[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_pyrethroid%20t%E1%BB%95ng%20h%E1%BB%A3p{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_pyrethroid tổng hợp":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":21,"discipline":22,"references":23,"faqs":78,"createUser":94,"publishUser":98,"keywords":99,"keywordCount":110,"enrichTopicLink":111,"status":112,"createTime":113,"updateTime":114,"publishTime":115,"linkEnrichedTime":116,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":117,"relateTopics":118},"pyrethroid tổng hợp","Pyrethroid tổng hợp là gì? Cơ chế và phân loại thuốc trừ sâu","Khái niệm pyrethroid tổng hợp, cơ chế tác động lên kênh natri nơ-ron, phân loại nhóm I và II, độc tính chọn lọc và thách thức quản lý tính kháng.","\u003Cp>Pyrethroid tổng hợp là nhóm hợp chất hoá học nhân tạo có cấu trúc phân tử mô phỏng theo các pyrethrin tự nhiên chiết xuất từ hoa cúc, hoạt động như những chất độc thần kinh gây biến đổi kênh natri phụ thuộc điện thế trên màng sợi trục thần kinh của côn trùng nhằm mục đích kiểm soát dịch hại trong nông nghiệp, thú y và y tế công cộng. Nhờ sở hữu hiệu lực hạ gục nhanh, độc tính cấp tính tương đối thấp đối với động vật có vú và khả năng phân huỷ sinh học nhanh hơn so với các nhóm thuốc trừ sâu clo hữu cơ hay phospho hữu cơ cổ điển, nhóm hoạt chất này đóng vai trò chủ chốt trong các chương trình bảo vệ thực vật và kiểm soát véc-tơ truyền bệnh truyền nhiễm. Bài viết này trình bày toàn diện về bản chất hoá học, lịch sử phát triển, phân loại cấu trúc nhóm I và nhóm II, cơ chế điện sinh lý phân tử, độc tính chọn lọc sinh học, thực trạng kháng thuốc cùng những giới hạn an toàn sinh thái của pyrethroid tổng hợp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất hoá học và lịch sử phát triển\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Các pyrethroid tổng hợp ra đời từ nỗ lực khắc phục những hạn chế cố hữu của pyrethrin tự nhiên, vốn là hỗn hợp gồm sáu ester phức tạp chiết xuất từ hoa cúc \u003Cem>Chrysanthemum cinerariifolium\u003C\u002Fem>. Mặc dù pyrethrin tự nhiên có hoạt tính diệt côn trùng rất mạnh và an toàn cao, chúng lại chứa các liên kết đôi không no dễ bị oxy hoá và quang phân dưới tác động của bức xạ tử ngoại, làm mất hoạt tính chỉ sau vài giờ tiếp xúc với ánh sáng ngoài trời.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Cấu trúc phân tử và sự mô phỏng pyrethrin tự nhiên\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Về mặt hoá học, đa số các pyrethroid tổng hợp là những ester được tạo thành từ phản ứng ngưng tụ giữa một acid carboxylic thân dầu và một alcohol thơm hoặc alcohol vòng. Phân tử cơ bản thường bao gồm acid chrysanthemic hoặc các dẫn xuất thế halogen của nó kết hợp với một alcohol lập thể tương ứng. Sự hiện diện của các tâm bất đối xứng trong khung carbon tạo ra nhiều đồng phân lập thể với hoạt tính sinh học chênh lệch đáng kể, trong đó các đồng phân dạng \u003Cem>cis\u003C\u002Fem> hoặc \u003Cem>trans\u003C\u002Fem> và cấu hình quang học 1R thường mang độc lực diệt côn trùng cao hơn hẳn so với các đồng phân còn lại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Bốn thế hệ phát triển của pyrethroid tổng hợp\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Quá trình tối ưu hoá cấu trúc hoá học của pyrethroid đã trải qua bốn giai đoạn tiến hoá then chốt nhằm nâng cao độ bền quang và hoạt lực diệt trừ côn trùng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thế hệ thứ nhất:\u003C\u002Fstrong> Vào năm 1949, allethrin được Schechter tổng hợp thành công và trở thành pyrethroid nhân tạo thế hệ đầu tiên (Ahamad và Kumar, 2023). Tiếp sau đó, tetramethrin vào năm 1965 và resmethrin vào năm 1967 được đưa vào sử dụng thương mại. Tuy nhiên, các hợp chất thế hệ này vẫn giữ gốc isobutenyl kém bền, nhanh chóng bị phân huỷ quang học dưới ánh nắng mặt trời nên chủ yếu chỉ ứng dụng trong không gian kín gia dụng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thế hệ thứ hai:\u003C\u002Fstrong> Đến năm 1973, các nhà khoa học đã biến đổi cấu trúc gốc alcohol bằng cách đưa vào nhóm phenoxybenzyl, điển hình là hoạt chất phenothrin vào năm 1973, giúp cải thiện độ ổn định hoá học ban đầu nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu bền vững ngoài đồng ruộng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thế hệ thứ ba:\u003C\u002Fstrong> Vào năm 1973, nhà hoá học Michael Elliott tại Trạm thực nghiệm Rothamsted đã tạo nên bước ngoặt lịch sử khi thay thế nhóm furan và isobutenyl bằng cầu nối dichlorovinyl và 3-phenoxybenzyl alcohol để tổng hợp thành công permethrin. Cải tiến này mang lại tính bền quang học vượt trội ngoài đồng ruộng, mở đường cho việc ứng dụng pyrethroid trên quy mô nông nghiệp đại trà.