[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_st%20n%C3%A2ng%20l%C3%AAn{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_st%20n%C3%A2ng%20l%C3%AAn":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":66,"createUser":79,"publishUser":83,"keywords":84,"keywordCount":80,"enrichTopicLink":85,"status":86,"createTime":87,"updateTime":88,"publishTime":89,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":90,"wikidataId":10,"relateTopics":91},"st nâng lên","ST nâng lên (ST elevation) là gì?","ST nâng lên là dấu hiệu điện tâm đồ chỉ điểm tổn thương xuyên thành cơ tim trong nhồi máu cơ tim cấp. Tìm hiểu tiêu chuẩn chẩn đoán và xử trí cấp cứu.","\u003Cp>ST nâng lên là hiện tượng đoạn ST trên bản ghi điện tâm đồ bị dịch chuyển lên phía trên so với đường đẳng điện, phản ánh tình trạng mất cân bằng điện thế màng tế bào nghiêm trọng trong pha tái cực của tâm thất. Đây là dấu hiệu điện sinh học tối khẩn cấp trong lâm sàng tim mạch, thường chỉ điểm tình trạng tắc nghẽn hoàn toàn động mạch vành cấp tính dẫn đến thiếu máu cục bộ xuyên thành cơ tim. Nhận diện chính xác hình thái, biên độ và sự phân bố chuyển đạo của đoạn ST nâng lên cho phép bác sĩ thiết lập chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp và kích hoạt kịp thời các chiến lược tái tưới máu khẩn cấp nhằm bảo tồn chức năng thất trái và giảm thiểu nguy cơ tử vong.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất sinh lý điện học và khái niệm điểm J\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để hiểu rõ bản chất của hiện tượng ST nâng lên, cần phân tích mối tương quan giữa chu chuyển điện học tế bào cơ tim và các sóng biểu hiện trên điện tâm đồ bề mặt. Bình thường, đoạn ST đại diện cho giai đoạn điện thế màng tế bào cơ tim duy trì ở trạng thái bình nguyên, tương ứng với pha 2 của điện thế hoạt động thất. Trong pha này, dòng ion canxi đi vào tế bào qua các kênh canxi type L cân bằng với dòng ion kali đi ra qua các kênh kali chỉnh lưu chậm, tạo ra điện thế màng gần như không đổi trên toàn bộ khối cơ tâm thất. Kết quả là không có sự chênh lệch điện thế đáng kể giữa các vùng cơ tim, và đoạn ST trên điện tâm đồ nằm ngang bằng với đường đẳng điện.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đường đẳng điện quy chuẩn được xác định bằng đoạn nối giữa đoạn TP (từ kết thúc sóng T của chu chuyển trước đến khởi đầu sóng P của chu chuyển kế tiếp) hoặc đoạn PR (từ kết thúc sóng P đến bắt đầu phức bộ QRS). Điểm J được định nghĩa là mốc giải phẫu điện học chính xác nơi phức bộ QRS kết thúc và đoạn ST bắt đầu. Sự nâng lên của đoạn ST được đo lường chính xác bằng khoảng cách thẳng đứng tính từ mức điện thế của đường đẳng điện đến vị trí điểm J, tính bằng milimet trên giấy ghi điện tâm đồ chuẩn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế hình thành dòng điện tổn thương\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khi một nhánh động mạch vành bị tắc nghẽn cấp tính bởi huyết khối giàu tiểu cầu hình thành trên nền mảng xơ vữa nứt vỡ, nguồn cung cấp oxy và dưỡng chất đến vùng cơ tim phụ thuộc bị cắt đứt hoàn toàn. Tình trạng thiếu máu cục bộ xuyên thành dẫn đến cạn kiệt nhanh chóng nguồn năng lượng adenosine triphosphate (ATP) nội bào, làm suy giảm hoạt tính của bơm ion natri-kali ATPase và mở các kênh kali nhạy cảm với ATP. Những biến đổi chuyển hóa này làm thay đổi sâu sắc các đặc tính điện học của vùng cơ tim bị tổn thương so với vùng cơ tim lành xung quanh:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Điện thế nghỉ giảm bớt mức độ âm hóa:\u003C\u002Fstrong> Vùng cơ tim thiếu máu cục bộ không thể duy trì điện thế nghỉ âm bình thường, điện thế nghỉ bị khử cực một phần và trở nên ít âm hơn đáng kể so với mô lành.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Rút ngắn thời gian điện thế hoạt động:\u003C\u002Fstrong> Do sự thoát nhanh của dòng ion kali qua các kênh phụ thuộc ATP, pha 2 bình nguyên bị rút ngắn rõ rệt và pha tái cực sớm diễn ra nhanh hơn tại vùng cơ tim thiếu máu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giảm biên độ và tốc độ dẫn truyền điện thế hoạt động:\u003C\u002Fstrong> Pha 0 khử cực bị suy giảm tốc độ tăng điện thế tối đa, gây chậm trễ dẫn truyền xung động qua vùng tổn thương.