[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_sinh%20vi%C3%AAn%20ng%C3%A0nh%20y%20t%E1%BA%BF{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_sinh%20vi%C3%AAn%20ng%C3%A0nh%20y%20t%E1%BA%BF":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":20,"discipline":21,"references":22,"faqs":62,"createUser":75,"publishUser":79,"keywords":80,"keywordCount":76,"enrichTopicLink":81,"status":82,"createTime":83,"updateTime":84,"publishTime":85,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":86,"wikidataId":10,"relateTopics":87},"sinh viên ngành y tế","Sinh viên ngành y tế (healthcare students) là gì?","Sinh viên ngành y tế là người học thuộc khối ngành sức khoẻ, được đào tạo lý thuyết y sinh kết hợp thực hành lâm sàng trực tiếp trên người bệnh.","\u003Cp>Sinh viên ngành y tế (healthcare students) là người học đang theo học các chương trình đào tạo chuyên môn thuộc khối ngành khoa học sức khoẻ tại các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng. Nhóm người học này được trang bị nền tảng lý thuyết y sinh học, kỹ năng tiền lâm sàng và trải qua quá trình thực hành lâm sàng trực tiếp trên người bệnh dưới sự giám sát chuyên môn. Bài viết này trình bày toàn diện đặc thù đào tạo y khoa, khung đánh giá năng lực lâm sàng theo kim tự tháp Miller, cải cách giáo dục dựa trên năng lực, các rủi ro sức khoẻ tâm thần cùng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thực hành tại Việt Nam.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khái niệm và đặc thù đào tạo khối ngành sức khoẻ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khối ngành khoa học sức khoẻ bao gồm nhiều chuyên ngành đa dạng như y đa khoa, y học cổ truyền, răng hàm mặt, dược học, điều dưỡng, kỹ thuật xét nghiệm y học, khúc xạ nhãn khoa và y tế công cộng. Sinh viên ngành y tế giữ vai trò là lực lượng nhân lực kế cận trực tiếp trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn dân.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Quá trình đào tạo sinh viên ngành y tế mang những đặc trưng khác biệt sâu sắc so với hầu hết các khối ngành học thuật khác. Điểm khác biệt căn bản nhất là tính gắn kết bắt buộc giữa giảng đường đại học và môi trường bệnh viện thực tế. Người học không chỉ tiếp thu kiến thức lý thuyết trừu tượng mà phải thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, bệnh phẩm sinh học và các tình huống cấp cứu đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh yêu cầu về khối lượng kiến thức chuyên sâu, sinh viên ngành y tế phải rèn luyện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nghiêm ngặt. Những nguyên tắc cốt lõi về bảo mật thông tin bệnh án, tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh và đặt lợi ích sức khoẻ của người bệnh lên hàng đầu được hình thành và kiểm soát liên tục trong suốt tiến trình học tập.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khung đánh giá năng lực lâm sàng: Mô hình kim tự tháp Miller\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đánh giá năng lực thực hành của sinh viên ngành y tế từ lâu đã là thách thức lớn đối với các nhà sư phạm y học. Để chuẩn hoá quá trình lượng giá này, nhà giáo dục y học George E. Miller vào năm 1990 đã đề xuất mô hình kim tự tháp đánh giá năng lực lâm sàng kinh điển, phân cấp trình độ người học thành bốn tầng bậc tăng dần:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Tầng bậc năng lực\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Mô tả nội dung\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Phương pháp đánh giá tương ứng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ý nghĩa trong đào tạo y khoa\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Biết (Knows)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kiến thức lý thuyết y học cơ sở và bệnh học\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thi trắc nghiệm khách quan, thi viết tự luận\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Xây dựng nền móng kiến thức khoa học cơ bản\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Biết cách (Knows How)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Năng lực lập luận lâm sàng và giải quyết vấn đề\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bài thi phân tích ca bệnh, bài kiểm tra lý luận lâm sàng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Áp dụng kiến thức lý thuyết vào chẩn đoán\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Thể hiện (Shows How)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trình diễn kỹ năng lâm sàng trong môi trường mô phỏng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thi chạy trạm lâm sàng khách quan có cấu