[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_t%C3%A1n%20x%E1%BA%A1%20radar{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_t%C3%A1n%20x%E1%BA%A1%20radar":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":64,"createUser":77,"publishUser":81,"keywords":82,"keywordCount":78,"enrichTopicLink":83,"status":84,"createTime":85,"updateTime":86,"publishTime":87,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":88,"wikidataId":10,"relateTopics":89},"tán xạ radar","Tán xạ radar (radar scattering) là gì?","Tán xạ radar là hiện tượng sóng điện từ của radar đổi hướng khi gặp mục tiêu hoặc bề mặt địa hình, quyết định khả năng thu nhận và phân tích ảnh viễn thám.","\u003Cp>Tán xạ radar là hiện tượng sóng điện từ phát đi từ hệ thống radar tương tác với vật thể hoặc môi trường truyền dẫn, làm đổi hướng lan truyền của năng lượng điện từ theo nhiều hướng trong không gian, trong đó phần năng lượng quay ngược trở lại anten thu được gọi là tán xạ ngược. Hiện tượng này quyết định trực tiếp khả năng phát hiện mục tiêu, đo đạc khoảng cách, phân tích viễn thám bề mặt Trái Đất và chụp ảnh radar khẩu độ tổng hợp. Bài viết này trình bày các nguyên lý cơ bản của tán xạ sóng điện từ, các đại lượng định lượng như diện tích phản xạ hiệu dụng và hệ số tán xạ ngược vi sai chuẩn hoá sigma 0, các cơ chế tán xạ bề mặt, thể tích và phản xạ kép, cùng các mô hình phân tích phân cực và ứng dụng thực tiễn trong quan trắc tài nguyên tại Việt Nam.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khái niệm và nguyên lý cơ bản của tán xạ radar\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Hệ thống radar (viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh: Radio Detection and Ranging) hoạt động dựa trên nguyên lý phát xạ các xung sóng điện từ ở dải tần số siêu cao tần (sóng vi ba) và thu nhận tín hiệu phản hồi. Khi một chùm sóng điện từ lan truyền trong không gian và va chạm với một vật thể hoặc một mặt phân cách giữa hai môi trường có tính chất điện từ khác nhau, điện trường và từ trường của sóng tới sẽ kích thích các dòng điện cảm ứng và các dao động phân cực điện bên trong vật thể.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các dòng điện và dao động cảm ứng này đóng vai trò như các nguồn phát thứ cấp, tái bức xạ năng lượng điện từ ra môi trường xung quanh theo mọi phương hướng. Toàn bộ quá trình tái phân bố năng lượng đó được gọi là tán xạ radar (radar scattering). Tuỳ thuộc vào hình học của hệ thống thu phát, hiện tượng tán xạ được phân chia thành các trường hợp sau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tán xạ đơn tĩnh (monostatic scattering):\u003C\u002Fstrong> Anten phát và anten thu được đặt tại cùng một vị trí (hoặc sử dụng chung một anten thông qua bộ chuyển mạch thu phát). Thành phần tán xạ truyền ngược chính xác theo hướng tới gọi là tán xạ ngược (backscattering). Đây là cấu hình phổ biến nhất của các hệ thống radar giám sát và vệ tinh quan sát Trái Đất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tán xạ song tĩnh (bistatic scattering):\u003C\u002Fstrong> Anten phát và anten thu được đặt tại hai vị trí cách biệt nhau một khoảng cách đáng kể trong không gian, cho phép đo đạc tán xạ tại các góc lệch hướng tới.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tán xạ đa tĩnh (multistatic scattering):\u003C\u002Fstrong> Hệ thống bao gồm nhiều máy phát hoặc nhiều máy thu phối hợp đo đạc đồng thời trường tán xạ từ nhiều góc độ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Dựa trên đặc điểm hình học và kích thước so với độ phân giải của hệ thống, mục tiêu tán xạ được phân thành hai nhóm cơ bản:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mục tiêu điểm (point target):\u003C\u002Fstrong> Là các vật thể rời rạc có kích thước giới hạn, nằm gọn hoàn toàn bên trong một ô phân giải của radar, chẳng hạn như máy bay, tàu thuyền, tháp ăng-ten hoặc các khối phản xạ góc. Khả năng tán xạ của mục tiêu điểm được đặc trưng bởi diện tích phản xạ hiệu dụng radar.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mục tiêu phân bố (distributed target):\u003C\u002Fstrong> Là các bề mặt liên tục trải rộng trên nhiều ô phân giải của hệ thống radar, tiêu biểu như đồng ruộng, bề mặt đại dương, thảm rừng hoặc địa hình đồi núi. Tán xạ từ mục tiêu phân bố là sự tổng hợp kết hợp của vô số tâm tán xạ vi mô ngẫu nhiên.