[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_silicon%20v%C3%B4%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20h%C3%ACnh{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_silicon vô định hình":40},{"code":4,"data":5,"meta":21},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":38,"vietnamLatest":39},[],[8,25],{"publicationId":9,"title":10,"originalTitle":11,"authorNames":12,"authorCount":16,"journalName":17,"vietnamJournal":18,"publishDate":19,"publishYear":20,"totalCitation":21,"url":22,"doi":23,"summary":24},"8832adbb-a8ba-4339-98b0-947cb877af5f","Tính toán mặt cắt hiệu ứng kích thích của erbium trong silicon vô định hình được bơm quang","Effective excitation cross section of erbium in amorphous hydrogenated silicon under optical pumping",[13,14,15],"M. S. Bresler","O. B. Gusev","P. E. Pak",5,"Pleiades Publishing Ltd",false,"2001-04-01",2001,null,"https:\u002F\u002Flink.springer.com\u002Farticle\u002F10.1134\u002F1.1365982","10.1134\u002F1.1365982","\u003Cp>Thực nghiệm quang điện tử đo lường tiết diện kích thích hiệu dụng và thời gian sống phát quang của ion \u003Ci>erbium\u003C\u002Fi> pha tạp trong mạng nền \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">silicon vô định hình\u003C\u002Fb> hydro hóa dưới xung kích thích quang học. Việc phân tích hệ phương trình động học giải thích rõ bản chất trao đổi năng lượng giữa hạt dẫn tự do và tâm phát quang. Kết quả hỗ trợ định lượng mật độ ion hoạt tính phục vụ chế tạo linh kiện quang tử dựa trên \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">silicon vô định hình\u003C\u002Fb>.\u003C\u002Fp>",{"publicationId":26,"title":27,"originalTitle":28,"authorNames":29,"authorCount":32,"journalName":21,"vietnamJournal":18,"publishDate":33,"publishYear":34,"totalCitation":21,"url":35,"doi":36,"summary":37},"eb9236d1-ed9c-435b-989e-767c85d94b25","Quang phổ công suất tiếng ồn dòng cho cảm biến photodiode silicon vô định hình","Current-Noise-Power-Spectra for Amorphous Silicon Photodiode Sensors",[30,31],"J. M. Boudry","L. E. Antonuk",2,"1993-10-21",1993,"https:\u002F\u002Flink.springer.com\u002Farticle\u002F10.1557\u002FPROC-297-975","10.1557\u002FPROC-297-975","\u003Cp>Nghiên cứu linh kiện bán dẫn phân tích phổ công suất nhiễu dòng điện của cảm biến quang điện \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">silicon vô định hình\u003C\u002Fb> hydro hóa cấu trúc \u003Ci>p-i-n\u003C\u002Fi> dày 1 µm dùng trong thiết bị tạo ảnh tia X. Phép đo tại dải tần số thấp từ 0,01 đến 1,0 Hz xác nhận tạp âm nhấp nháy là thành phần chi phối chính đến độ nhạy của cảm biến. Phát hiện này giúp định lượng dòng điện rò nhằm cải thiện chất lượng mảng cảm biến \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">silicon vô định hình\u003C\u002Fb>.\u003C\u002Fp>",[],[],{"code":4,"data":41,"meta":21},{"id":42,"title":43,"description":44,"content":45,"term":42,"englishTitle":46,"synonyms":47,"definition":51,"discipline":52,"references":53,"faqs":76,"createUser":86,"publishUser":90,"keywords":94,"keywordCount":101,"enrichTopicLink":18,"status":102,"createTime":103,"updateTime":104,"publishTime":105,"linkEnrichedTime":106,"publicationScanTime":107,"contentErrorMessage":21,"viewCount":108,"relateTopics":109},"silicon vô định hình","Silicon vô định hình là gì? Cấu trúc a-Si:H và ứng dụng quang điện","Silicon vô định hình (a-Si, a-Si:H) là dạng thù hình phi tinh thể của silicon, nổi bật với hệ số hấp thụ quang học cao, dùng trong pin mặt trời màng mỏng và tấm nền TFT.","\u003Cp>\u003Cstrong>Silicon vô định hình\u003C\u002Fstrong> (amorphous silicon, ký hiệu chuẩn là a-Si, hoặc a-Si:H khi được hydro hóa) là dạng thù hình phi tinh thể của nguyên tố silicon. Trong cấu trúc của silicon vô định hình, các nguyên tử silicon không sắp xếp theo mạng tinh thể tuần hoàn tầm xa như silicon tinh thể (c-Si), mà duy trì một mạng lưới liên kết ngẫu