets:\u003C\u002Fstrong> vùng đất đóng băng vĩnh cửu phía bắc đồng bằng.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>&nbsp;\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Khí hậu Tây Siberia\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Khí hậu Tây Siberia là kiểu lục địa lạnh khắc nghiệt, với mùa đông dài, khô và rất lạnh, mùa hè ngắn nhưng ẩm và ấm. Vào mùa đông, nhiệt độ ở khu vực phía bắc có thể xuống đến −40°C hoặc thấp hơn, trong khi vùng phía nam có thể dao động từ −10°C đến −25°C. Gió từ Bắc Cực và sự cách biệt địa lý với các biển ấm khiến khí hậu khô và lạnh sâu.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Mùa hè kéo dài khoảng 2–3 tháng với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99%20trung%20b%C3%ACnh%22%7D}} 15–25°C, kèm theo lượng mưa chủ yếu dưới dạng mưa giông. Tổng lượng mưa hàng năm dao động từ 300–600 mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè. Mùa chuyển tiếp như xuân và thu rất ngắn, khiến biến động nhiệt độ ngày–đêm khá lớn.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Thống kê khí hậu trung bình:\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Chỉ số\u003C\u002Fth>\u003Cth>Giá trị\u003C\u002Fth>\u003Cth>Ghi chú\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Nhiệt độ trung bình tháng 1\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>−20°C đến −40°C\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Khác biệt theo vĩ độ\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Nhiệt độ trung bình tháng 7\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>+15°C đến +25°C\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Mùa sinh trưởng ngắn\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Lượng mưa năm\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>300–600 mm\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Chủ yếu tập trung vào mùa hè\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Tài liệu khí hậu từ \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fclimateknowledgeportal.worldbank.org\u002Fcountry\u002Frussian-federation\u002Fclimate-data-historical\">World Bank Climate Knowledge Portal\u003C\u002Fa> cung cấp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22d%E1%BB%AF%20li%E1%BB%87u%20th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA%22%7D}} dài hạn đáng tin cậy về khí hậu khu vực Tây Siberia.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Đặc điểm địa chất và tài nguyên khoáng sản\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Bên dưới đồng bằng Tây Siberia là bồn trũng địa chất Tây Siberia (West Siberian Basin) – một cấu trúc trầm tích khổng lồ hình thành từ Kỷ Jura đến Kỷ Phấn trắng. Đây là một trong những bồn trũng trầm tích lớn nhất thế giới, với độ dày trầm tích có thể vượt quá 10 km tại một số điểm, bao gồm các tầng chứa dầu, khí, than và muối khoáng.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Tây Siberia là trung tâm khai thác dầu khí quan trọng nhất của Nga, chiếm hơn 60% sản lượng dầu và hơn 75% sản lượng khí đốt tự nhiên của quốc gia. Các tầng sản xuất chính nằm trong hệ tầng Bazhenov, Vasyugan và Achimov, với hàng nghìn giếng khoan hoạt động liên tục từ những năm 1960.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Bảng tổng hợp tài nguyên chính của Tây Siberia:\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Loại tài nguyên\u003C\u002Fth>\u003Cth>Khu vực khai thác chủ yếu\u003C\u002Fth>\u003Cth>Ghi chú\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Dầu thô\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Khanty-Mansiysk, Tomsk, Tyumen\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Tầng Bazhenov, tầng Tyumen\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Khí đốt tự nhiên\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Yamalo-Nenets\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Hệ thống Urengoy và Yamburg\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Than và muối\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Kuzbass (rìa phía nam)\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Khai thác quy mô công nghiệp\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Phân tích chi tiết địa chất và tài nguyên khu vực có thể xem tại \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fpubs.usgs.gov\u002Fof\u002F2001\u002F0499\u002Freport.pdf\">US Geological Survey Report\u003C\u002Fa>.