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thế hệ thứ tư:\u003C\u002Fstrong> Sự ra đời của các pyrethroid thế hệ sau có bổ sung nhóm alpha-cyano tại vị trí benzylic của gốc alcohol như deltamethrin vào năm 1974 và cypermethrin vào năm 1975 đã nâng cao hoạt tính diệt côn trùng gấp 10 đến 100 lần so với các hợp chất trước đó, thiết lập tiêu chuẩn mới về hiệu lực kiểm soát dịch hại ở liều lượng cực thấp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Theo tổng quan của Ahamad và Kumar (2023), các hoạt chất pyrethroid tổng hợp đã trở thành một trong những dòng thuốc trừ sâu thương mại phổ biến nhất toàn cầu nhờ hiệu lực diệt côn trùng mạnh mẽ và độ bền môi trường được cải thiện. Bên cạnh đó, các nghiên cứu an toàn sức khoẻ của Chrustek và cộng sự (2018) đã tập trung phân tích những ảnh hưởng sinh học tiềm tàng của dư lượng hoạt chất đối với con người trong điều kiện phơi nhiễm kéo dài.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại pyrethroid: Nhóm I và Nhóm II\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Dựa trên triệu chứng nhiễm độc trên côn trùng và đáp ứng điện sinh lý trên dây thần kinh, pyrethroid được phân thành hai nhóm riêng biệt là Nhóm I và Nhóm II vào năm 1981 theo công trình nền tảng của Gammon, Brown và Casida. Cách phân loại này tương ứng chặt chẽ với sự hiện diện hoặc vắng mặt của nhóm thế alpha-cyano trên phân tử.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đặc điểm phân loại cấu trúc\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Sự phân chia pyrethroid dựa trên cấu trúc hoá học và biểu hiện lâm sàng bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Pyrethroid Nhóm I (Type I):\u003C\u002Fstrong> Cấu trúc phân tử hoàn toàn không chứa nhóm alpha-cyano tại gốc ester alcohol. Các đại diện tiêu biểu bao gồm permethrin, allethrin, bifenthrin, tetramethrin và resmethrin. Về mặt lâm sàng trên {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99ng%20v%E1%BA%ADt%20c%C3%B3%20v%C3%BA%22%7D}}, các hợp chất nhóm này gây ra hội chứng run rẩy (hội chứng T, xuất phát từ chữ tremor), biểu hiện bằng tình trạng tăng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22k%C3%ADch%20th%C3%ADch%20th%E1%BA%A7n%20kinh%22%7D}} vận động, run rẩy toàn thân, co giật rung cơ và tăng thân nhiệt.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Pyrethroid Nhóm II (Type II):\u003C\u002Fstrong> Phân tử sở hữu một nhóm alpha-cyano (-CN) liên kết trực tiếp tại vị trí carbon benzylic của gốc 3-phenoxybenzyl alcohol. Các hoạt chất tiêu biểu gồm deltamethrin, cypermethrin, alpha-cypermethrin, lambda-cyhalothrin và fenvalerate. Nhóm này gây ra hội chứng múa vờn tiết nước bọt (hội chứng CS, viết tắt từ choreoathetosis và salivation), với các triệu chứng đặc trưng gồm tăng tiết nước bọt dữ dội, co giật trương lực cơ, động tác múa vờn mất đồng vận và co cứng kiểu uốn ván.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Bảng so sánh chi tiết Pyrethroid Nhóm I và Nhóm II\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Sự khác biệt căn bản giữa hai nhóm pyrethroid được tóm tắt trong bảng đối chiếu dưới đây:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc tính so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Pyrethroid Nhóm I (Type I)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Pyrethroid Nhóm II (Type II)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cấu trúc hoá học đặc trưng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không chứa nhóm thế alpha-cyano ở gốc alcohol\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Có nhóm thế alpha-cyano tại vị trí carbon benzylic\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hoạt chất tiêu biểu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Permethrin, allethrin, bifenthrin, tetramethrin\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Deltamethrin, cypermethrin, lambda-cyhalothrin\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Động học dòng natri đuôi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kéo dài từ 5 đến 20 mili-giây\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kéo dài hàng trăm mili-giây đến vài giây\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hiện tượng điện sinh lý\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kích hoạt chuỗi phóng điện lặp lại liên tục\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khử cực màng bền vững và chặn xung thần kinh\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hội chứng ngộ độc động