nhiên liên tục (Continuous Random Network - CRN) với trật tự tầm ngắn trong phạm vi dưới 1 nm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cấu trúc mạng nguyên tử và vai trò của hydro hóa (a-Si:H)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mỗi nguyên tử silicon trong mạng a-Si vẫn có xu hướng phối trí tứ diện với 4 nguyên tử lân cận. Tuy nhiên, độ dài liên kết Si–Si dao động trong khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">0.235 \\pm 0.01\\text{ nm}\u003C\u002Fscript> và góc liên kết lệch khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">9^\\circ\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">11^\\circ\u003C\u002Fscript> so với góc tứ diện lý tưởng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">109.5^\\circ\u003C\u002Fscript>. Sự sai lệch góc và khoảng cách này tích lũy làm phá vỡ hoàn toàn trật tự tuần hoàn tầm xa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Hệ quả của sự biến dạng mạng lưới là sự xuất hiện của các liên kết không được bão hòa, gọi là \u003Cstrong>liên kết lơ lửng\u003C\u002Fstrong> (dangling bonds, ký hiệu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{Si}^\\bullet\u003C\u002Fscript>). Trong a-Si nguyên chất không pha tạp, mật độ liên kết lơ lửng rất cao, đạt mức xấp xỉ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">10^{19}\\text{ cm}^{-3}\u003C\u002Fscript>. Các liên kết lơ lửng này tạo ra các mức năng lượng bẫy nằm sâu ở giữa vùng cấm, đóng vai trò như các trung tâm tái hợp hạt tải điện, khiến vật liệu có độ dẫn điện cực thấp và không thể pha tạp để ứng dụng bán dẫn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bước đột phá trong công nghệ a-Si là kỹ thuật \u003Cstrong>hydro hóa\u003C\u002Fstrong> (hydrogenation), tạo thành {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%A3p%20kim%20v%C3%B4%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20h%C3%ACnh%22%7D}} \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{a-Si:H}\u003C\u002Fscript> bằng phương pháp lắng đọng hơi hóa học tăng cường plasma (PECVD) từ khí silan (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{SiH}_4\u003C\u002Fscript>):\u003C\u002Fp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\text{SiH}_4 \\xrightarrow{\\text{Plasma RF}} \\text{SiH}_x^* + \\text{H}^* \\rightarrow \\text{a-Si:H (rắn)} + \\text{H}_2 \\text{ (khí)}\u003C\u002Fscript>\n\u003Cp>Các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nguy%C3%AAn%20t%E1%BB%AD%20hydro%22%7D}} với hàm lượng từ 5% đến 15% (tính theo phần trăm nguyên tử) sẽ liên kết cộng hóa trị với các liên kết lơ lửng của silicon tạo thành nhóm Si–H và Si–H₂, làm giảm mật độ bẫy điện tử xuống dưới \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">10^{16}\\text{ cm}^{-3}\u003C\u002Fscript>. Nhờ đó, a-Si:H có thể được pha tạp hiệu quả thành chất bán dẫn loại n (bằng phosphine, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{PH}_3\u003C\u002Fscript>) hoặc loại p (bằng diborane, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\text{B}_2\\text{H}_6\u003C\u002Fscript>).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tính chất quang học và điện tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>a-Si:H sở hữu những đặc tính quang - điện độc đáo so với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22silicon%20%C4%91%C6%A1n%20tinh%20th%E1%BB%83%22%7D}}:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ rộng vùng cấm quang học:\u003C\u002Fstrong> Độ rộng vùng cấm của a-Si:H (xác định theo phổ hấp thụ Tauc) đạt khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">1.7\\text{ eV}\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">1.8\\text{ eV}\u003C\u002Fscript>, lớn hơn đáng kể so với vùng cấm gián tiếp \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">1.12\\text{ eV}\u003C\u002Fscript> của c-Si. Vùng cấm này rất phù hợp để hấp thụ quang phổ khả kiến của ánh sáng mặt trời.