[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ru%E1%BB%93i%20h%C3%A0nh{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ruồi hành":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":72,"createUser":82,"publishUser":86,"keywords":87,"keywordCount":96,"enrichTopicLink":97,"status":98,"createTime":99,"updateTime":100,"publishTime":101,"linkEnrichedTime":102,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":103,"relateTopics":104},"ruồi hành","Ruồi hành là gì? Sinh thái học và biện pháp phòng trừ","Ruồi hành (Delia antiqua) là loài côn trùng bộ Diptera chuyên hại cây Allium qua việc dòi đục rễ củ và truyền vi khuẩn gây bệnh thối nhũn thực vật.","\u003Cp>Ruồi hành (danh pháp khoa học: \u003Ci>Delia antiqua\u003C\u002Fi>) là loài côn trùng gây hại thuộc bộ Hai cánh (Diptera), họ Ruồi hoa (Anthomyiidae), chuyên gây hại trên các loài cây trồng thuộc chi Hành tỏi (\u003Ci>Allium\u003C\u002Fi>) thông qua việc ấu trùng đục phá mô ngầm và rễ củ. Loài côn trùng này phân bố rộng khắp các vùng ôn đới và cận nhiệt đới trên thế giới, là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm hàng đầu đối với ngành sản xuất hành tây, hành lá, tỏi và tỏi tây. Sự thích nghi tiến hóa cao độ của ruồi hành thể hiện qua khả năng giải mã chính xác các tín hiệu hóa thực vật thứ cấp đặc trưng của ký chủ kết hợp với chiến lược sinh tồn thông qua trạng thái đình dục qua đông trong lòng đất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại học và đặc điểm hình thái học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Về mặt phân loại học sinh giới, ruồi hành được nhà côn trùng học Johann Wilhelm Meigen mô tả khoa học lần đầu tiên vào nửa đầu thế kỷ mười chín dưới tên gọi ban đầu là \u003Ci>Anthomyia antiqua\u003C\u002Fi>, sau đó được xếp vào chi \u003Ci>Delia\u003C\u002Fi> thuộc họ Anthomyiidae. Chi \u003Ci>Delia\u003C\u002Fi> quy tụ nhiều loài côn trùng ăn rễ nguy hiểm trong nông nghiệp, chia sẻ nhiều nét tương đồng về mặt hình thái và tập tính sinh thái học.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Cá thể trưởng thành của ruồi hành có kích thước tương đương ruồi nhà thông thường, với chiều dài cơ thể dao động vừa phải và mang màu xám tro hoặc xám hơi vàng bao phủ toàn thân. Cơ thể ruồi được bao bọc bởi lớp lông cứng cáp, ngực mang các vệt sọc dọc mờ nhạt và đôi cánh màng trong suốt với hệ thống gân cánh phát triển điển hình của bộ Diptera. Đầu ruồi mang đôi mắt kép lớn màu nâu đỏ, trong đó mắt kép ở cá thể đực tiếp giáp sát nhau ở đỉnh đầu, trong khi ở cá thể cái hai mắt kép cách biệt rõ rệt bởi một dải trán rộng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Ấu trùng của ruồi hành (thường được gọi là dòi hành) không có chân và không có vỏ đầu cứng cáp. Cơ thể ấu trùng có dạng hình nón thuôn dài, màu trắng ngà hoặc trắng sữa, phần đầu thuôn nhọn mang một đôi móc miệng kitin hóa màu đen dùng để cào rách mô thực vật, còn phần đuôi cụt mang các gai thịt bao quanh đôi lỗ thở sau giúp hô hấp khi chui sâu trong mô thực vật ngập dịch bào.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vòng đời, sinh thái nhiệt động và cơ chế đình dục qua đông\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Ruồi hành là loài côn trùng biến thái hoàn toàn với bốn {{topic|%7B%22topic%22%3A%22giai%20%C4%91o%E1%BA%A1n%20ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%22%7D}} sinh học nối tiếp nhau gồm trứng, ấu trùng, nhộng và ruồi trưởng thành. Tốc độ sinh trưởng và số lượng thế hệ trong năm chịu sự chi phối quyết định bởi điều kiện vi khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ tích lũy hữu hiệu trong đất và không khí.