[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_t%C3%A0i%20ch%C3%ADnh%20h%E1%BB%99%20gia%20%C4%91%C3%ACnh{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_t%C3%A0i%20ch%C3%ADnh%20h%E1%BB%99%20gia%20%C4%91%C3%ACnh":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":20,"discipline":21,"references":22,"faqs":71,"createUser":84,"publishUser":88,"keywords":89,"keywordCount":85,"enrichTopicLink":90,"status":91,"createTime":92,"updateTime":93,"publishTime":94,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":95,"wikidataId":10,"relateTopics":96},"tài chính hộ gia đình","Tài chính hộ gia đình (household finance) là gì?","Tài chính hộ gia đình là phân ngành kinh tế học nghiên cứu cách cá nhân và gia đình phân bổ nguồn lực tài chính, quản lý nợ và đầu tư theo chu kỳ vòng đời.","\u003Cp>Tài chính hộ gia đình (household finance) là phân ngành của kinh tế học tài chính nghiên cứu cách thức các cá nhân và hộ gia đình đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực tài chính, quản lý danh mục tài sản, huy động nợ vay và phòng ngừa rủi ro nhằm tối đa hóa phúc lợi qua các giai đoạn của vòng đời. Phân ngành này phân tích cả khía cạnh chuẩn tắc về cách hộ gia đình nên tối ưu hóa quyết định kinh tế lẫn khía cạnh thực chứng về các hành vi sai lệch trong thực tế dưới tác động của tâm lý học, ma sát thị trường và cấu trúc thể chế.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất và phạm vi của tài chính hộ gia đình\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong kinh tế học truyền thống, lý thuyết tài chính doanh nghiệp tập trung vào việc tối đa hóa giá trị cổ đông của các công ty thông qua quyết định đầu tư và cấu trúc vốn, trong khi lý thuyết định giá tài sản phân tích sự hình thành giá cả cân bằng trên thị trường vốn. Tài chính hộ gia đình ra đời như một lĩnh vực độc lập nhằm khỏa lấp khoảng trống giữa hai lý thuyết trên, đặt trọng tâm vào đơn vị tiêu dùng và tích lũy cơ bản nhất của nền kinh tế là hộ gia đình. Theo công trình tổng kết nền tảng của nhà kinh tế học John Y. Campbell (2006), phân ngành này xem xét cách thức các định chế và sản phẩm tài chính đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân, đồng thời chỉ ra những điểm khác biệt căn bản giữa hành vi thực tế của các hộ gia đình với các giả định về con người duy lý hoàn hảo trong lý thuyết tài chính cổ điển.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bảng cân đối kế toán của một hộ gia đình có cấu trúc phức tạp và mang nhiều đặc thù khác biệt sâu sắc so với doanh nghiệp. Về phía tài sản, hộ gia đình nắm giữ hai nhóm tài sản chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Tài sản tài chính:\u003C\u002Fstrong> Bao gồm tiền mặt, tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, chứng chỉ quỹ, cổ phiếu, trái phiếu và các khoản bảo hiểm hoặc quyền lợi hưu trí tích lũy.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Tài sản phi tài chính (tài sản thực):\u003C\u002Fstrong> Bao gồm quyền sử dụng đất, nhà ở, phương tiện đi lại, máy móc phục vụ sinh kế và tài sản thừa kế. Trong đó, bất động sản nhà ở thường chiếm giá trị lớn nhất nhưng có tính thanh khoản thấp và chi phí giao dịch cao.