trúc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kiểm tra kỹ năng thao tác và giao tiếp chuẩn mực\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hành động (Does)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trên người bệnh thực tế\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đánh giá trực tiếp tại nơi làm việc, sổ tay lâm sàng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chứng minh năng lực hành nghề độc lập và an toàn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Mô hình của George E. Miller năm 1990 tạo nên bước chuyển biến mang tính cách mạng trong giáo dục y học. Mô hình khẳng định rằng việc tích luỹ kiến thức đơn thuần ở hai tầng đáy không đồng nghĩa với khả năng thực hành thành thạo ở hai tầng đỉnh. Do đó, các trường đại học y dược đã chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức thi cử truyền thống sang các kỳ thi chạy trạm kỹ năng lâm sàng có cấu trúc nhằm đánh giá chân thực năng lực của sinh viên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cải cách giáo dục y khoa dựa trên năng lực thế kỷ XXI\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự gia tăng gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm, nguy cơ đại dịch toàn cầu và sự phức tạp của hệ thống y tế đòi hỏi sinh viên ngành y tế phải được chuẩn bị toàn diện hơn. Báo cáo bước ngoặt của Uỷ ban Độc lập Toàn cầu do Julio Frenk và các cộng sự dẫn đầu công bố trên tạp chí The Lancet vào năm 2010 đã đề xuất mô hình cải cách giáo dục sức khoẻ quy mô lớn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nghiên cứu của Julio Frenk và các cộng sự năm 2010 đã vạch rõ ba giai đoạn phát triển của giáo dục y học:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Giai đoạn thứ nhất: Giáo dục dựa trên truyền thụ thông tin, tập trung trang bị kiến thức ghi nhớ từ giáo trình.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Giai đoạn thứ hai: Giáo dục dựa trên giải quyết vấn đề, nâng cao kỹ năng xử lý tình huống chuyên biệt.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Giai đoạn thứ ba: Giáo dục dựa trên năng lực và chuyển hoá, hướng tới việc đào tạo người học thành các chuyên gia có năng lực lãnh đạo, làm việc nhóm liên ngành và thích ứng với sự thay đổi của hệ thống y tế.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Theo phân tích của Julio Frenk cùng các tác giả năm 2010, giáo dục y khoa hiện đại phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế của cộng đồng. Sinh viên ngành y tế không chỉ cần thành thạo kỹ năng lâm sàng cá nhân mà phải làm chủ kỹ năng phối hợp liên ngành giữa bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ và cán bộ y tế cơ sở nhằm giảm thiểu sai sót y khoa và tối ưu hoá kết quả điều trị.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Áp lực tâm lý, trầm cảm và kiệt sức nghề nghiệp\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Môi trường học tập áp lực cao, thời gian đào tạo kéo dài, lịch trực đêm dày đặc và trách nhiệm đạo đức nặng nề khiến sinh viên ngành y tế trở thành nhóm đối tượng có nguy cơ cao về rối loạn sức khoẻ tâm thần. Các nghiên cứu định lượng quy mô lớn đã chỉ ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề này.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tổng quan hệ thống và phân tích gộp mang tính bước ngoặt của Lisa S. Rotenstein và các cộng sự công bố năm 2016 trên tạp chí JAMA đã tổng hợp dữ liệu toàn cầu về tình trạng tâm lý của sinh viên y khoa. Kết quả phân tích gộp của Lisa S. Rotenstein năm 2016 xác định tỷ lệ lưu hành gộp của trầm cảm hoặc các triệu chứng trầm cảm ở sinh viên y khoa là 27,2%. Con số này vượt trội hơn đáng kể so với tỷ lệ quan sát được ở quần thể thanh niên cùng độ tuổi trong dân số nói chung.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bên cạnh trầm cảm, tình trạng kiệt sức trong học tập và thực hành lâm sàng cũng diễn ra phổ biến. Trong nghiên cứu phân tích gộp chuyên sâu của Hessah Almutairi và các cộng sự công bố năm 2022 trên tạp chí International Journal of Social Psychiatry, tổng hợp từ 42 nghiên cứu với tổng số 26824 sinh viên tham gia, tỷ lệ gộp của hội chứng kiệt sức ở sinh viên y khoa đại học được ghi nhận là 37,23%. Hội chứng này biểu hiện qua sự kiệt quệ cảm xúc, mất nhân cách hoá đối với người bệnh và suy giảm cảm giác thành tựu cá nhân, có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân trong tương lai.