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo công trình tổng quan kinh điển của Finch (1989), ngưỡng nhiệt độ phát triển cơ sở của ruồi hành là khoảng 4°C đến 6°C, dưới ngưỡng nhiệt này mọi quá trình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20chia%20t%E1%BA%BF%20b%C3%A0o%22%7D}} và phát triển phôi nang đều tạm ngưng. Trứng ruồi có hình bầu dục thuôn dài, màu trắng với bề mặt có vân khía dọc tinh xảo. Sau khi trứng nở, ấu trùng trải qua 3 tuổi ấu trùng kế tiếp nhau và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22th%E1%BB%9Di%20gian%20ho%C3%A0n%20th%C3%A0nh%22%7D}} toàn bộ giai đoạn ấu trùng kéo dài từ 14 đến 25 ngày tùy thuộc vào {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%22%7D}} đất (Finch, 1989). Sau khi hoàn thành tuổi phát triển cuối cùng, ấu trùng đục chui ra khỏi củ hành vào lớp đất xung quanh để hóa nhộng bên trong một lớp vỏ nhộng giả cứng cáp màu nâu đỏ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để sống sót qua những tháng mùa đông băng giá tại các vĩ độ ôn đới khắc nghiệt, loài côn trùng này đã tiến hóa cơ chế ức chế phát triển sinh lý chuyên biệt. Các khảo sát của Finch (1989) ghi nhận nhộng ruồi hành qua đông trong đất ở độ sâu từ 5 cm đến 15 cm dưới dạng đình dục qua đông nhằm chịu đựng nhiệt độ môi trường giảm xuống dưới 0°C. Trạng thái đình dục được kích hoạt chủ yếu bởi quang chu kỳ ngày ngắn và nhiệt độ đất suy giảm mà ấu trùng cảm nhận được vào cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu. Nhờ lớp đất bảo vệ và sự tích lũy các hợp chất chống đông trong dịch thể, nhộng duy trì sự sống tiềm sinh cho đến khi tích lũy đủ tổng tích ôn hữu hiệu vào mùa xuân năm sau để vũ hóa đồng loạt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Sinh thái hóa học: Cơ chế định vị ký chủ và đẻ trứng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Ruồi hành thể hiện mối liên kết sinh thái chặt chẽ với các loài thực vật thuộc chi \u003Ci>Allium\u003C\u002Fi>. Để tìm thấy nguồn thức ăn và nơi sinh sản thích hợp giữa một quần xã thực vật phức tạp, ruồi hành sử dụng hệ thống giác quan tinh vi kết hợp giữa khứu giác, thị giác và vị giác xúc giác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các công trình nghiên cứu của Judd và Borden (1988) đã chứng minh rằng ruồi hành định vị ký chủ từ cự ly xa thông qua tập tính bay ngược chiều gió bám theo luồng mùi hóa học chứa hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi lan tỏa trên khoảng cách trên 100 m. Trong các hợp chất bay hơi đặc trưng của hành tây và tỏi, hợp chất dipropyl disulfide đóng vai trò chất dẫn dụ khứu giác sơ cấp quan trọng nhất kích hoạt hành vi bay định hướng. Khi bắt gặp luồng khói mùi phân tử trong không khí, ruồi bay zigzag ngược hướng gió để tiếp cận nguồn phát.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khả năng định vị này không chỉ phụ thuộc vào nồng độ chất bay hơi mà còn chịu sự điều tiết của trạng thái sinh lý bên trong cá thể. Nghiên cứu thực nghiệm của McDonald và Borden (1997) phát hiện phản ứng định vị bay ngược chiều gió của ruồi hành phụ thuộc chặt chẽ vào độ tuổi và tình trạng giao phối, trong đó ruồi cái đã giao phối từ 7 đến 14 ngày tuổi đạt tỷ lệ phản ứng định vị luồng mùi trên 60%. Ngược lại, những con ruồi cái non chưa giao phối thường dành phần lớn thời gian tìm kiếm nguồn thức ăn chứa đường và protein từ mật hoa hoặc phấn hoa tại các thảm thực vật hoang dại xung quanh ruộng hành trước khi phát triển buồng trứng hoàn chỉnh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi đã tiếp cận được ruộng hành, quá trình lựa chọn giá thể đẻ trứng diễn ra thông qua một chuỗi phản ứng hành vi liên hoàn cực kỳ nghiêm ngặt. Công trình của Harris và Miller (1988) làm sáng tỏ chuỗi tập tính tiếp nhận ký chủ và đẻ trứng định hình của ruồi hành cái, bao gồm đáp cánh lên tán lá, thăm