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Về phía nguồn vốn và nợ phải trả, hộ gia đình quản lý các khoản nghĩa vụ tài chính gồm vay mua nhà trả góp, tín dụng tiêu dùng, vay kinh doanh cá thể và các khoản vay phi chính thức từ mạng lưới xã hội. Ngoài ra, nguồn lực cốt lõi nhưng vô hình của hộ gia đình là vốn nhân lực, tức giá trị hiện tại của dòng thu nhập lao động kỳ vọng trong tương lai của các thành viên. Vốn nhân lực chịu rủi ro thất nghiệp, bệnh tật và suy giảm năng suất theo tuổi tác, đòi hỏi hộ gia đình phải có chiến lược bảo hiểm và đa dạng hóa thích hợp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Mô hình chuẩn mực và phương trình phân bổ ngân sách\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khung phân tích lý thuyết chuẩn mực của tài chính hộ gia đình dựa trên mô hình chu kỳ vòng đời kết hợp tối ưu hóa tiêu dùng liên thời gian. Hộ gia đình tìm cách làm mượt mức tiêu dùng qua các thời kỳ bằng cách tiết kiệm khi thu nhập lao động cao và rút dần của cải tích lũy khi bước vào tuổi nghỉ hưu. Trong điều kiện đơn giản hóa, phương trình cân đối ngân sách liên thời gian của hộ gia đình tại thời kỳ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">t\u003C\u002Fscript> được biểu diễn như sau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">C_t + A_t = Y_t + (1 + r_t) A_{t-1}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>với \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_t\u003C\u002Fscript> là giá trị chi tiêu tiêu dùng thực tế trong thời kỳ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">t\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">A_t\u003C\u002Fscript> là tổng giá trị tài sản ròng tích lũy tại cuối thời kỳ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">t\u003C\u002Fscript>, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Y_t\u003C\u002Fscript> là thu nhập lao động khả dụng nhận được trong kỳ, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">r_t\u003C\u002Fscript> là tỷ suất sinh lời thực tế của danh mục tài sản chuyển tiếp từ kỳ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">t-1\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi đối mặt với sự không chắc chắn về thu nhập và tuổi thọ, hộ gia đình tối đa hóa kỳ vọng tổng độ thỏa dụng chiết khấu qua các thời kỳ:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">V = \\mathbb{E}_0 \\left[ \\sum_{t=0}^{T} \\beta^t U(C_t) \\right]\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>với \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V\u003C\u002Fscript> là tổng hàm thỏa dụng kỳ vọng liên thời gian, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mathbb{E}_0\u003C\u002Fscript> là toán tử kỳ vọng có điều kiện tại thời điểm ban đầu, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\beta\u003C\u002Fscript> là hệ số chiết khấu thời gian phản ánh mức độ kiên nhẫn của hộ gia đình, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">U(C_t)\u003C\u002Fscript> là hàm thỏa dụng tức thời tại mức tiêu dùng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_t\u003C\u002Fscript>, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">T\u003C\u002Fscript> là khoảng thời gian kỳ vọng của vòng đời kinh tế.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các câu đố thực nghiệm và sự sai lệch hành vi\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trái ngược với các dự báo của mô hình tối ưu hóa chuẩn mực, các nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn đã phát hiện hàng loạt hiện tượng dị biệt trong hành vi tài chính của hộ gia đình:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Nghịch lý không tham gia thị trường chứng khoán\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại chỉ ra rằng miễn là phần bù rủi ro vốn cổ phần mang giá trị dương, mọi nhà đầu tư có mức độ ác cảm rủi ro hữu hạn đều nên phân bổ một tỷ lệ tài sản nhất định vào cổ phiếu để tối ưu hóa lợi suất kỳ vọng. Tuy nhiên, trên thực tế, một tỷ lệ rất lớn các hộ gia đình hoàn toàn không sở hữu bất kỳ cổ phiếu nào, kể cả gián tiếp qua các quỹ tương hỗ. Theo tổng quan nghiên cứu chuyên sâu của Luigi Guiso và Paolo Sodini (2013), rào cản chi phí tham gia cố định và sự thiếu hụt niềm tin xã hội vào tính minh bạch của các định chế tài chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghịch lý này.