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Sự chênh lệch điện thế màng giữa vùng cơ tim thiếu máu cục bộ và vùng cơ tim bình thường lân cận làm xuất hiện dòng điện tổn thương. Dòng điện này bao gồm hai thành phần điện học tác động đồng thời:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thứ nhất là dòng điện tổn thương trong kỳ tâm trương. Do vùng thiếu máu có điện thế nghỉ ít âm hơn vùng lành, một dòng điện hướng từ vùng cơ tim bệnh lý sang vùng cơ tim lành trong suốt thời kỳ tâm trương. Chuyển đạo điện tâm đồ đặt đối diện vùng tổn thương ghi nhận sự dịch chuyển điện thế xuống dưới trong thời gian nghỉ, nhưng hệ thống khuếch đại điện tâm đồ xoay chiều tự động điều chỉnh đường cơ sở này về mức quy ước, khiến cho đoạn ST của kỳ tâm thu sau đó vô tình bị đẩy cao lên tương đối so với đường cơ sở đã hiệu chỉnh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thứ hai là dòng điện tổn thương trong kỳ tâm thu. Trong pha 2 của điện thế hoạt động, vùng cơ tim thiếu máu tái cực sớm hơn nên điện thế màng của nó trở nên âm hơn so với vùng cơ tim lành đang duy trì pha bình nguyên. Một dòng điện thực sự hướng từ vùng cơ tim lành sang vùng cơ tim thiếu máu, tức là hướng thẳng về phía điện cực ghi nhận đặt trên bề mặt thành ngực bao phủ vùng tổn thương xuyên thành. Vector dòng điện này trực tiếp tạo nên sóng nâng lên thực thụ của đoạn ST phía trên đường đẳng điện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tiêu chuẩn chẩn đoán điện tâm đồ theo Định nghĩa Toàn cầu lần thứ tư\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhằm chuẩn hóa chẩn đoán và tránh các can thiệp mạch vành không cần thiết, Định nghĩa Toàn cầu lần thứ tư về Nhồi máu cơ tim công bố năm 2018 (Thygesen et al., 2018) đã thiết lập bộ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiêm ngặt cho hiện tượng ST nâng lên tại điểm J trên điện tâm đồ 12 chuyển đạo. Tiêu chuẩn này phân tầng chi tiết theo giới tính, lứa tuổi và vị trí chuyển đạo khảo sát:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Vị trí chuyển đạo\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đối tượng áp dụng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ngưỡng ST nâng lên bệnh lý tại điểm J\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chuyển đạo V2 và V3\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nam giới dưới 40 tuổi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 2,5 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chuyển đạo V2 và V3\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nam giới từ 40 tuổi trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 2,0 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chuyển đạo V2 và V3\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nữ giới ở mọi lứa tuổi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 1,5 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Các chuyển đạo khác (chi và V1, V4-V6)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tất cả đối tượng (nam và nữ)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 1,0 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chuyển đạo thành sau (V7, V8, V9)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tất cả đối tượng nghi ngờ nhồi máu thành sau\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 0,5 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chuyển đạo thất phải (V3R, V4R)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tất cả đối tượng nghi ngờ tổn thương thất phải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 0,5 mm trở lên\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Tiêu chuẩn chẩn đoán bắt buộc hình ảnh ST nâng lên phải xuất hiện đồng thời ở ít nhất hai chuyển đạo liên tiếp về mặt giải phẫu tim học. Sự hiện diện của hình ảnh soi gương (ST chênh xuống đối xứng ở các chuyển đạo đối diện) là bằng chứng bổ sung có giá trị xác thực cao, giúp khẳng định nguyên nhân thiếu máu cục bộ cấp tính và loại trừ các biến thể lành tính.