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ số hấp thụ quang học cao:\u003C\u002Fstrong> Do không có tính tuần hoàn của mạng tinh thể, quy tắc chọn lọc xung lượng (k-selection rule) bị xóa bỏ. a-Si:H đóng vai trò như một chất bán dẫn vùng cấm trực tiếp giả (pseudo-direct bandgap) với hệ số hấp thụ quang học \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\alpha > 10^5\\text{ cm}^{-1}\u003C\u002Fscript> trong vùng ánh sáng khả kiến. Nhờ đó, lớp màng a-Si:H chỉ cần độ dày khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">300\\text{ nm}\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">500\\text{ nm}\u003C\u002Fscript> (0.3–0.5 µm) để hấp thụ phần lớn ánh sáng mặt trời, trong khi tấm silicon tinh thể cần độ dày từ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">150\\text{ }\\mu\\text{m}\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">200\\text{ }\\mu\\text{m}\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ linh động hạt tải:\u003C\u002Fstrong> Do {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20m%E1%BA%A1ng%22%7D}} hỗn loạn, độ linh động của electron trong a-Si:H đạt khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">1\\text{ cm}^2\\cdot\\text{V}^{-1}\\cdot\\text{s}^{-1}\u003C\u002Fscript> và độ linh động của lỗ trống khoảng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">0.01\\text{ cm}^2\\cdot\\text{V}^{-1}\\cdot\\text{s}^{-1}\u003C\u002Fscript>, thấp hơn nhiều so với silicon tinh thể.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>So sánh silicon vô định hình và silicon tinh thể\u003C\u002Fh2>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Thông số đặc trưng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Silicon vô định hình hydro hóa (a-Si:H)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Silicon đơn tinh thể (c-Si)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cấu trúc mạng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mạng ngẫu nhiên liên tục (CRN), không tuần hoàn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mạng tinh thể kim cương tuần hoàn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ rộng vùng cấm (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_g\u003C\u002Fscript>)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>1.7 – 1.8 eV (vùng cấm quang học trực tiếp giả)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>1.12 eV (vùng cấm gián tiếp)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hệ số hấp thụ (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda = 500\\text{ nm}\u003C\u002Fscript>)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">> 10^5\\text{ cm}^{-1}\u003C\u002Fscript> (cực cao)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\approx 10^4\\text{ cm}^{-1}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ dày màng quang điện\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>0.3 – 0.5 µm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>150 – 200 µm\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhiệt độ chế tạo màng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>150 – 250 °C (lắng đọng trên kính, nhựa, kim loại)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>&gt; 1400 °C (kéo tinh thể Czochralski)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Độ linh động electron (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\mu_e\u003C\u002Fscript>)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\approx 1\\text{ cm}^2\\cdot\\text{V}^{-1}\\cdot\\text{s}^{-1}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\approx 1400\\text{ cm}^2\\cdot\\text{V}^{-1}\\cdot\\text{s}^{-1}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng công nghệ then chốt\u003C\u002Fh2>\n\u003Ch3>1. Pin mặt trời màng mỏng (Thin-Film Photovoltaics)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Pin quang điện a-Si:H thường được chế tạo dưới cấu trúc tiếp giáp p-i-n (p-type \u002F intrinsic \u002F n-type) để tận dụng điện trường tích hợp trong vùng bán dẫn thuần (i-layer) dày khoảng 300 nm nhằm phân tách cặp electron-lỗ trống sinh ra do quang học. a-Si:H được ứng dụng phổ biến trong pin năng lượng cho máy tính bỏ túi, đồng hồ đeo tay, cửa sổ kính phát điện (BIPV) và lớp tiếp giáp dị thể trong pin mặt trời công nghệ cao Silicon Heterojunction (SHJ \u002F HJT) đạt hiệu suất vượt 25%.