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đa dạng hóa danh mục dưới mức tối ưu\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Nhiều hộ gia đình khi tham gia thị trường lại tập trung tỷ trọng vốn quá lớn vào một số ít mã cổ phiếu riêng lẻ hoặc cổ phiếu của chính công ty nơi họ làm việc. Hành vi này vi phạm nguyên lý đa dạng hóa cơ bản, khiến họ phải gánh chịu rủi ro phi hệ thống mà không nhận được phần bù rủi ro tương ứng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Hành vi vay nợ và quản lý thế chấp\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Nghiên cứu của John Y. Campbell (2006) chỉ ra rằng nợ thế chấp bất động sản là nghĩa vụ nợ đơn lẻ lớn nhất đối với đa số hộ gia đình. Hộ gia đình thường chậm trễ trong việc tái cấp vốn khi lãi suất thị trường giảm, dẫn đến tổn thất tài chính đáng kể. Ngược lại, nhiều hộ gia đình nắm giữ đồng thời các khoản nợ thẻ tín dụng lãi suất rất cao trong khi vẫn duy trì số dư tiền gửi thanh toán có lãi suất gần bằng không, một hiện tượng phản ánh sự phân chia tài khoản tâm lý thiếu hợp lý.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cấu trúc tài sản và đòn bẩy tài chính trong chu kỳ kinh tế\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tài sản của hộ gia đình có mối liên hệ mật thiết với sự ổn định kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu so sánh quốc tế của Cristian Badarinza, John Y. Campbell và Tarun Ramadorai (2016) khảo sát 13 quốc gia phát triển cho thấy tài sản thực tế, đặc biệt là bất động sản nhà ở, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên bảng cân đối kế toán của hộ gia đình, đạt mức trung bình 55,1% tổng tài sản (dao động từ 36,6% ở Đức đến 77,4% ở Slovakia). Do bất động sản chiếm tỷ trọng chi phối, sự biến động của giá nhà tạo ra hiệu ứng của cải mạnh mẽ đối với hành vi tiêu dùng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Mối liên hệ giữa đòn bẩy hộ gia đình và khủng hoảng kinh tế đã được Atif Mian và Amir Sufi (2011) làm sáng tỏ. Nghiên cứu thực nghiệm của Mian và Sufi (2011) cho thấy trong giai đoạn trước năm 2008 tại Hoa Kỳ, việc nới lỏng tín dụng đã thúc đẩy các hộ gia đình vay nợ ồ ạt dựa trên sự gia tăng giá trị định giá của nhà ở. Khi bong bóng bất động sản đổ vỡ, các hộ gia đình có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao rơi vào tình trạng vỡ nợ hàng loạt và buộc phải cắt giảm chi tiêu đột ngột, trở thành nguyên nhân cốt lõi kích hoạt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bảng dưới đây so sánh các đặc tính vận hành giữa danh mục tài sản tài chính và tài sản phi tài chính của hộ gia đình:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n    \u003Cthead>\n        \u003Ctr>\n            \u003Cth>Tiêu chí so sánh\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Tài sản tài chính\u003C\u002Fth>\n            \u003Cth>Tài sản phi tài chính (Bất động sản)\u003C\u002Fth>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Fthead>\n    \u003Ctbody>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Tính thanh khoản\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Thanh khoản thấp, thời gian giao dịch kéo dài và phụ thuộc chu kỳ thị trường\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Chi phí giao dịch\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Chi phí giao dịch thấp, phí môi giới và quản lý ở mức cạnh tranh\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Chi phí giao dịch cao, bao gồm thuế chuyển nhượng, phí trước bạ và phí công chứng\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Khả năng phân