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Các đại lượng đặc trưng cho tán xạ radar\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Ch3>Diện tích phản xạ hiệu dụng radar của mục tiêu điểm\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Đối với một mục tiêu điểm rời rạc, đại lượng định lượng cơ bản đo lường khả năng phản xạ sóng trở lại anten thu được gọi là diện tích phản xạ hiệu dụng radar (Radar Cross Section, RCS), thường được ký hiệu bằng chữ cái Hy Lạp \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript>. Về mặt toán học, diện tích phản xạ hiệu dụng được định nghĩa thông qua giới hạn trường xa như sau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma = \\lim_{R \\to \\infty} 4\\pi R^2 \\frac{|E_s|^2}{|E_i|^2}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong công thức trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">R\u003C\u002Fscript> là khoảng cách từ mục tiêu đến anten thu của radar, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_s\u003C\u002Fscript> là cường độ điện trường của sóng tán xạ ngược tại vị trí máy thu, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_i\u003C\u002Fscript> là cường độ điện trường của sóng tới đo tại vị trí của vật thể mục tiêu. Thứ nguyên của diện tích phản xạ hiệu dụng là mét vuông, hoặc thường được chuyển đổi sang thang đo logarit decibel so với 1 mét vuông (dBsm):\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma_{\\mathrm{dBsm}} = 10 \\log_{10}(\\sigma)\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Ch3>Hệ số tán xạ ngược của mục tiêu phân bố\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Trong kỹ thuật viễn thám ảnh radar khẩu độ tổng hợp (Synthetic Aperture Radar, SAR), mục tiêu quan sát là các bề mặt tự nhiên diện rộng. Khi đó, người ta sử dụng hệ số tán xạ ngược vi sai chuẩn hoá, thường ký hiệu là sigma 0 (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma^0\u003C\u002Fscript>). Đại lượng này biểu thị diện tích phản xạ hiệu dụng trung bình trên một đơn vị diện tích bề mặt địa hình được chiếu xạ:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma^0 = \\frac{\\langle \\sigma \\rangle}{A}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\langle \\sigma \\rangle\u003C\u002Fscript> là giá trị trung bình thống kê của diện tích phản xạ hiệu dụng của vùng khảo sát, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">A\u003C\u002Fscript> là diện tích hình chiếu của vùng đó trên mặt phẳng nằm ngang. Vì là tỷ số giữa hai diện tích, hệ số sigma 0 là một đại lượng không thứ nguyên, nhưng trong thực tế hầu như luôn được biểu diễn dưới dạng decibel:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma^0_{\\mathrm{dB}} = 10 \\log_{10}(\\sigma^0)\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Hệ số tán xạ ngược sigma 0 phụ thuộc đồng thời vào các thông số hình học của hệ thống radar (bước sóng, góc tới, góc phương vị, trạng thái phân cực) và các đặc tính vật lý của bề mặt (độ gồ ghề nhám vi mô, độ ẩm, hằng số điện môi và cấu trúc hình học của vật thể).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các cơ chế tán xạ radar chính\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Khi sóng vi ba tương tác với bề mặt đất và thảm phủ tự nhiên, ba cơ chế tán xạ vật lý cơ bản sau đây thường xuất hiện:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Cơ chế tán xạ\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Bản chất vật lý\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đối tượng bề mặt điển hình\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đặc điểm phân cực ưu thế\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tán xạ bề mặt (Surface scattering)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phản xạ bậc 1 tại mặt phân cách giữa không khí và môi trường điện môi nhám\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mặt đất trống, đường băng bê tông, mặt nước gợn sóng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đồng phân cực chiếm ưu thế, phân cực chéo rất nhỏ\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tán xạ thể tích (Volume scattering)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tán xạ đa hướng từ vô số thành phần tán xạ không đồng nhất ngẫu nhiên\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tán lá rừng, thảm thực vật dày, lớp băng tuyết khô\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phân cực chéo tăng cao do hiện