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Transistor màng mỏng (TFT) trong màn hình hiển thị\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>a-Si:H là vật liệu nền tảng chế tạo lớp bán dẫn kênh trong các mảng transistor màng mỏng (TFT - Thin Film Transistor) điều khiển điểm ảnh của màn hình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tinh%20th%E1%BB%83%20l%E1%BB%8Fng%22%7D}} (LCD) và màn hình OLED diện tích lớn. Nhiệt độ lắng đọng thấp (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\u003C 250^\\circ\\text{C}\u003C\u002Fscript>) cho phép chế tạo đồng đều các mạch TFT trên các tấm nền thủy tinh khổ lớn (thế hệ Gen 10.5) với chi phí thấp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Thách thức suy giảm quang học: Hiệu ứng Staebler-Wronski\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hạn chế vật lý lớn nhất của pin mặt trời a-Si:H là \u003Cstrong>hiệu ứng Staebler-Wronski\u003C\u002Fstrong> (SWE). Khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời liên tục trong vài trăm giờ đầu, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22hi%E1%BB%87u%20su%E1%BA%A5t%20chuy%E1%BB%83n%20%C4%91%E1%BB%95i%22%7D}} quang điện của a-Si:H bị suy giảm từ 15% đến 30% do sự bẻ gãy các liên kết Si–Si yếu bởi năng lượng tái hợp của hạt tải, tạo thêm các liên kết lơ lửng mới làm tăng mật độ bẫy. Tuy nhiên, hiện tượng suy giảm này mang tính thuận nghịch: khi vật liệu được ủ nhiệt ở \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">150^\\circ\\text{C}\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">200^\\circ\\text{C}\u003C\u002Fscript> trong môi trường trơ, các liên kết lơ lửng tự phục hồi và hiệu suất quang điện trở về trạng thái ban đầu.\u003C\u002Fp>","Amorphous Silicon",[48,49,50],"a-Si","a-Si:H","silic vô định hình","Silicon vô định hình (amorphous silicon, ký hiệu chuẩn là a-Si, hoặc a-Si:H khi được hydro hóa) là dạng thù hình phi tinh thể của nguyên tố silicon. Trong cấu trúc của silicon vô định hình, các nguyên tử silicon không sắp xếp theo mạng tinh thể tuần hoàn tầm xa như silicon tinh thể (c-Si), mà duy trì một mạng lưới liên kết ngẫu nhiên liên tục (Continuous Random Network - CRN) với trật tự tầm ngắn trong phạm vi dưới 1 nm.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[54,62,68],{"citationText":55,"title":56,"authors":57,"source":58,"year":59,"doi":60,"url":61},"Knights (1980). Structural studies of hydrogenated amorphous silicon. Solar Cells.","Structural studies of hydrogenated amorphous silicon","Knights J.C.","Solar Cells",1980,"10.1016\u002F0379-6787(80)90017-4","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0379-6787(80)90017-4",{"citationText":63,"title":64,"authors":65,"source":58,"year":59,"doi":66,"url":67},"Lucovsky (1980). Vibrational spectroscopy of hydrogenated amorphous silicon alloys. Solar Cells.","Vibrational spectroscopy of hydrogenated amorphous silicon alloys","Lucovsky G.","10.1016\u002F0379-6787(80)90019-8","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0379-6787(80)90019-8",{"citationText":69,"title":70,"authors":71,"source":72,"year":73,"doi":74,"url":75},"Davis (2000). MEMBRANE SEPARATIONS | Diffusion Dialysis. Encyclopedia of Separation Science.","MEMBRANE SEPARATIONS | Diffusion Dialysis","Davis T.A.","Encyclopedia of Separation