chia\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Có thể phân chia linh hoạt thành các đơn vị giá trị nhỏ\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Tính nguyên khối cao, khó chia nhỏ để chuyển nhượng từng phần\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n        \u003Ctr>\n            \u003Ctd>Độ nhạy thông tin\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Giá cả phản ánh liên tục trên thị trường thứ cấp tập trung\u003C\u002Ftd>\n            \u003Ctd>Thông tin phân tán, bất cân xứng thông tin lớn giữa các bên tham gia\u003C\u002Ftd>\n        \u003C\u002Ftr>\n    \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Vai trò của hiểu biết tài chính và vốn xã hội\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khả năng đưa ra quyết định tài chính đúng đắn không phân bố đồng đều giữa các tầng lớp dân cư. Nghiên cứu kinh tế chuẩn mực của Annamaria Lusardi và Olivia S. Mitchell (2014) đã thiết lập khung đánh giá hiểu biết tài chính thông qua bộ 3 câu hỏi cơ bản kiểm tra nhận thức về cơ chế tính lãi kép, tác động xói mòn của lạm phát và nguyên tắc đa dạng hóa rủi ro đầu tư. Lusardi và Mitchell (2014) chỉ ra rằng những người thiếu hiểu biết tài chính có xác suất rất thấp trong việc lập kế hoạch hưu trí độc lập, ít tham gia vào thị trường chứng khoán và dễ rơi vào tình trạng vay mượn chi phí cao với gánh nặng lãi suất lũy kế.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bên cạnh yếu tố kiến thức cá nhân, các yếu tố xã hội đóng vai trò bù đắp quan trọng trong môi trường thị trường đang phát triển. Tại Việt Nam, nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Hà và Huỳnh (Ha và Huynh, 2022) dựa trên bộ dữ liệu bảng gồm 4874 quan sát hộ kinh doanh cá thể đã chỉ ra rằng vốn xã hội có tác động tích cực trong việc giảm chi phí sử dụng nợ. Mạng lưới quan hệ xã hội và sự hỗ trợ từ các tổ chức kinh tế giúp củng cố niềm tin và giảm thiểu mức độ bất cân xứng thông tin giữa bên vay và các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh gia đình tiếp cận các nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh với điều kiện chi phí thuận lợi hơn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc thù tài chính hộ gia đình tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, tài chính hộ gia đình phản ánh các nét đặc trưng của một nền kinh tế chuyển đổi đang trong quá trình hiện đại hóa hệ thống tài chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Khu vực hộ kinh doanh cá thể:\u003C\u002Fstrong> Ranh giới giữa tài chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình tại Việt Nam thường mờ nhạt đối với các hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp và thương mại dịch vụ nhỏ lẻ. Nguồn vốn kinh doanh phụ thuộc mật thiết vào tài sản thế chấp nhà đất của gia đình và các dòng vốn luân chuyển nội bộ.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Tín dụng phi chính thức:\u003C\u002Fstrong> Bên cạnh hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính vi mô, các hình thức tích lũy và tín dụng tương hỗ truyền thống như họ, hụi, biêu, phường vẫn tồn tại phổ biến ở cả thành thị và nông thôn. Mặc dù đáp ứng nhu cầu vốn khẩn cấp, các hình thức này tiềm ẩn rủi ro đổ vỡ dây chuyền khi thiếu vắng cơ chế giám sát pháp lý.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Sự bùng nổ của công nghệ tài chính:\u003C\u002Fstrong> Sự phổ cập của ngân hàng số và các nền tảng ví điện tử đã cải thiện đáng kể mức độ bao trùm tài chính, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ thanh toán và tiết kiệm vi mô. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các ứng dụng vay tiêu dùng trực tuyến cũng kéo theo nguy cơ nợ quá khả năng chi trả đối với nhóm người có kiến thức tài chính hạn chế.