tượng khử cực\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tán xạ phản xạ kép (Double-bounce)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sóng phản xạ liên tiếp qua 2 bề mặt vuông góc tạo hiệu ứng góc nhị diện\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thân cây trên mặt đất ngập nước, tường nhà trên mặt đường\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đồng phân cực rất mạnh, độ lệch pha giữa hai kênh xấp xỉ 180 độ\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch3>Tán xạ bề mặt và mô hình phương trình tích phân IEM\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Tán xạ từ một bề mặt điện môi phụ thuộc sâu sắc vào mối tương quan giữa độ nhám bề mặt và bước sóng radar. Khi bề mặt hoàn toàn nhẵn bóng so với bước sóng, phản xạ gương tuân theo định luật Snell chiếm ưu thế tuyệt đối: toàn bộ năng lượng bị hắt về phía trước theo hướng phản xạ góc bằng góc tới, khiến tín hiệu tán xạ ngược về radar triệt tiêu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi bề mặt có độ gồ ghề ngẫu nhiên, năng lượng sóng bị tán xạ khuếch tán ra mọi hướng. Năm 1992, Adrian K. Fung cùng các cộng sự đã công bố mô hình phương trình tích phân (Integral Equation Method, IEM). Mô hình IEM giải trực tiếp phương trình tích phân điện trường và từ trường trên bề mặt nhám ngẫu nhiên, kết nối hoàn chỉnh khoảng trống lý thuyết giữa mô hình nhiễu loạn nhỏ cổ điển (chỉ áp dụng cho bề mặt rất nhẵn) và phép xấp xỉ Kirchhoff (chỉ áp dụng cho độ nhám thoai thoải có bán kính cong lớn).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tán xạ thể tích trong thảm thực vật\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Khi sóng radar chiếu vào một khu rừng hoặc ruộng cây trồng, sóng thâm nhập qua tán lá và trải qua nhiều lần tán xạ liên tiếp giữa các cành cây, cuống lá và thân cây. Các thành phần tán xạ có hướng ngẫu nhiên này làm quay mặt phẳng phân cực của sóng tới, gây ra hiện tượng khử cực mạnh. Kết quả là năng lượng xuất hiện rõ rệt ở kênh phân cực chéo (như phát phân cực ngang H và thu phân cực dọc V, hoặc ngược lại).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tán xạ phản xạ kép\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Cơ chế phản xạ kép xuất hiện khi có hai bề mặt phản xạ vuông góc với nhau tạo thành một góc phản xạ nhị diện. Sóng radar chạm vào bề mặt phẳng thứ nhất (như mặt nước ngập hoặc mặt đất bằng phẳng), phản xạ đập vào bề mặt dựng đứng thứ 2 (như thân cây gỗ thẳng đứng hoặc vách tường công trình xây dựng), rồi phản xạ thẳng ngược trở lại anten radar. Cơ chế này bảo toàn năng lượng rất cao và tạo ra các điểm sáng có cường độ tán xạ ngược vượt trội trên ảnh radar.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân cực radar và các mô hình phân rã tán xạ\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Kỹ thuật radar phân cực toàn phần (Polarimetric SAR, PolSAR) khai thác tính chất phân cực của sóng điện từ bằng cách phát và thu đồng thời ở các trạng thái phân cực trực giao (phân cực ngang H và phân cực dọc V). Ma trận tán xạ đo được bao gồm 4 phần tử tương ứng với 4 kênh phân cực: đồng phân cực HH, VV và phân cực chéo HV, VH.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Phân rã phân cực Cloude-Pottier\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Năm 1997, Shane R. Cloude và Eric Pottier đề xuất phương pháp phân rã thống kê ma trận kết hợp 3x3 dựa trên phép phân rã trị riêng và vectơ riêng. Phương pháp này đưa ra 3 tham số vật lý nền tảng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Entropy phân cực (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H\u003C\u002Fscript>):\u003C\u002Fstrong> Đo lường mức độ ngẫu nhiên của các cơ chế tán xạ trong ô phân giải. Khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H = 0\u003C\u002Fscript>, vùng khảo sát chỉ có duy nhất một cơ chế tán xạ thuần khiết; khi \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H\u003C\u002Fscript> tiến tới 1, các cơ chế tán xạ hoàn toàn ngẫu nhiên và hỗn loạn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Góc alpha trung bình (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\alpha\u003C\u002Fscript>):\u003C\u002Fstrong> Cho biết loại cơ chế tán xạ vật lý chiếm ưu thế. Góc alpha nhỏ chỉ ra tán xạ bề mặt, góc trung gian tương ứng tán xạ thể tích, và góc lớn tiếp cận giá trị cực đại biểu thị tán xạ phản xạ kép.