dò bề mặt bằng thụ quan tiếp xúc ở bàn chân và đẻ trứng xuống lớp đất sát gốc cây trong phạm vi dưới 1 cm. Bên cạnh đó, Harris và Miller (1988) chứng minh hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi dipropyl disulfide đóng vai trò kích thích ruồi cái đẻ trứng và sự kết hợp kích thích hóa học với hình thái thẳng đứng của thân cây làm tăng tỷ lệ tiếp nhận ký chủ. Tín hiệu quang học từ tán lá màu xanh lục mọc thẳng đứng kết hợp đồng vận với các thụ quan cảm ứng hóa học trên râu và chân giúp ruồi cái phân biệt chính xác cây ký chủ với các vật cản khác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế gây hại nông học và phức hợp tương tác vi sinh vật\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Ấu trùng ruồi hành gây thiệt hại nghiêm trọng nhất trong giai đoạn cây hành con mới mọc mầm hoặc vừa bén rễ sau khi cấy. Do bộ rễ và thân ngầm của cây non có kích thước rất nhỏ, lượng dinh dưỡng từ một cây đơn lẻ không đủ cung cấp cho toàn bộ quá trình lớn lên của ấu trùng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Finch (1989) nhấn mạnh rằng ấu trùng thế hệ thứ nhất có thể tiêu diệt từ 20 đến 30 cây hành con khi di chuyển giữa các hàng cây trong ruộng. Khi một cây con bị đục rỗng và héo rũ, ấu trùng bò qua lớp đất xốp trên mặt ruộng để xâm nhập sang các cây kế cận, tạo ra những khoảng trống chết liên hoàn dọc theo luống gieo trồng. Ở các thế hệ sau xuất hiện vào giữa hoặc cuối vụ khi hành đã hình thành củ lớn, ấu trùng chui vào qua phần đĩa rễ hoặc nách lá dưới mặt đất, đục sâu vào bên trong các lớp vảy thịt của củ hành.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Tác hại của dòi hành không chỉ dừng lại ở việc phá hủy cơ học các mô mạch dẫn. Quá trình ăn khoét tạo ra vết thương hở giải phóng dịch bào giàu đường và axit amin, đồng thời phá vỡ lớp biểu bì bảo vệ của rễ củ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn gây thối mềm cơ hội, điển hình là vi khuẩn \u003Ci>Pectobacterium carotovorum\u003C\u002Fi> (trước đây thuộc chi \u003Ci>Erwinia\u003C\u002Fi>), xâm nhiễm thứ cấp ồ ạt. Sự kết hợp giữa tác nhân côn trùng và vi khuẩn dẫn đến hiện tượng nhũn rữa toàn bộ củ hành, bốc mùi hôi thối đặc trưng và làm mất hoàn toàn giá trị thương phẩm cả trên đồng ruộng lẫn trong kho bảo quản sau thu hoạch.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bảng đối chiếu đặc điểm các giai đoạn phát triển sinh học của ruồi hành\u003C\u002Fh2>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Giai đoạn phát triển\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đặc điểm hình thái và giải phẫu\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Môi trường cư trú sinh thái\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Thời gian và điều kiện phát triển\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Trứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dạng hạt gạo thuôn dài, màu trắng sứ, bề mặt có đường gân khía dọc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nằm trong kẽ nứt của đất sát gốc cây hành hoặc bẹ lá sát mặt đất\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ấp nở nhanh khi nhiệt độ vượt ngưỡng phát triển cơ sở\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Ấu trùng (3 tuổi)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dòi màu trắng sữa, hình nón cụt, mang móc miệng đen sắc nhọn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đục trong rễ, gốc thân ngầm và các lớp vảy thịt của củ hành\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trải qua 3 tuổi trong 14 đến 25 ngày theo dữ liệu của Finch (1989)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Nhộng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vỏ nhộng hình trứng thuôn, màu nâu đỏ đậm