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Ranh giới áp dụng và các vấn đề nghiên cứu còn mở\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù tài chính hộ gia đình đã phát triển thành một hệ thống lý thuyết vững chắc, việc ứng dụng các mô hình này vẫn gặp phải một số rào cản và giới hạn phương pháp luận:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Giới hạn của dữ liệu vi mô:\u003C\u002Fstrong> Thu thập dữ liệu tài sản và nợ của hộ gia đình thường gặp hiện tượng sai số đo lường do người được phỏng vấn từ chối tiết lộ thông tin tài sản chính xác hoặc đánh giá sai giá trị bất động sản sở hữu.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Động lực nội bộ hộ gia đình:\u003C\u002Fstrong> Đa phần các mô hình kinh tế giả định hộ gia đình hành xử như một tác nhân kinh tế đơn lẻ (unitary model). Trong thực tế, các quyết định tài chính lớn là kết quả của quá trình thương lượng, thỏa hiệp hoặc xung đột lợi ích giữa các thành viên có sở thích tiêu dùng và mức độ e ngại rủi ro khác nhau.\u003C\u002Fli>\n    \u003Cli>\u003Cstrong>Tác động của trí tuệ nhân tạo và tư vấn tự động:\u003C\u002Fstrong> Xu hướng ứng dụng các thuật toán tư vấn tài chính tự động (robo-advisor) đặt ra câu hỏi mở về việc liệu công nghệ có thể khắc phục triệt để các sai lệch tâm lý của con người hay lại tạo ra những rủi ro đạo đức mới trong quản lý của cải hộ gia đình.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","household finance",[19],"tài chính gia đình","Tài chính hộ gia đình là phân ngành của kinh tế học tài chính nghiên cứu cách thức các cá nhân và hộ gia đình quản lý tài sản, nợ vay, bảo hiểm và lập kế hoạch ngân sách qua các giai đoạn vòng đời.","SOCIAL_SCIENCES",[23,31,39,47,55,63],{"citationText":24,"title":25,"authors":26,"source":27,"year":28,"doi":29,"url":30},"Campbell, J. Y. (2006). Household Finance. The Journal of Finance, 61(4), 1553-1604.","Household Finance","Campbell, J. Y.","The Journal of Finance",2006,"10.1111\u002Fj.1540-6261.2006.00883.x","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1111\u002Fj.1540-6261.2006.00883.x",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":38},"Guiso, L., & Sodini, P. (2013). Household Finance: An Emerging Field. Handbook of the Economics of Finance, 2, 1397-1532.","Household Finance: An Emerging Field","Guiso, L., & Sodini, P.","Handbook of the Economics of Finance",2013,"10.1016\u002Fb978-0-44-459406-8.00021-4","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fb978-0-44-459406-8.00021-4",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":46},"Lusardi, A., & Mitchell, O. S. (2014). The Economic Importance of Financial Literacy: Theory and Evidence. Journal of Economic Literature, 52(1), 5-44.","The Economic Importance of Financial Literacy: Theory and Evidence","Lusardi, A., & Mitchell, O. S.","Journal of Economic Literature",2014,"10.1257\u002Fjel.52.1.5","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1257\u002Fjel.52.1.5",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":54},"Badarinza, C., Campbell, J. Y., & Ramadorai, T. (2016). International Comparative Household Finance. Annual Review of Economics, 8, 111-144.","International Comparative Household Finance","Badarinza, C., Campbell, J. Y., & Ramadorai, T.","Annual Review of Economics",2016,"10.1146\u002Fannurev-economics-080315-015425","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1146\u002Fannurev-economics-080315-015425",{"citationText":56,"title":57,"authors":58,"source":59,"year":60,"doi":61,"url":62},"Mian, A., & Sufi, A. (2011). House Prices, Home Equity–Based Borrowing, and the US Household Leverage Crisis. American Economic Review, 101(5), 