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Định khu giải phẫu và động mạch vành tổn thương\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự phân bố của các chuyển đạo có đoạn ST nâng lên phản ánh trực tiếp vùng giải phẫu cơ tim bị tổn thương và cho phép định danh nhánh động mạch vành thủ phạm gây tắc nghẽn:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng trước vách (chuyển đạo V1 đến V4):\u003C\u002Fstrong> Biểu hiện tổn thương thành trước và vách liên thất của tâm thất trái, thường do tắc nghẽn nhánh động mạch liên thất trước. Tắc đoạn gần động mạch liên thất trước thường kèm theo ST nâng lên ở chuyển đạo aVL và ST chênh xuống ở các chuyển đạo thành dưới (II, III, aVF).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng thành bên (chuyển đạo I, aVL, V5, V6):\u003C\u002Fstrong> Chỉ điểm tổn thương thành bên thất trái, thường liên quan đến nhánh động mạch mũ hoặc nhánh viền của động mạch liên thất trước.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng thành dưới (chuyển đạo II, III, aVF):\u003C\u002Fstrong> Phản ánh thiếu máu cục bộ cơ tim thành hoành, do tắc động mạch vành phải (chiếm ưu thế trong đa số trường hợp) hoặc nhánh động mạch mũ. Khi ST nâng lên ở chuyển đạo III cao hơn chuyển đạo II kèm ST chênh xuống ở chuyển đạo I và aVL, khả năng thủ phạm là động mạch vành phải rất cao.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vùng thành sau thực sự:\u003C\u002Fstrong> Thường biểu hiện gián tiếp bằng hình ảnh soi gương với ST chênh xuống sâu, sóng R cao ưu thế và sóng T thẳng đứng ở các chuyển đạo trước tim V1 đến V3. Khi phát hiện dấu hiệu này, bác sĩ lâm sàng cần mắc thêm các chuyển đạo thành sau V7, V8, V9 để phát hiện trực tiếp ST nâng lên với ngưỡng cắt từ 0,5 mm trở lên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhồi máu cơ tim thất phải:\u003C\u002Fstrong> Thường đi kèm nhồi máu thành dưới do tắc đoạn gần động mạch vành phải. Cần chủ động ghi điện tâm đồ chuyển đạo bên phải V3R và V4R để phát hiện đoạn ST nâng lên từ 0,5 mm trở lên nhằm điều chỉnh phác đồ dịch truyền và tránh dùng các thuốc giãn mạch làm tụt huyết áp nghiêm trọng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Chẩn đoán phân biệt ST nâng lên không do nhồi máu cơ tim\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù nhồi máu cơ tim cấp có ST nâng lên là tình huống cấp cứu tối thượng, đoạn ST nâng lên không phải là dấu hiệu đặc hiệu duy nhất cho hội chứng mạch vành cấp. Tổng quan lâm sàng kinh điển của Wang và cộng sự (2003) đã chỉ ra nhiều bệnh cảnh tim mạch và toàn thân có thể gây ra biến đổi tương tự, đòi hỏi sự phân biệt chặt chẽ:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Bệnh cảnh lâm sàng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đặc điểm hình thái đoạn ST\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Dấu hiệu phân biệt cốt lõi\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhồi máu cơ tim cấp (STEMI)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên dạng lồi (cong vòm), hòa lẫn vào sóng T\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khu trú theo vùng tưới máu động mạch vành, có hình ảnh soi gương, biến đổi động học nhanh theo thời gian\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Viêm màng ngoài tim cấp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên dạng lõm ngửa lan tỏa ở nhiều chuyển đạo\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không khu trú theo nhánh mạch vành, kèm đoạn PR chênh xuống lan tỏa và PR chênh lên ở aVR, không có soi gương\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tái cực sớm lành tính\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên dạng lõm, có khấc hoặc móc tại điểm J\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thường gặp ở người trẻ khỏe mạnh, biên độ ổn định, không có biến đổi động học và sóng T đối xứng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phì đại thất trái\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên thứ phát ở các chuyển đạo có sóng S sâu (V1-V3)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đi kèm tiêu chuẩn điện thế tăng cao của thất trái, đoạn ST nâng lên không thay đổi theo thời gian\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Block nhánh trái hoàn toàn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên bất tương xứng ở các chuyển đạo trước tim phải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phức bộ QRS giãn rộng trên 120 ms, ST nâng lên đối nghịch với vector chính của QRS\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hội