đến nâu sẫm bóng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vùi sâu trong đất xung quanh gốc cây ký chủ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Qua đông ở độ sâu từ 5 cm đến 15 cm trong trạng thái đình dục (Finch, 1989)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Trưởng thành\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cơ thể màu xám tro, mắt kép đỏ nâu, mang lông cứng và cánh trong suốt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tán cây ký chủ, bề mặt luống đất và các dải hoa mật xung quanh ruộng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Định vị ký chủ nhờ bay ngược gió bám luồng mùi trên 100 m (Judd và Borden, 1988)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và biện pháp sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Việc phòng trừ ruồi hành bằng các loại {{topic|%7B%22topic%22%3A%22thu%E1%BB%91c%20b%E1%BA%A3o%20v%E1%BB%87%20th%E1%BB%B1c%20v%E1%BA%ADt%22%7D}} hóa học truyền thống phun phủ rải rác thường gặp nhiều trở ngại do ấu trùng ẩn náu sâu bên trong mô củ ngầm dưới đất, đồng thời việc lạm dụng hóa chất dễ dẫn đến hiện tượng bùng phát tính kháng thuốc của quần thể côn trùng. Do đó, các hệ thống nông nghiệp hiện đại chuyển dịch mạnh mẽ sang {{topic|%7B%22topic%22%3A%22chi%E1%BA%BFn%20l%C6%B0%E1%BB%A3c%20qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%22%7D}} dịch hại tổng hợp kết hợp đa phương thức.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Một trong những trụ cột then chốt của IPM là hệ thống dự báo và giám sát mật độ quần thể trưởng thành trên đồng ruộng. Nghiên cứu của Vernon, Judd và Borden (1987) đã xây dựng chương trình giám sát dịch hại thương mại bằng bẫy dính màu vàng kết hợp mồi nhử dipropyl disulfide, xác lập ngưỡng hành động phòng trừ từ 0,1 đến 0,5 ruồi trên bẫy mỗi ngày. Bằng cách theo dõi số lượng ruồi bẫy được hàng ngày, người canh tác có thể xác định chính xác thời điểm vũ hóa đỉnh cao của từng đợt ruồi trưởng thành để áp dụng biện pháp can thiệp đúng lúc, tránh việc phun thuốc phòng ngừa định kỳ gây lãng phí kinh tế và độc hại môi sinh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về biện pháp canh tác, việc luân canh triệt để giữa cây hành tỏi với các loại cây trồng không phải ký chủ (như ngô, ngũ cốc họ Hòa thảo hoặc các loại đậu) đóng vai trò then chốt trong việc cắt đứt chuỗi thức ăn của thế hệ ruồi đầu tiên vũ hóa từ nhộng qua đông trong đất vụ trước. Cày lật đất sâu sau vụ thu hoạch giúp phơi nhộng lên bề mặt để tiêu diệt cơ học hoặc làm mồi cho chim và các loài thiên địch săn mồi.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong hướng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ki%E1%BB%83m%20so%C3%A1t%20sinh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} và dẫn dụ chọn lọc, Willett, Filgueiras và Nyrop (2020) đã phát triển công nghệ dẫn dụ và tiêu diệt bằng cầu bả hình cầu chứa hợp chất dẫn dụ khứu giác dipropyl disulfide kết hợp hoạt chất sinh học spinosad nồng độ khoảng 0,1% giúp kiểm soát ruồi hành trưởng thành. Thiết bị này mô phỏng các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22k%C3%ADch%20th%C3%ADch%20th%E1%BB%8B%20gi%C3%A1c%22%7D}} và mùi hương của cây hành hấp dẫn ruồi cái tìm đến nạp độc tố sinh học, loại bỏ hiệu quả đàn ruồi mẹ trước khi chúng kịp đẻ trứng xuống gốc cây mà không gây ảnh hưởng đến quần thể côn trùng thụ phấn có ích.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Thách thức nghiên cứu và biến đổi sinh thái trong tương lai\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Các chương trình quản lý ruồi hành đang đối mặt với những biến đổi sinh thái phức tạp do sự biến động của khí hậu toàn cầu. Mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sự biến thiên thời điểm phá vỡ đình dục mùa đông và nguy cơ gia tăng số thế hệ ruồi hành phát sinh trong năm tại các vùng trồng hành vĩ độ cao vẫn còn nhiều bất định.