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ bất đẳng hướng (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">A\u003C\u002Fscript>):\u003C\u002Fstrong> Đánh giá tầm quan trọng tương đối giữa trị riêng thứ hai và trị riêng thứ 3 của ma trận kết hợp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Mô hình phân rã Freeman-Durden và Yamaguchi\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Năm 1998, Anthony Freeman và Stephen L. Durden đã công bố một mô hình phân tích phân rã dựa trên vật lý trực tiếp, phân chia tổng công suất tán xạ thu nhận được thành tổng của 3 thành phần tán xạ độc lập:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">P = P_s + P_v + P_d\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong biểu thức này, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">P_s\u003C\u002Fscript> là công suất đóng góp từ tán xạ bề mặt bậc 1, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">P_v\u003C\u002Fscript> là công suất tán xạ thể tích từ tán lá cây, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">P_d\u003C\u002Fscript> là công suất tán xạ phản xạ kép từ các góc nhị diện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Đến năm 2005, Yoshio Yamaguchi cùng các cộng sự đã hoàn thiện và mở rộng mô hình này thành mô hình phân rã 4 thành phần tán xạ:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">P = P_s + P_v + P_d + P_h\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó, thành phần \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">P_h\u003C\u002Fscript> là công suất tán xạ xoắn ốc (helix scattering), được bổ sung để mô tả chính xác sự bất đối xứng phản chiếu thường xuất hiện trong các khu vực đô thị có các toà nhà bố trí lệch góc so với quỹ đạo bay của vệ tinh radar.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tán xạ radar trong khí tượng thủy văn\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Trong lĩnh vực khí tượng học, các trạm radar thời tiết sử dụng sóng vi ba để phát hiện và định lượng lượng mưa trong khí quyển. Sự tán xạ sóng điện từ từ các hạt mưa, tinh thể băng hoặc hạt mưa đá phụ thuộc trực tiếp vào tỷ số giữa kích thước hạt và bước sóng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi đường kính hạt nước \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">D\u003C\u002Fscript> nhỏ hơn nhiều so với bước sóng radar \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda\u003C\u002Fscript>, hiện tượng tán xạ tuân theo định luật tán xạ Rayleigh. Tiết diện tán xạ ngược của từng hạt tỷ lệ thuận với luỹ thừa bậc 6 của đường kính hạt và tỷ lệ nghịch với luỹ thừa bậc 4 của bước sóng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\sigma \\propto \\frac{D^6}{\\lambda^4}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Vì vậy, độ phản hồi radar tổng hợp đo được từ một thể tích mây mưa phản ánh mật độ và kích thước hạt nước, tạo tiền đề để tính toán cường độ mưa tức thời theo thời gian thực phục vụ cảnh báo thiên tai bão lũ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Giới hạn và các yếu tố ảnh hưởng\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Quá trình đo đạc và giải đoán tán xạ radar chịu tác động của nhiều yếu tố vật lý phức tạp:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Góc tới của chùm sóng:\u003C\u002Fstrong> Góc tới càng lớn thì quãng đường sóng thâm nhập qua khí quyển càng dài và thành phần tán xạ ngược từ mặt đất bằng phẳng càng suy giảm nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ ẩm và hằng số điện môi:\u003C\u002Fstrong> Nước lỏng có hằng số điện môi rất cao so với đất khô. Khi độ ẩm bề mặt đất tăng, khả năng phản xạ điện từ tăng vọt, dẫn tới sự thay đổi đột ngột của hệ số tán xạ ngược.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng nhiễu đốm (speckle noise):\u003C\u002Fstrong> Do sóng radar có tính kết hợp pha cao, các sóng con tán xạ từ nhiều điểm vi mô trong cùng một ô phân giải sẽ giao thoa tăng cường hoặc triệt tiêu lẫn nhau một cách ngẫu nhiên, tạo nên các đốm hạt sáng tối đặc trưng trên ảnh radar, đòi hỏi phải áp dụng các thuật toán lọc không gian hoặc xử lý đa hướng nhìn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiệu ứng che khuất hình học:\u003C\u002Fstrong> Địa hình đồi núi dốc đứng gây ra hiện tượng co ngắn sườn dốc (foreshortening), đè chồng ảnh (layover) và bóng râm radar (shadowing), làm biến dạng hoàn toàn thông tin tán xạ đo được.