chứng Brugada\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên dạng vòm hoặc yên ngựa tại V1-V2\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hình ảnh giả block nhánh phải, kèm nguy cơ loạn nhịp thất thất nhanh và ngất tái phát\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phình vách thất trái\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>ST nâng lên tồn tại dai dẳng nhiều tuần hoặc nhiều tháng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Xuất hiện trên nền sóng Q hoại tử sâu sau nhồi máu cơ tim cũ, không có động học cấp tính\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Hội chứng Brugada được hai anh em Pedro Brugada và Josep Brugada công bố lần đầu năm 1992 (Brugada &amp; Brugada, 1992), mô tả một thực thể bệnh học di truyền kênh ion tim nguy hiểm biểu hiện bằng hình ảnh giả block nhánh phải phối hợp đoạn ST nâng lên dai dẳng ở các chuyển đạo trước tim V1 đến V3. Nhận diện hình thái dạng vòm đặc trưng của Brugada loại 1 giúp phân biệt với nhồi máu cấp vùng trước vách và định hướng cấy máy khử rung tự động phòng ngừa đột tử do tim.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chiến lược xử trí cấp cứu và tái tưới máu theo Hướng dẫn ESC 2023\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Theo Hướng dẫn xử trí hội chứng mạch vành cấp của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC) công bố năm 2023 (Byrne et al., 2023), thời gian là yếu tố quyết định sống còn của tế bào cơ tim. Khi tiếp cận bệnh nhân có triệu chứng đau ngực gợi ý thiếu máu cục bộ kèm hình ảnh ST nâng lên thỏa mãn tiêu chuẩn điện tâm đồ, quy trình cấp cứu tái tưới máu cơ tim cần được kích hoạt ngay lập tức mà không cần chờ đợi kết quả xét nghiệm men tim troponin.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Chiến lược can thiệp mạch vành qua da tiên phát là biện pháp tái tưới máu được ưu tiên hàng đầu nếu bệnh nhân được đưa đến trung tâm tim mạch can thiệp trong vòng 120 phút kể từ thời điểm có chẩn đoán xác định trên điện tâm đồ. Mục tiêu của can thiệp là tái thông nhanh chóng dòng chảy trong nhánh động mạch vành thủ phạm bằng hút huyết khối và đặt stent kim loại phủ thuốc thế hệ mới.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong trường hợp bệnh nhân ở cơ sở y tế không có phòng can thiệp mạch vành và thời gian vận chuyển ước tính vượt quá mốc 120 phút, liệu pháp tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch được khuyến cáo chỉ định khẩn cấp trong vòng 10 phút sau khi chẩn đoán điện tâm đồ được xác lập, với điều kiện bệnh nhân không có chống chỉ định xuất huyết. Sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết, bệnh nhân phải được chuyển ngay đến trung tâm có khả năng can thiệp mạch vành để chụp mạch can thiệp thường quy, hoặc can thiệp cứu vãn ngay lập tức nếu liệu pháp tiêu sợi huyết thất bại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nghiên cứu và thực hành lâm sàng tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, các mô hình cấp cứu nhồi máu cơ tim cấp có ST nâng lên đã và đang được triển khai đồng bộ tại nhiều bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tim mạch trên phạm vi cả nước. Việc chuẩn hóa quy trình đọc điện tâm đồ cấp cứu và kết nối mạng lưới can thiệp tim mạch đã rút ngắn đáng kể thời gian từ lúc bệnh nhân tiếp cận y tế đến khi bóng can thiệp được bơm căng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Một khía cạnh chẩn đoán quan trọng đã được nghiên cứu sâu sắc trong nước là tình trạng bỏ sót nhồi máu cơ tim thành sau thực sự. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân và cộng sự công bố năm 2021 trên Tạp chí Y học Việt Nam (Nguyễn Văn Tân và cộng sự, 2021) khảo sát đặc điểm tổn thương mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên thành sau đã nhấn mạnh rằng các dấu hiệu gián tiếp ở chuyển đạo V1-V3 thường bị nhầm lẫn với thiếu máu cơ tim vùng trước vách không ST nâng lên. Nghiên cứu khẳng định việc đo thường quy các chuyển đạo bổ sung V7, V8, V9 với ngưỡng ST nâng lên từ 0,5 mm trở lên giúp tăng độ nhạy phát hiện tổn thương nhánh động mạch mũ hoặc nhánh tận động mạch vành phải, từ đó mở rộng chỉ định can thiệp tái tưới máu cấp cứu kịp thời cho bệnh nhân Việt Nam.