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi mùa đông trở nên ấm hơn và mùa xuân đến sớm hơn, sự đồng bộ hóa giữa thời điểm vũ hóa của ruồi trưởng thành và giai đoạn sinh trưởng nhạy cảm của cây hành non có thể bị dịch chuyển, đặt ra yêu cầu phải liên tục cập nhật và hiệu chỉnh các mô hình tích ôn hữu hiệu dự báo dịch hại. Ngoài ra, việc nghiên cứu các giống hành kháng tự nhiên thông qua hàm lượng hợp chất thứ cấp và cấu trúc bề mặt biểu bì rễ cũng đang mở ra triển vọng giúp giảm thiểu áp lực gây hại của loài dịch hại dai dẳng này.\u003C\u002Fp>\n","Onion fly",[19,20,21],"dòi hành","sâu dòi hại hành","ruồi Delia antiqua","Ruồi hành (Delia antiqua) là loài côn trùng gây hại thuộc bộ Hai cánh (Diptera), họ Ruồi hoa (Anthomyiidae), chuyên gây hại trên các loài cây trồng thuộc chi Hành tỏi (Allium) thông qua việc ấu trùng đục phá mô ngầm và rễ củ.","NATURAL_SCIENCES",[25,33,41,48,56,64],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Finch, S. (1989). Ecological Considerations in the Management of Delia Pest Species in Vegetable Crops. Annual Review of Entomology, 34(1), 117-137.","Ecological Considerations in the Management of Delia Pest Species in Vegetable Crops","S Finch","Annual Review of Entomology",1989,"10.1146\u002Fannurev.en.34.010189.001001","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1146\u002Fannurev.en.34.010189.001001",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":40},"Harris, M., & Miller, J. (1988). Host-acceptance behaviour in an herbivorous fly, Delia antiqua. Journal of Insect Physiology, 34(3), 179-190.","Host-acceptance behaviour in an herbivorous fly, Delia antiqua","M.O. Harris, J.R. Miller","Journal of Insect Physiology",1988,"10.1016\u002F0022-1910(88)90048-0","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0022-1910(88)90048-0",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":45,"year":38,"doi":46,"url":47},"Judd, G., & Borden, J. (1988). Long-Range Host-Finding Behaviour of the Onion Fly Delia antiqua (Diptera: Anthomyiidae): Ecological and Physiological Constraints. The Journal of Applied Ecology, 25(3), 829.","Long-Range Host-Finding Behaviour of the Onion Fly Delia antiqua (Diptera: Anthomyiidae): Ecological and Physiological Constraints","G. J. R. Judd, J. H. Borden","The Journal of Applied Ecology","10.2307\u002F2403749","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.2307\u002F2403749",{"citationText":49,"title":50,"authors":51,"source":52,"year":53,"doi":54,"url":55},"McDonald, R., & Borden, J. (1997). Host-Finding and Upwind Anemotaxis by Delia antiqua (Diptera: Anthomyiidae) in Relation to Age, Ovarian Development, and Mating Status. Environmental Entomology, 26(3), 624-631.","Host-Finding and Upwind Anemotaxis by Delia antiqua (Diptera: Anthomyiidae) in Relation to Age, Ovarian Development, and Mating Status","R. S. McDonald, J. H. Borden","Environmental Entomology",1997,"10.1093\u002Fee\u002F26.3.624","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1093\u002Fee\u002F26.3.624",{"citationText":57,"title":58,"authors":59,"source":60,"year":61,"doi":62,"url":63},"Vernon, R., Judd, G., et al. (1987). Commercial monitoring programme for the onion fly, Delia antiqua (Meigen) (Diptera: Anthomyiidae) in south-western British Columbia. Crop Protection, 6(5), 304-312.","Commercial monitoring programme for the onion fly, Delia antiqua (Meigen) (Diptera: Anthomyiidae) in south-western British Columbia","Robert S. Vernon, G.J.R. Judd, J.H. Borden","Crop