Science",2000,"10.1016\u002Fb0-12-226770-2\u002F05751-3","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fb0-12-226770-2\u002F05751-3",[77,80,83],{"question":78,"answer":79},"Silicon vô định hình (a-Si) khác gì so với silicon tinh thể (c-Si)?","Silicon tinh thể có trật tự tuần hoàn dài với cấu trúc mạng kim cương, trong khi silicon vô định hình chỉ có trật tự tầm ngắn (ngắn hơn 1 nm), góc và độ dài liên kết Si-Si dao động ngẫu nhiên tạo ra mạng lưới liên kết ngẫu nhiên liên tục (CRN).",{"question":81,"answer":82},"Tại sao hydro hóa (a-Si:H) lại quan trọng đối với silicon vô định hình?","Hydro hóa giúp đưa các nguyên tử hydro vào liên kết với các liên kết lơ lửng (dangling bonds) của silicon, làm giảm mật độ bẫy điện tử từ khoảng 10^19 cm^-3 xuống dưới 10^16 cm^-3, cho phép pha tạp bán dẫn loại n và p hiệu quả.",{"question":84,"answer":85},"Hiệu ứng Staebler-Wronski trong silicon vô định hình là gì?","Hiệu ứng Staebler-Wronski là hiện tượng suy giảm thuận nghịch hiệu suất quang điện của a-Si:H khi bị chiếu sáng liên tục trong thời gian dài do sự tái tạo các liên kết lơ lửng mới, có thể phục hồi bằng cách ủ nhiệt ở khoảng 150-200 °C.",{"id":87,"researcherId":21,"name":88,"imageUrl":89},2633,"Hoài Đặng","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLVXVafUxrnnC_H60UeQdpLE3UgeKGCSesypz_6Vi59B-n9C41A=s96-c",{"id":91,"researcherId":21,"name":92,"imageUrl":93},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[95,96,97,98,99,100],"hợp kim vô định hình","nguyên tử hydro","silicon đơn tinh thể","cấu trúc mạng","tinh thể lỏng","hiệu suất chuyển đổi",6,"PUBLISHED","2025-06-19T08:17:08.839+00:00","2026-09-08T11:10:53.238+00:00","2025-06-29T06:36:45.894+00:00","2026-09-08T11:10:52.870+00:00","2026-09-05T10:15:50.498+00:00",396,[110,113,116,119,129,132,135,138,141,149],{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"hydroxy","Hydroxy là gì? Các công bố khoa học về Hydroxy",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"dẫn xuất","Dẫn xuất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Dẫn xuất",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"phương trình schrödinger","Phương trình schrödinger là gì? Các công bố khoa học về schrödinger",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":122,"definition":123,"discipline":124,"disciplineCode":125,"disciplineLabel":126,"disciplineColor":127,"disciplineIcon":128},"ethylene","Ethylene là gì? Cấu trúc hóa học, vai trò sinh học và ứng dụng","Ethylene","Ethylene (ethene, công thức hóa học C2H4) là một hydrocarbon không no thuộc nhóm anken đơn giản nhất, tồn tại ở thể khí không màu, đồng thời là một phytohormone dạng khí điều hòa sự chín và rụng ở thực vật.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"nhiệt động lực học","Nhiệt động lực học là gì? Các công bố khoa học về Nhiệt động lực học",{"id":133,"title":134,"term":133,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"hàm tương quan","Hàm tương quan là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"amino acid","Amino Acid là gì? Các nghiên cứu khoa học về Amino Acid ",{"id":139,"title":140,"term":139,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"hóa học lượng tử","Hóa học lượng tử là gì? Các bài nghiên cứu khoa học",{"id":100,"title":142,"term":100,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":52,"disciplineCode":145,"disciplineLabel":146,"disciplineColor":147,"disciplineIcon":148},"Hiệu suất chuyển đổi là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học","energy conversion efficiency","Hiệu suất chuyển đổi (energy conversion efficiency) là tỷ số không thứ nguyên giữa năng lượng đầu ra hữu ích thu được và tổng năng lượng đầu vào cung cấp cho một hệ thống hoặc thiết bị biến đổi năng lượng.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":97,"title":150,"term":97,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"Silicon đơn tinh thể là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học"]