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng giám sát tài nguyên và môi trường tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Việt Nam là quốc gia nhiệt đới gió mùa có độ che phủ mây quanh năm rất lớn, khiến các hệ thống viễn thám quang học truyền thống gặp nhiều trở ngại trong việc thu thập dữ liệu ảnh liên tục. Radar vi ba có khả năng xuyên qua mây mù, mưa nhỏ và chụp ảnh không phụ thuộc vào điều kiện chiếu sáng ban ngày hay ban đêm, trở thành công cụ quan trắc viễn thám chiến lược.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Vào năm 2021, nhóm các nhà khoa học gồm Hoa Phan, Thuy Le Toan và Alexandre Bouvet đã công bố công trình nghiên cứu sử dụng chuỗi thời gian hệ số tán xạ ngược radar đa thời gian của vệ tinh Sentinel-1 băng C để theo dõi quá trình canh tác lúa tại tỉnh An Giang thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã chứng minh rằng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>Tại thời điểm chuẩn bị đồng ruộng và gieo sạ, ruộng lúa ngập nước hoạt động như bề mặt phản xạ gương, làm hệ số tán xạ ngược sigma 0 giảm xuống mức cực tiểu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Khi lúa phát triển qua giai đoạn đẻ nhánh và làm đòng, sinh khối cây lúa tăng lên, cơ chế tán xạ thể tích và tán xạ phản xạ kép giữa thân lúa và mặt nước tăng mạnh, kéo theo sự gia tăng liên tục của hệ số tán xạ ngược.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Dựa vào quy luật biến thiên theo thời gian của hệ số tán xạ ngược trên các kênh phân cực, các nhà nghiên cứu có thể ước lượng khoảng thời gian gieo sạ và lập bản đồ cơ cấu mùa vụ lúa hai vụ hoặc 3 vụ trong khu vực nghiên cứu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Bên cạnh ứng dụng theo dõi canh tác nông nghiệp, phân tích hệ số tán xạ radar vi ba còn là phương pháp then chốt phục vụ công tác quản lý tài nguyên và phòng chống thiên tai tại các vùng trũng thấp. Do mặt nước ngập gây phản xạ gương làm giảm đột ngột cường độ tán xạ ngược, dữ liệu radar cho phép phát hiện và khoanh vùng nhanh chóng ranh giới ngập úng diện rộng trong mùa mưa bão mà không bị cản trở bởi mây mù dày đặc, đồng thời hỗ trợ theo dõi diễn biến sinh khối tại các khu vực rừng ngập mặn ven biển.\u003C\u002Fp>","radar scattering",[19,20],"tán xạ sóng radar","tán xạ ngược radar","Tán xạ radar là hiện tượng sóng điện từ phát đi từ hệ thống radar tương tác với vật thể hoặc môi trường truyền dẫn, làm đổi hướng lan truyền của năng lượng điện từ theo nhiều hướng trong không gian, trong đó phần năng lượng quay ngược trở lại anten thu được gọi là tán xạ ngược.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[24,32,40,48,56],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":31},"Fung, A. K., Li, Z., & Chen, K. S. (1992). Backscattering from a randomly rough dielectric surface. IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 30(2), 356-369.","Backscattering from a randomly rough dielectric surface","Adrian K. Fung, Z. Li, K. S. Chen","IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 30(2), 356-369",1992,"10.1109\u002F36.134085","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002F36.134085",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":39},"Cloude, S. R., & Pottier, E. (1997). An entropy based classification scheme for land applications of polarimetric SAR. IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 35(1), 68-78.","An entropy based classification scheme for land applications of polarimetric SAR","Shane R. Cloude, Eric Pottier","IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 35(1), 68-78",1997,"10.1109\u002F36.551935","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002F36.551935",{"citationText":41,"title":42,"authors":43,"source":44,"year":45,"doi":46,"url":47},"Freeman, A., & Durden, S. L. (1998). A three-component scattering model for polarimetric SAR data. IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 36(3), 963-973.","A three-component scattering model for polarimetric SAR data","Anthony Freeman, Stephen L. Durden","IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 36(3), 963-973",1998,"10.1109\u002F36.673687","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002F36.673687",{"citationText":49,"title":50,"authors":51,"source":52,"year":53,"doi":54,"url":55},"Yamaguchi, Y., Moriyama, T., Ishido, M., & Yamada, H. (2005). Four-component