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Thủy văn và các hệ thống sông lớn\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Tây Siberia là khu vực có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó hệ thống sông Ob – Irtysh đóng vai trò chính trong thủy văn vùng. Sông Ob dài hơn 3.600 km, bắt nguồn từ dãy Altai, chảy qua phần trung tâm của đồng bằng Tây Siberia trước khi đổ ra biển Kara. Phụ lưu lớn nhất của Ob là sông Irtysh, xuất phát từ Trung Quốc, băng qua Kazakhstan rồi nhập vào Ob ở Nga.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Hệ thống sông này không chỉ có vai trò thủy văn mà còn là tuyến giao thông nội địa quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn không bị đóng băng từ tháng 5 đến tháng 10. Vào mùa xuân, tuyết tan nhanh và sự tan chảy băng vĩnh cửu khiến mực nước sông dâng cao, gây ngập lụt tự nhiên trên diện rộng. Dòng chảy hướng bắc đặc trưng làm tăng nguy cơ ứ nước do băng tan chậm hơn ở hạ lưu.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Một số sông và hồ chính của khu vực:\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>Sông Ob:\u003C\u002Fstrong> sông lớn thứ ba châu Á, quan trọng cho giao thương và thủy điện.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Sông Irtysh:\u003C\u002Fstrong> phụ lưu dài nhất thế giới, cung cấp nước cho nông nghiệp và công nghiệp.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Sông Tom, Chulym:\u003C\u002Fstrong> các nhánh quan trọng của hệ thống Ob–Irtysh.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Hồ Turgoyak, hồ Chany:\u003C\u002Fstrong> hồ nước ngọt cung cấp nước sinh hoạt và sinh thái địa phương.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>&nbsp;\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Sinh thái và hệ sinh vật\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Hệ sinh thái Tây Siberia trải dài từ rừng taiga phương bắc đến các vùng đồng cỏ và đầm lầy phía nam, tạo nên một dải sinh học đa dạng về loài và cấu trúc. Phần lớn khu vực được bao phủ bởi rừng taiga ôn đới lạnh với thành phần chủ yếu là thông Siberia (Pinus sibirica), vân sam (Picea obovata) và bạch dương (Betula spp.). Ở vùng đất thấp và ngập nước, hệ thực vật đặc trưng gồm rêu sphagnum, lau sậy, cỏ lác và cây bụi chịu lạnh.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Về động vật, Tây Siberia là nơi cư trú của nhiều loài đặc hữu và di cư, bao gồm gấu nâu, cáo tuyết, sói xám, tuần lộc và cú tuyết. Đặc biệt, các vùng đất ngập nước như đầm lầy Vasyugan là địa điểm sinh sản trọng yếu cho các loài chim di cư từ châu Á và châu Âu. Một số loài như sếu Siberia trắng (Grus leucogeranus) đang nằm trong danh sách cực kỳ nguy cấp.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Bảng tổng hợp hệ sinh vật đặc trưng:\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Phân nhóm\u003C\u002Fth>\u003Cth>Loài điển hình\u003C\u002Fth>\u003Cth>Vùng phân bố\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Thực vật\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Pinus sibirica, Betula pendula\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Rừng taiga trung tâm và nam\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Động vật\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Ursus arctos, Canis lupus\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Khắp vùng, nhất là khu bảo tồn\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Chim\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Grus leucogeranus, Cygnus cygnus\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Đất ngập nước phía tây nam\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Thông tin chi tiết từ \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.worldwildlife.org\u002Fecoregions\u002Fpa0608\">World Wildlife Fund\u003C\u002Fa> mô tả hệ sinh thái Tây Siberia là một phần quan trọng trong vành đai sinh học boreal toàn cầu.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Hoạt động kinh tế và công nghiệp\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Tây Siberia đóng vai trò kinh tế chiến lược đối với nước Nga, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng. Đây là trung tâm khai thác dầu khí lớn nhất của Nga, với các thành phố công nghiệp phát triển như Tyumen, Surgut, Nizhnevartovsk và Novy Urengoy. Tập đoàn dầu khí quốc gia Gazprom và Rosneft đều có hoạt động chủ lực tại đây.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Ngoài khai khoáng, các ngành khác như chế biến gỗ, luyện kim, và hóa chất cũng phát triển nhờ vào nguồn tài nguyên dồi dào. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông vẫn bị hạn chế do băng tuyết kéo dài, permafrost và thiếu mạng lưới đường sắt hiện đại. Giao thông sông nội địa và sân bay nhỏ là giải pháp thay thế ở các vùng xa trung tâm.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Một số khu kinh tế trọng điểm:\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>Tyumen:\u003C\u002Fstrong> trung tâm kỹ thuật và hậu cần cho ngành dầu khí.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Surgut và Khanty-Mansi:\u003C\u002Fstrong> vùng khai thác dầu thô quy mô lớn.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Novy Urengoy:\u003C\u002Fstrong> trung tâm khí đốt lớn nhất khu vực, phục vụ xuất khẩu sang châu Âu.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>&nbsp;\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Tây Siberia là một trong những khu vực bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}} toàn cầu. Do nằm trên tầng băng vĩnh cửu (permafrost), sự ấm lên khiến đất băng tan nhanh, làm {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%22%7D}} đất, gây sụt lún, phá hủy {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20s%E1%BB%9F%20h%E1%BA%A1%20t%E1%BA%A7ng%22%7D}} và làm tăng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A1t%20th%E1%BA%A3i%20kh%C3%AD%20nh%C3%A0%20k%C3%ADnh%22%7D}} như methane \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{CH}_4\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Tan băng vĩnh cửu không chỉ đe dọa dân cư và công nghiệp mà còn gây ra hiệu ứng tăng cường (positive feedback) trong chu trình khí hậu toàn cầu, khi khí nhà kính được giải phóng từ lớp đất đã từng bị “đóng băng vĩnh viễn”. Các nghiên cứu chỉ ra rằng Tây Siberia đang chuyển từ vai trò bể hấp thụ carbon sang nguồn phát thải ròng.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Dữ liệu nghiên cứu khí hậu tại \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.nature.com\u002Farticles\u002Fs41467-020-15788-5\">Nature Communications\u003C\u002Fa> cho thấy tốc độ tan băng ở Tây Siberia có thể tăng gấp đôi vào cuối thế kỷ 21 nếu không có biện pháp kiểm soát phát thải toàn cầu.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Tầm quan trọng chiến lược và nghiên cứu\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Tây Siberia có vị trí đặc biệt trong chiến lược năng lượng, địa chính trị và nghiên cứu khí hậu toàn cầu. Khu vực này là nguồn cung nhiên liệu quan trọng cho châu Âu và châu Á, đồng thời là vùng nghiên cứu ưu tiên trong các chương trình giám sát khí hậu và sinh học Bắc Cực. Các tổ chức quốc tế như International Arctic Science Committee (IASC) đang tài trợ nhiều dự án liên ngành ở đây.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Ngoài vai trò kinh tế, Tây Siberia còn là “{{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%B2ng%20th%C3%AD%20nghi%E1%BB%87m%22%7D}} tự nhiên” để nghiên cứu tương tác giữa đất băng, hệ sinh thái boreal và biến đổi khí hậu. Nhiều trạm đo khí tượng, hệ thống vệ tinh, và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20h%C3%ACnh%20d%E1%BB%B1%20b%C3%A1o%22%7D}} đang được triển khai để theo dõi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22chu%20tr%C3%ACnh%20carbon%22%7D}}, dòng nước bề mặt và biến động thảm thực vật tại khu vực này.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Các dự án nghiên cứu nổi bật:\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>\u003Cstrong>SPARC Siberia:\u003C\u002Fstrong> đo lường phát thải methane từ đầm lầy và permafrost.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>INTERACT:\u003C\u002Fstrong> mạng lưới trạm nghiên cứu Bắc Cực quốc tế hoạt động tại Siberia.\u003C\u002Fli>\u003Cli>\u003Cstrong>Yamal Science Initiative:\u003C\u002Fstrong> tích hợp dữ liệu sinh thái và khí hậu để quản lý rủi ro vùng permafrost.\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>&nbsp;\u003C\u002Fp>","Tây Siberia","Western Siberia","Tây Siberia là vùng địa lý tự nhiên rộng lớn của Liên bang Nga trải dài từ dãy núi Ural ở phía tây đến sông Yenisei ở phía đông, nổi bật với đồng bằng bồi tích trũng lớn nhất thế giới, đầm lầy than bùn khổng lồ và trữ lượng dầu khí dồi dào.","NATURAL_SCIENCES",[22,30,37],{"citationText":23,"title":24,"authors":25,"source":26,"year":27,"doi":28,"url":29},"Fewster, Morris, Ivanovic et al. (2022). Future climatic suitability of permafrost peatlands in Europe and Western Siberia. Copernicus GmbH.","Future climatic suitability of permafrost peatlands in Europe and Western Siberia","Fewster, Morris, Ivanovic, Swindles, Peregon","Copernicus