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hạn chế kỹ thuật và thách thức chẩn đoán\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dù điện tâm đồ là công cụ tiếp cận ban đầu không thể thay thế, việc chẩn đoán dựa trên đoạn ST nâng lên vẫn đối mặt với một số thách thức kỹ thuật và lâm sàng phức tạp:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhiễu đường cơ sở và sai số kỹ thuật:\u003C\u002Fstrong> Tiếp xúc điện cực kém, rung cơ, chuyển động thở của bệnh nhân hoặc sai lệch trong hiệu chuẩn máy có thể tạo ra các biến dạng giả ST nâng lên hoặc làm sai lệch vị trí điểm J.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng ST nâng lên thoáng qua:\u003C\u002Fstrong> Co thắt động mạch vành dữ dội hoặc hiện tượng tự ly giải huyết khối nội sinh có thể khiến đoạn ST nâng lên rồi tự trở về đường đẳng điện trước khi can thiệp, đòi hỏi theo dõi điện tâm đồ liên tục nhiều chuyển đạo.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Các dạng tương đương ST nâng lên:\u003C\u002Fstrong> Một số thể tổn thương động mạch vành tối cấp (như hội chứng Wellens biểu hiện sóng T hai pha sâu, hoặc hội chứng de Winter biểu hiện ST chênh xuống tại điểm J kèm sóng T cao nhọn đối xứng ở chuyển đạo trước tim) không có hình ảnh ST nâng lên điển hình nhưng bản chất bệnh sinh tương đương tắc hoàn toàn nhánh liên thất trước và cần được can thiệp khẩn cấp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khó khăn khi có block nhánh trái hoặc máy tạo nhịp:\u003C\u002Fstrong> Sự biến đổi khử cực thất trong block nhánh trái hoàn toàn hoặc nhịp máy tạo nhịp thất làm đảo lộn hoàn toàn pha tái cực thứ phát, che lấp dấu hiệu ST nâng lên của thiếu máu cơ tim cấp. Trong các trường hợp này, các thuật toán chuyên biệt như tiêu chuẩn Sgarbossa cải biên cần được áp dụng để tìm kiếm dấu hiệu ST nâng lên đồng hướng bệnh lý.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","ST nâng lên","ST elevation",[20,21,22],"ST chênh lên","đoạn ST nâng lên","đoạn ST chênh lên","ST nâng lên là hiện tượng đoạn ST trên điện tâm đồ dịch chuyển lên phía trên đường đẳng điện, phản ánh tình trạng tổn thương xuyên thành cơ tim hoặc rối loạn tái cực thất. Đây là dấu hiệu then chốt để xác định nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên và kích hoạt chiến lược tái tưới máu khẩn cấp.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[26,34,42,50,58],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":33},"Thygesen, K., Alpert, J. S., Jaffe, A. S., Chaitman, B. R., Bax, J. J., Morrow, D. A., & White, H. D. (2018). Fourth Universal Definition of Myocardial Infarction (2018). Circulation, 138(20), e618-e651.","Fourth Universal Definition of Myocardial Infarction (2018)","Thygesen, K., Alpert, J. S., Jaffe, A. S., et al.","Circulation",2018,"10.1161\u002Fcir.0000000000000617","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1161\u002Fcir.0000000000000617",{"citationText":35,"title":36,"authors":37,"source":38,"year":39,"doi":40,"url":41},"Byrne, R. A., Rossello, X., Coughlan, J. J., Barbato, E., Berry, C., Chieffo, A., ... & Ibanez, B. (2023). 2023 ESC Guidelines for the management of acute coronary syndromes. European Heart Journal, 44(38), 3720-3826.","2023 ESC Guidelines for the management of acute coronary syndromes","Byrne, R. A., Rossello, X., Coughlan, J. J., et al.","European Heart Journal",2023,"10.1093\u002Feurheartj\u002Fehad191","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1093\u002Feurheartj\u002Fehad191",{"citationText":43,"title":44,"authors":45,"source":46,"year":47,"doi":48,"url":49},"Wang, K., Asinger, R. W., & Marriott, H. J. (2003). ST-Segment Elevation in Conditions Other Than Acute Myocardial Infarction. New England Journal of Medicine, 349(22), 2128-2135.","ST-Segment Elevation in Conditions Other Than Acute Myocardial Infarction","Wang, K., Asinger, R. W., Marriott, H. J.","New England Journal of Medicine",2003,"10.1056\u002Fnejmra022580","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1056\u002Fnejmra022580",{"citationText":51,"title":52,"authors":53,"source":54,"year":55,"doi":56,"url":57},"Brugada, P., & Brugada, J. (1992). Right bundle branch block, persistent ST segment elevation and sudden cardiac death: A distinct clinical and electrocardiographic syndrome. Journal of the American College of Cardiology, 20(6), 1391-1396.","Right bundle branch block, persistent ST segment elevation and sudden cardiac death: A distinct clinical and electrocardiographic syndrome","Brugada, P., Brugada, J.","Journal of the American College of Cardiology",1992,"10.1016\u002F0735-1097(92)90253-j","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0735-1097(92)90253-j",{"citationText":59,"title":60,"authors":61,"source":62,"year":63,"doi":64,"url":65},"Nguyễn Văn Tân, Châu Văn Vinh, Lê Thị Kim Phượng, Đỗ Văn Tuyến, & Bùi Long. (2021). ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ST CHÊNH LÊN THÀNH SAU. Tạp chí Y học Việt Nam, 501(1), 1-5.","ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ST CHÊNH LÊN THÀNH SAU","Nguyễn Văn Tân, Châu Văn Vinh, Lê Thị Kim Phượng, Đỗ Văn Tuyến, Bùi Long","Tạp chí Y học Việt Nam",2021,"10.51298\u002Fvmj.v501i1.416","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.51298\u002Fvmj.v501i1.416",[67,70,73,76],{"question":68,"answer":69},"ST nâng lên khác biệt như thế nào so với ST chênh xuống?","ST nâng lên là sự dịch chuyển điểm J và đoạn ST lên trên đường đẳng điện, thường chỉ điểm thiếu máu cục bộ xuyên thành do tắc hoàn toàn động mạch vành cấp tính. Ngược lại, ST chênh xuống là sự lệch xuống dưới đường đẳng điện, thường gặp trong thiếu máu cục bộ dưới nội tâm mạc hoặc đóng vai trò là hình ảnh soi gương đối xứng của vùng có ST nâng lên.",{"question":71,"answer":72},"Làm thế nào để phân biệt ST nâng lên trong nhồi máu cơ tim với viêm màng ngoài tim cấp?","Trong nhồi máu cơ tim cấp, đoạn ST nâng lên có dạng lồi cong vòm, khu trú theo các chuyển đạo tương ứng với nhánh động mạch vành bị tắc và thường kèm theo hình ảnh soi gương. Trong viêm màng ngoài tim cấp, đoạn ST nâng lên có dạng lõm ngửa lan tỏa ở hầu hết các chuyển đạo tim, đi kèm với dấu hiệu đoạn PR chênh xuống lan tỏa và không có hình ảnh soi gương.",{"question":74,"answer":75},"Vì sao cần đo thêm chuyển đạo V7, V8, V9 khi nghi ngờ ST nâng lên thành sau?","Nhồi máu cơ tim thành sau thực sự thường không biểu hiện trực tiếp đoạn ST nâng lên trên 12 chuyển đạo tiêu chuẩn mà chỉ tạo ra hình ảnh gián tiếp là ST chênh xuống ở các chuyển đạo trước tim V1 đến V3. Việc đo bổ sung các chuyển đạo thành sau V7, V8, V9 với ngưỡng ST nâng lên từ 0,5 mm trở lên giúp xác định chính xác tổn thương thành sau và tránh bỏ sót chỉ định can thiệp tái tưới máu khẩn cấp.",{"question":77,"answer":78},"Điểm J trên điện tâm đồ là gì và được xác định như thế nào?","Điểm J là mốc giải phẫu điện học đánh dấu vị trí kết thúc của phức bộ khử cực QRS và bắt đầu pha tái cực của đoạn ST. Độ cao của ST nâng lên được đo bằng khoảng cách thẳng đứng từ mức đường đẳng điện đến vị trí điểm J, cho phép đối chiếu chính xác với các ngưỡng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh lý.",{"id":80,"researcherId":10,"name":81,"imageUrl":82},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":80,"researcherId":10,"name":81,"imageUrl":82},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:07.337+00:00","2026-10-21T11:18:20.764+00:00","2026-10-21T11:18:20.656+00:00",0,[92,101,106,112,117,123,128,134,140,145],{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":95,"definition":96,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":104,"definition":105,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":107,"title":108,"term":109,"englishTitle":110,"definition":111,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":113,"title":114,"term":113,"englishTitle":115,"definition":116,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":118,"title":119,"term":120,"englishTitle":121,"definition":122,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":126,"definition":127,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":129,"title":130,"term":131,"englishTitle":132,"definition":133,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":135,"title":136,"term":137,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":146,"title":147,"term":146,"englishTitle":148,"definition":149,"discipline":24,"disciplineCode":97,"disciplineLabel":98,"disciplineColor":99,"disciplineIcon":100},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]