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Rủi ro nghề nghiệp và an toàn thực hành lâm sàng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong quá trình thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh, sinh viên ngành y tế thường xuyên đối diện với các rủi ro nghề nghiệp tiềm ẩn:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Phơi nhiễm bệnh truyền nhiễm: Tai nạn kim tiêm đâm xuyên, tiếp xúc với dịch tiết chứa các tác nhân lây nhiễm qua đường máu hoặc đường hô hấp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Rối loạn giấc ngủ và kiệt quệ thể chất: Các ca trực đêm tại khoa cấp cứu và hồi sức tích cực làm xáo trộn nhịp sinh học tự nhiên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Căng thẳng đạo đức: Chứng kiến người bệnh qua đời hoặc đối mặt với các tình huống khó khăn trong giao tiếp với thân nhân người bệnh.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Để bảo vệ người học, các cơ sở giáo dục và bệnh viện thực hành bắt buộc phải ban hành quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt, trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và thiết lập mạng lưới hỗ trợ tâm lý học đường chuyên nghiệp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Khung pháp lý và quy định thực hành lâm sàng tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tiến trình chuẩn hoá công tác đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc về mặt lập pháp nhằm hội nhập với các chuẩn mực khu vực và quốc tế. Một dấu mốc quan trọng là việc Quốc hội ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15\u002F2023\u002FQH15 vào năm 2023.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15\u002F2023\u002FQH15 năm 2023 đã xác lập khung pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động đào tạo thực hành khối ngành sức khoẻ. Luật quy định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc bảo đảm điều kiện thực hành lâm sàng cho người học, quy định quyền và nghĩa vụ của sinh viên khi tiếp xúc với người bệnh, đồng thời đặt ra lộ trình kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề trước khi cấp giấy phép hành nghề. Khung pháp lý này vừa bảo đảm quyền lợi học tập của sinh viên, vừa đặt sự an toàn của người bệnh lên vị trí ưu tiên hàng đầu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Định hướng đổi mới công tác đào tạo sinh viên ngành y tế\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Để đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong bối cảnh công nghệ số phát triển vượt bậc, công tác đào tạo sinh viên ngành y tế cần tập trung vào các định hướng chiến lược:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mô phỏng thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy kỹ thuật lâm sàng trước khi sinh viên thực hành trên người bệnh.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Tăng cường giảng dạy kỹ năng giao tiếp y khoa, tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp song hành với chuyên môn lâm sàng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Xây dựng môi trường học tập an toàn, chủ động phát hiện và can thiệp sớm các vấn đề kiệt sức và căng thẳng tâm lý ở người học.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Sự kết hợp đồng bộ giữa năng lực lâm sàng vững vàng, lòng trắc ẩn và tinh thần trách nhiệm xã hội chính là mục tiêu tối thượng trong việc phát triển thế hệ sinh viên ngành y tế hiện đại.\u003C\u002Fp>\n","healthcare students",[19],"sinh viên khối ngành sức khoẻ","Sinh viên ngành y tế là người học theo học các chương trình đào tạo chuyên môn thuộc khối ngành khoa học sức khoẻ tại các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[23,31,39,47,55],{"citationText":24,"title":25,"authors":26,"source":27,"year":28,"doi":29,"url":30},"Frenk, J., Chen, L., Bhutta, Z. A., Cohen, J., Crisp, N., Evans, T., Fineberg, H., Garcia, P., Ke, Y., Kelley, P., Kistnasamy, B., Meleis, A., Naylor, D., Pablos-Mendez, A., Reddy, S., Scrimshaw, S., Sepulveda, J., Serwadda, D., & Zurayk, H. (2010). Health professionals for a new century: transforming education to strengthen health systems in an interdependent world. The Lancet, 376(9756), 1923-1958.","Health professionals for a new century: transforming education to strengthen health systems in an interdependent world","Julio Frenk, Lincoln Chen","The Lancet",2010,"10.1016\u002Fs0140-6736(10)61854-5","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fs0140-6736(10)61854-5",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":38},"Miller, G. E. (1990). The assessment of clinical skills\u002Fcompetence\u002Fperformance. Academic Medicine, 65(9), S63-S67.","The assessment of clinical skills\u002Fcompetence\u002Fperformance","George E. Miller","Academic Medicine",1990,"10.1097\u002F00001888-199009000-00045","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1097\u002F00001888-199009000-00045",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":46},"Rotenstein, L. S., Ramos, M. A., Torre, M., Segal, J. B., Peluso, M. J., Guille, C., Sen, S., & Mata, D. A. (2016). Prevalence