2132-2167.","House Prices, Home Equity–Based Borrowing, and the US Household Leverage Crisis","Mian, A., & Sufi, A.","American Economic Review",2011,"10.1257\u002Faer.101.5.2132","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1257\u002Faer.101.5.2132",{"citationText":64,"title":65,"authors":66,"source":67,"year":68,"doi":69,"url":70},"Ha, P. V., & Huynh, H. H. (2022). Social capital and cost of debt in Vietnamese household businesses. Cogent Business & Management, 9(1), 2112820.","Social capital and cost of debt in Vietnamese household businesses","Ha, P. V., & Huynh, H. H.","Cogent Business & Management",2022,"10.1080\u002F23311975.2022.2112820","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1080\u002F23311975.2022.2112820",[72,75,78,81],{"question":73,"answer":74},"Tài chính hộ gia đình khác gì so với tài chính doanh nghiệp?","Tài chính doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông và lợi nhuận công ty thông qua cấu trúc vốn và dự án đầu tư. Ngược lại, tài chính hộ gia đình tập trung vào tối ưu hóa mức độ thỏa dụng và phúc lợi tiêu dùng của các thành viên gia đình qua các giai đoạn vòng đời, đồng thời chịu ràng buộc bởi vốn nhân lực và các rào cản hành vi tâm lý.",{"question":76,"answer":77},"Nghịch lý không tham gia thị trường chứng khoán trong tài chính hộ gia đình là gì?","Nghịch lý không tham gia thị trường chứng khoán chỉ hiện tượng thực nghiệm khi một tỷ lệ lớn các hộ gia đình hoàn toàn không đầu tư vào cổ phiếu, dù phần bù rủi ro vốn cổ phần trong dài hạn mang giá trị dương. Các nhà kinh tế học giải thích nghịch lý này chủ yếu qua chi phí cố định khi tiếp cận thị trường và sự thiếu hụt niềm tin xã hội vào các định chế tài chính.",{"question":79,"answer":80},"Bộ ba câu hỏi đánh giá hiểu biết tài chính của Lusardi và Mitchell gồm những nội dung gì?","Bộ ba câu hỏi chuẩn mực do hai nhà kinh tế học Annamaria Lusardi và Olivia S. Mitchell phát triển nhằm kiểm tra nhận thức thực tế của người dân về ba nguyên lý tài chính cốt lõi gồm: cơ chế tính lãi kép, tác động xói mòn giá trị của lạm phát và lợi ích của việc đa dạng hóa rủi ro đầu tư.",{"question":82,"answer":83},"Tại sao tài sản bất động sản lại chi phối bảng cân đối kế toán của hộ gia đình?","Theo nghiên cứu so sánh quốc tế của Badarinza và cộng sự (2016), bất động sản nhà ở vừa là nơi cư trú thiết yếu vừa là tài sản tích lũy lớn nhất, chiếm trung bình 55,1% tổng tài sản của hộ gia đình (dao động từ 36,6% đến 77,4% tùy quốc gia). Do có giá trị lớn và tính thanh khoản thấp, biến động giá nhà tác động mạnh mẽ đến hiệu ứng của cải và mức độ ổn định tài chính của nền kinh tế.",{"id":85,"researcherId":10,"name":86,"imageUrl":87},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":85,"researcherId":10,"name":86,"imageUrl":87},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.565+00:00","2026-09-28T01:38:32.379+00:00","2026-09-28T01:38:32.340+00:00",0,[97,106,112,116,121,126,130,135,140,145],{"id":98,"title":99,"term":98,"englishTitle":100,"definition":101,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"chuẩn chủ quan","Chuẩn chủ quan là gì? Cấu trúc và ứng dụng","subjective norm","Chuẩn chủ quan (subjective norm) là nhận thức của một cá nhân về áp lực và kỳ vọng xã hội từ những người hoặc nhóm tham chiếu quan trọng đối với việc họ nên hay không nên thực hiện một hành vi cụ thể.","social-sciences","Khoa học xã hội","#E08600","users",{"id":107,"title":108,"term":109,"englishTitle":110,"definition":111,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"tương tác xã hội","Tương tác xã hội là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Tương tác xã hội","social interaction","Tương tác xã hội (social interaction) là quá