Protection",1987,"10.1016\u002F0261-2194(87)90059-7","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0261-2194(87)90059-7",{"citationText":65,"title":66,"authors":67,"source":68,"year":69,"doi":70,"url":71},"Willett, D., Filgueiras, C., et al. (2020). Attract and kill: spinosad containing spheres to control onion maggot (\u003Cscp>\u003Ci>Delia antiqua\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fscp>). Pest Management Science, 76(8), 2720-2725.","Attract and kill: spinosad containing spheres to control onion maggot (\u003Cscp>\u003Ci>Delia antiqua\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fscp>)","Denis S Willett, Camila C Filgueiras, Jan P Nyrop, Brian A Nault","Pest Management Science",2020,"10.1002\u002Fps.5818","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Fps.5818",[73,76,79],{"question":74,"answer":75},"Ruồi hành là gì?","Ruồi hành (Delia antiqua) là loài côn trùng gây hại thuộc bộ Hai cánh (Diptera), họ Ruồi hoa (Anthomyiidae), có ấu trùng chuyên đục khoét mô rễ củ của các loài cây trồng thuộc chi Allium.",{"question":77,"answer":78},"Tại sao ruồi hành có thể định vị chính xác cây hành tỏi trên đồng ruộng?","Ruồi hành sử dụng thụ quan khứu giác để cảm nhận các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi đặc trưng của hành tỏi như dipropyl disulfide, kết hợp với tập tính bay ngược chiều gió và tín hiệu thị giác từ thân cây thẳng đứng.",{"question":80,"answer":81},"Biện pháp nào giúp kiểm soát ruồi hành hiệu quả trong nông nghiệp bền vững?","Chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) bao gồm luân canh cây trồng khác họ, bẫy dính màu vàng kết hợp chất dẫn dụ dipropyl disulfide để giám sát ngưỡng hành động, và áp dụng công nghệ dẫn dụ và tiêu diệt (attract and kill) bằng bả chứa hoạt chất sinh học spinosad.",{"id":83,"researcherId":10,"name":84,"imageUrl":85},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":83,"researcherId":10,"name":84,"imageUrl":85},[88,89,90,91,92,93,94,95],"giai đoạn phát triển","phân chia tế bào","thời gian hoàn thành","nhiệt độ môi trường","thuốc bảo vệ thực vật","chiến lược quản lý","kiểm soát sinh học","kích thích thị giác",8,false,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:09.816+00:00","2026-09-06T11:07:55.640+00:00","2026-09-06T10:29:43.046+00:00","2026-09-06T11:07:55.329+00:00",0,[105,108,111,114,117,120,123,126,129,132],{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khảo nghiệm","Khảo nghiệm là gì? Các công bố khoa học về Khảo nghiệm",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tái sử dụng","Tái sử dụng là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tái sử dụng",{"id":112,"title":113,"term":112,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"peptidoglycan","Peptidoglycan là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"động cơ học tập","Động cơ học tập là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"độc tính cấp","Độc tính cấp là gì? Các nghiên cứu khoa học về Độc tính cấp",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lạp thể","Lạp thể là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Lạp thể",{"id":124,"title":125,"term":124,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hoạt tính sinh học","Hoạt tính sinh học là gì? Các công bố khoa học về Hoạt tính sinh học",{"id":127,"title":128,"term":127,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"đường cong kuznets môi trường","Đường cong kuznets môi trường là gì? Nghiên cứu liên quan",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"thiên địch","Thiên địch là gì? Các công bố khoa học về Thiên địch",{"id":133,"title":134,"term":133,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lc ms ms","Lc ms ms là gì? Các nghiên cứu khoa học về Lc ms ms"]