GmbH",2022,"10.5194\u002Fegusphere-egu22-86","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.5194\u002Fegusphere-egu22-86",{"citationText":31,"title":32,"authors":33,"source":26,"year":34,"doi":35,"url":36},"Halaś, Lamentowicz, Obremska et al. (2025). Dynamics of permafrost thaw in Western Siberia - a 200 years multi-proxy and high-resolution reconstruction from Khanymei peatlands. Copernicus GmbH.","Dynamics of permafrost thaw in Western Siberia - a 200 years multi-proxy and high-resolution reconstruction from Khanymei peatlands","Halaś, Lamentowicz, Obremska, Łuców, Słowiński",2025,"10.5194\u002Fegusphere-egu24-5562","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.5194\u002Fegusphere-egu24-5562",{"citationText":38,"title":39,"authors":40,"source":41,"year":42,"doi":43,"url":44},"Moskovchenko, Gubarkov, Fakhretdinov (2024). Thermal regime of peatlands in Western Siberia near the southern border of the permafrost. Bulletin of the Tomsk Polytechnic University Geo Assets Engineering.","Thermal regime of peatlands in Western Siberia near the southern border of the permafrost","Moskovchenko, Gubarkov, Fakhretdinov","Bulletin of the Tomsk Polytechnic University Geo Assets Engineering",2024,"10.18799\u002F24131830\u002F2024\u002F9\u002F4456","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.18799\u002F24131830\u002F2024\u002F9\u002F4456",[46,49,52],{"question":47,"answer":48},"Đặc trưng địa hình và mạng lưới thủy văn của Tây Siberia là gì?","Tây Siberia là đồng bằng ngập trũng bằng phẳng với mạng lưới sông ngòi dày đặc đổ về Bắc Băng Dương mà hai trục chính là hệ thống sông Ob và sông Irtysh, mùa lũ kéo dài do băng tan chậm ở hạ lưu.",{"question":50,"answer":51},"Vai trò của các đầm lầy than bùn Tây Siberia đối với khí hậu toàn cầu là gì?","Các đầm lầy than bùn như Vasyugan đóng vai trò là bể chứa carbon hữu cơ khổng lồ, hấp thụ lượng lớn carbon dioxide nhưng cũng có nguy cơ phát thải mạnh khí metan khi tầng đất đóng băng vĩnh cửu bị tan chảy.",{"question":53,"answer":54},"Ý nghĩa kinh tế chiến lược của bể trầm tích Tây Siberia là gì?","Vùng này là trung tâm khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hàng đầu thế giới, cung cấp phần lớn sản lượng xuất khẩu năng lượng hóa thạch và đóng góp tỷ trọng quyết định cho nguồn thu ngân sách quốc gia.",{"id":56,"researcherId":10,"name":57,"imageUrl":58},2681,"Cuong Ta","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocKFuWh0ZD601Hp0_V_2xAK3kIOs20Kyv3V5ZLBo6fwfjyymJYzE=s96-c",{"id":56,"researcherId":10,"name":57,"imageUrl":58},[61,62,63,64,65,66,67,68,69,70],"vùng đất ngập nước","nhiệt độ trung bình","dữ liệu thống kê","biến đổi khí hậu","biến đổi cấu trúc","cơ sở hạ tầng","phát thải khí nhà kính","phòng thí nghiệm","mô hình dự báo","chu trình carbon",10,true,"PUBLISHED","2025-06-04T09:16:57.097+00:00","2026-09-07T09:08:32.207+00:00","2025-06-04T09:50:34.275+00:00","2026-09-07T09:08:31.753+00:00",337,[80,83,86,89,92,95,98,101,104,113],{"id":81,"title":82,"term":81,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"thời pháp thuộc","Thời pháp thuộc là gì? Các nghiên cứu khoa học về Thời pháp thuộc",{"id":84,"title":85,"term":84,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"cơ sở vật chất","Cơ sở vật chất là gì? Các công bố khoa học về Cơ sở vật chất",{"id":87,"title":88,"term":87,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"dẫn xuất","Dẫn xuất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Dẫn xuất",{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phân compost","Phân compost là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phân compost",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vi nhân giống","Vi nhân giống là gì? Các công bố khoa học về Vi nhân giống",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phong hóa","Phong hóa là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phong hóa",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bất bình đẳng thu nhập","Bất bình đẳng thu nhập là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":107,"definition":108,"discipline":20,"disciplineCode":109,"disciplineLabel":110,"disciplineColor":111,"disciplineIcon":112},"đồng vị","Đồng vị là gì? Phân loại và ứng dụng trong khoa học hiện đại","isotope","Đồng vị là các biến thể của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số proton trong hạt nhân nhưng khác nhau về số neutron, dẫn đến khối lượng nguyên tử khác nhau.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"micelle","Micelle là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về Micelle"]