trình giao tiếp, hành động và phản ứng tương hỗ qua lại có ý nghĩa biểu trưng giữa hai hay nhiều cá nhân hoặc nhóm người trong một bối cảnh xã hội xác định.",{"id":113,"title":114,"term":113,"englishTitle":113,"definition":115,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"context","Context là gì? Các công bố khoa học về Context","Context (ngữ cảnh\u002Fbối cảnh) là tập hợp toàn bộ các điều kiện, hoàn cảnh, dữ kiện xung quanh và trạng thái môi trường có liên quan trực tiếp đến việc định hình ý nghĩa, nhận thức và hành vi của một đối tượng hoặc hệ thống.",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":119,"definition":120,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"thành tích học tập","Thành tích học tập là gì? Yếu tố tâm lý Richardson, Hattie và SES Sirin","academic achievement","Thành tích học tập là mức độ nắm vững tri thức, kỹ năng tư duy và phẩm chất của người học được định lượng qua điểm số và đánh giá chuẩn hóa, chịu sự chi phối của tự nhận thức học thuật Richardson, chiến lược sư phạm Hattie và điều kiện kinh tế xã hội Sirin.",{"id":122,"title":123,"term":122,"englishTitle":124,"definition":125,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"hài hước","Hài hước là gì? Cơ sở tâm lý học, thần kinh và ứng dụng","humor","Hài hước là hiện tượng tâm lý - nhận thức và hành vi xã hội đặc trưng bởi khả năng tạo ra, cảm nhận và biểu đạt các kích thích mang tính bất đối xứng, phi lý hoặc bất ngờ nhằm khơi gợi tiếng cười, niềm vui và sự gắn kết liên cá nhân.",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":127,"definition":129,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"pedagogy","Pedagogy là gì? Các nghiên cứu khoa học về Pedagogy","Pedagogy là khoa học và nghệ thuật giáo dục nghiên cứu về lý thuyết, phương pháp giảng dạy và quá trình tương tác sư phạm nhằm tối ưu hóa việc học.",{"id":131,"title":132,"term":131,"englishTitle":133,"definition":134,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"cô lập xã hội","Cô lập xã hội là gì? Tác động sức khỏe và biện pháp can thiệp","social isolation","Cô lập xã hội là tình trạng khách quan khi một cá nhân thiếu hụt các mối quan hệ và tiếp xúc xã hội thường xuyên, gây ra các nguy cơ bệnh lý tim mạch, tâm thần và tử vong sớm.",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"nghiên cứu theo chiều dọc","Nghiên cứu theo chiều dọc là gì? Các phân tích khoa học","Longitudinal Study","Nghiên cứu theo chiều dọc là một thiết kế nghiên cứu quan sát trong đó dữ liệu được thu thập lặp lại từ cùng một nhóm đối tượng qua nhiều mốc thời gian liên tiếp nhằm theo dõi sự biến đổi và thiết lập mối quan hệ nhân quả theo tiến trình tự nhiên.",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"nghiên cứu so sánh","Nghiên cứu so sánh: Khái niệm, phương pháp và ứng dụng","Comparative research","Nghiên cứu so sánh là phương pháp khoa học dùng để phân tích, đối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa hai hoặc nhiều đơn vị nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế, quy luật và các nhân tố tác động.",{"id":146,"title":147,"term":146,"englishTitle":148,"definition":149,"discipline":21,"disciplineCode":102,"disciplineLabel":103,"disciplineColor":104,"disciplineIcon":105},"hiệu quả kỹ thuật","Hiệu quả kỹ thuật là gì? Các công bố khoa học về Hiệu quả kỹ thuật","technical efficiency","Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency, TE) trong kinh tế học vi mô và phân tích sản xuất là khả năng của một đơn vị ra quyết định (DMU, như doanh nghiệp hoặc nông hộ) tạo ra mức sản lượng đầu ra tối đa từ một tập hợp các yếu tố đầu vào nhất định, hoặc sử dụng mức đầu vào tối thiểu để đạt được một mức sản lượng cho trước."]