scattering model for polarimetric SAR image decomposition. IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 43(8), 1699-1706.","Four-component scattering model for polarimetric SAR image decomposition","Yoshio Yamaguchi, T. Moriyama, M. Ishido, H. Yamada","IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, 43(8), 1699-1706",2005,"10.1109\u002FTGRS.2005.852084","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1109\u002FTGRS.2005.852084",{"citationText":57,"title":58,"authors":59,"source":60,"year":61,"doi":62,"url":63},"Phan, H., Le Toan, T., & Bouvet, A. (2021). Understanding Dense Time Series of Sentinel-1 Backscatter from Rice Fields: Case Study in a Province of the Mekong Delta, Vietnam. Remote Sensing, 13(5), 921.","Understanding Dense Time Series of Sentinel-1 Backscatter from Rice Fields: Case Study in a Province of the Mekong Delta, Vietnam","Hoa Phan, Thuy Le Toan, Alexandre Bouvet","Remote Sensing, 13(5), 921",2021,"10.3390\u002Frs13050921","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.3390\u002Frs13050921",[65,68,71,74],{"question":66,"answer":67},"Tán xạ ngược radar khác gì so với tán xạ radar tổng quát?","Tán xạ radar bao gồm toàn bộ hiện tượng năng lượng sóng điện từ bị phân tán theo mọi phương hướng trong không gian sau khi tương tác với mục tiêu. Tán xạ ngược radar là thành phần tán xạ có hướng lan truyền quay ngược chính xác 180 độ về phía anten thu của hệ thống radar, đóng vai trò quyết định trong việc phát hiện và tạo ảnh mục tiêu.",{"question":69,"answer":70},"Diện tích phản xạ hiệu dụng radar (RCS) và hệ số tán xạ ngược sigma 0 khác nhau như thế nào?","Diện tích phản xạ hiệu dụng radar (RCS, ký hiệu sigma) là đại lượng đặc trưng cho khả năng tán xạ ngược của mục tiêu điểm rời rạc như máy bay hay tàu thuỷ, có đơn vị là mét vuông hoặc dBsm. Trong khi đó, hệ số tán xạ ngược vi sai chuẩn hoá sigma 0 là đại lượng không thứ nguyên biểu thị tiết diện tán xạ trên một đơn vị diện tích mặt đất, dùng cho các mục tiêu phân bố liên tục như đồng ruộng, rừng cây hay mặt biển.",{"question":72,"answer":73},"Ba cơ chế tán xạ cơ bản trong phân rã phân cực SAR là gì?","Theo mô hình phân rã phân cực Freeman-Durden, ba cơ chế tán xạ cơ bản gồm tán xạ bề mặt (tán xạ phản xạ bậc 1 từ mặt đất hoặc mặt nước nhám), tán xạ thể tích (tán xạ đa hướng ngẫu nhiên từ cấu trúc cành lá trong tán cây hoặc thảm thực vật) và tán xạ phản xạ kép (xảy ra tại các góc vuông nhị diện giữa mặt đất và thân cây hoặc chân tường nhà).",{"question":75,"answer":76},"Tại sao chuỗi thời gian tán xạ ngược radar lại theo dõi được mùa vụ lúa?","Trong chu kỳ sinh trưởng của lúa, cơ chế tán xạ biến đổi rõ rệt: giai đoạn đầu khi ruộng ngập nước, tán xạ gương chiếm ưu thế khiến tín hiệu tán xạ ngược về anten rất thấp; khi lúa phát triển cành lá, tán xạ thể tích và tán xạ phản xạ kép giữa thân cây lúa và mặt nước tăng mạnh, làm hệ số tán xạ ngược tăng liên tục cho tới trước giai đoạn thu hoạch.",{"id":78,"researcherId":10,"name":79,"imageUrl":80},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":78,"researcherId":10,"name":79,"imageUrl":80},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:15.619+00:00","2026-11-05T08:01:52.939+00:00","2026-11-05T08:01:52.883+00:00",0,[90,100,105,110,115,120,125,130,135,140],{"id":91,"title":92,"term":93,"englishTitle":94,"definition":95,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":103,"definition":104,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":108,"definition":109,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":113,"definition":114,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":118,"definition":119,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"trao đổi nhiệt","Trao đổi nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","heat transfer","Trao đổi nhiệt là quá trình truyền năng lượng nhiệt giữa các vật thể hoặc hệ thống vật lý có sự chênh lệch nhiệt độ qua ba cơ chế dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ cho đến khi đạt trạng thái cân bằng nhiệt.",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":128,"definition":129,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":131,"title":132,"term":131,"englishTitle":133,"definition":134,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":22,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]