of Depression, Depressive Symptoms, and Suicidal Ideation Among Medical Students: A Systematic Review and Meta-Analysis. JAMA, 316(21), 2214-2236.","Prevalence of Depression, Depressive Symptoms, and Suicidal Ideation Among Medical Students: A Systematic Review and Meta-Analysis","Lisa S. Rotenstein, Marco A. Ramos","JAMA",2016,"10.1001\u002Fjama.2016.17324","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1001\u002Fjama.2016.17324",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":54},"Almutairi, H., Alsubaiei, A., Abduljawad, S., Alshatti, A., Fekih-Romdhane, F., Husni, M., & Jahrami, H. (2022). Prevalence of burnout in medical students: A systematic review and meta-analysis. International Journal of Social Psychiatry, 68(6), 1157-1170.","Prevalence of burnout in medical students: A systematic review and meta-analysis","Hessah Almutairi, Abeer Alsubaiei","International Journal of Social Psychiatry",2022,"10.1177\u002F00207640221106691","https:\u002F\u002Fjournals.sagepub.com\u002Fdoi\u002F10.1177\u002F00207640221106691",{"citationText":56,"title":57,"authors":58,"source":59,"year":60,"doi":10,"url":61},"Quốc hội (2023). Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15\u002F2023\u002FQH15.","Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15\u002F2023\u002FQH15","Quốc hội","Cổng Thông tin điện tử Chính phủ",2023,"https:\u002F\u002Fvanban.chinhphu.vn\u002Fdefault.aspx?pageid=27160&docid=208168",[63,66,69,72],{"question":64,"answer":65},"Sinh viên ngành y tế gồm những chuyên ngành đào tạo nào?","Sinh viên ngành y tế bao gồm người học tại các chuyên ngành y đa khoa, y học cổ truyền, răng hàm mặt, dược học, điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế công cộng và dinh dưỡng, cùng hướng đến mục tiêu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.",{"question":67,"answer":68},"Mô hình kim tự tháp Miller đánh giá năng lực lâm sàng như thế nào?","Mô hình kim tự tháp Miller năm 1990 phân cấp năng lực lâm sàng thành bốn tầng bậc: Biết kiến thức cơ sở (Knows), Biết cách áp dụng lập luận (Knows How), Thể hiện kỹ năng trong mô phỏng (Shows How) và Hành động thực tế trên người bệnh (Does), bảo đảm người học đạt chuẩn kỹ năng hành nghề an toàn.",{"question":70,"answer":71},"Thực trạng sức khoẻ tâm thần ở sinh viên y khoa hiện nay ra sao?","Các nghiên cứu phân tích gộp quốc tế ghi nhận tỷ lệ lưu hành gộp của trầm cảm hoặc triệu chứng trầm cảm ở sinh viên y khoa là 27,2% theo Rotenstein năm 2016, và tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp gộp là 37,23% theo Almutairi năm 2022, đòi hỏi các trường y phải có giải pháp hỗ trợ tâm lý toàn diện.",{"question":73,"answer":74},"Quy định pháp lý về thực hành lâm sàng cho sinh viên ngành y tế tại Việt Nam?","Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15\u002F2023\u002FQH15 ban hành năm 2023 quy định chặt chẽ điều kiện thực hành lâm sàng cho người học tại các bệnh viện, trách nhiệm hướng dẫn của cán bộ y tế và lộ trình kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề trước khi cấp phép.",{"id":76,"researcherId":10,"name":77,"imageUrl":78},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":76,"researcherId":10,"name":77,"imageUrl":78},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:21:02.492+00:00","2026-10-12T07:55:48.853+00:00","2026-10-12T07:55:48.837+00:00",0,[88,97,102,108,113,119,124,130,136,141],{"id":89,"title":90,"term":89,"englishTitle":91,"definition":92,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":98,"title":99,"term":98,"englishTitle":100,"definition":101,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":103,"title":104,"term":105,"englishTitle":106,"definition":107,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":111,"definition":112,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":114,"title":115,"term":116,"englishTitle":117,"definition":118,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":125,"title":126,"term":127,"englishTitle":128,"definition":129,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":131,"title":132,"term":133,"englishTitle":134,"definition":135,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":137,"title":138,"term":137,"englishTitle":139,"definition":140,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":142,"title":143,"term":142,"englishTitle":144,"definition":145,"discipline":21,"disciplineCode":93,"disciplineLabel":94,"disciplineColor":95,"disciplineIcon":96},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]