vật\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hội chứng run rẩy toàn thân (hội chứng T)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hội chứng múa vờn và tiết nước bọt (hội chứng CS)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tác động lên thụ thể GABA\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất yếu hoặc không đáng kể\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ức chế một phần kênh clorid qua thụ thể GABA\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Theo hệ thống phân loại phương thức tác động của Ủy ban Hành động về Kháng Thuốc trừ sâu (IRAC), toàn bộ các pyrethroid tổng hợp và pyrethrin tự nhiên đều được xếp chung vào Nhóm 3A (chất điều hoà kênh natri), chỉ rõ rằng chúng cùng chia sẻ đích tác động sinh học cốt lõi dù có sự khác biệt về mặt động học phân tử.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế tác động sinh học phân tử và điện sinh lý\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Đích tác động chính của pyrethroid tổng hợp là kênh natri phụ thuộc điện thế (voltage-gated sodium channels, ký hiệu VGSC) trên màng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BA%BF%20b%C3%A0o%20th%E1%BA%A7n%20kinh%22%7D}} của côn trùng. Kênh ion này chịu trách nhiệm khởi phát và lan truyền điện thế hoạt động dọc theo sợi trục nơ-ron.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tương tác với thụ thể kênh natri VGSC\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Kênh VGSC của côn trùng là một phức hợp protein màng lớn với tiểu đơn vị alpha gồm bốn miền tương đồng xuyên màng (được đánh số từ I đến IV), mỗi miền chứa sáu đoạn xoắn xuyên màng (S1 đến S6). Đoạn xoắn S4 đóng vai trò cảm biến điện thế, trong khi các đoạn S5 và S6 cùng các vòng nối tạo nên lỗ dẫn truyền chọn lọc ion natri.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu sinh học phân tử của Dong và cs. (2014) đã xác định kênh natri phụ thuộc điện thế của côn trùng sở hữu hai vị trí thụ thể liên kết pyrethroid riêng biệt là PyR1 và PyR2:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vị trí PyR1:\u003C\u002Fstrong> Nằm ở khoang liên kết giữa các miền xuyên màng, được định hình bởi đoạn nối liên miền IIS4-S5, đoạn xoắn IIS5, IIS6 và IIIS6.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vị trí PyR2:\u003C\u002Fstrong> Được hình thành từ các amino acid thuộc đoạn xoắn IS6, đoạn nối IS4-S5 và đoạn IIS6.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Khi gắn vào các thụ thể này, phân tử pyrethroid liên kết ưu tiên với kênh ở trạng thái mở trong quá trình khử cực màng. Thuốc hoạt động như một cái nêm phân tử, ngăn cản sự chuyển động bình thường của cổng bất hoạt và làm chậm quá trình đóng kênh khi màng tái phân cực.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Động học dòng ion và mô hình dẫn truyền màng\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Trong điều kiện sinh lý bình thường, dòng ion natri khử cực màng chỉ diễn ra trong khoảng chớp nhoáng dưới một mili-giây trước khi kênh nhanh chóng chuyển sang trạng thái bất hoạt. Dưới tác động của pyrethroid, quá trình khử hoạt và đóng cổng bị trì hoãn nghiêm trọng, tạo ra dòng natri tồn lưu kéo dài (tail current).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo Soderlund và cs. (2002), pyrethroid nhóm I không có nhóm alpha-cyano kéo dài dòng mở natri từ 5 đến 20 mili-giây, dẫn đến hiện tượng điện thế sau khử cực tăng cao và kích hoạt chuỗi xung điện thần kinh lặp lại liên tục. Ngược lại, pyrethroid nhóm II có nhóm alpha-cyano duy trì trạng thái mở kênh từ hàng trăm mili-giây đến vài giây hoặc hàng nghìn mili-giây, gây ra sự khử cực màng bền vững. Khi màng tế bào bị khử cực kéo dài mà không thể tái phân cực, điện thế hoạt động mới không thể phát sinh, dẫn đến hiện tượng phong bế {{topic|%7B%22topic%22%3A%22d%E1%BA%ABn%20truy%E1%BB%81n%20th%E1%BA%A7n%20kinh%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Biến thiên dòng ion natri qua màng sợi trục thần kinh có thể được mô tả toán học dựa trên mô hình Hodgkin-Huxley cải biên cho kênh natri:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">I_{\\mathrm{Na}} = g_{\\mathrm{Na}} \\cdot m^3 h \\cdot (V_{\\mathrm{m}} - E_{\\mathrm{Na}})\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong công thức trên, đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">I_{\\mathrm{Na}}\u003C\u002Fscript> là cường độ dòng ion natri xuyên màng tế bào, tham số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g_{\\mathrm{Na}}\u003C\u002Fscript> biểu thị độ dẫn điện cực đại của quần thể kênh natri, biến số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">m\u003C\u002Fscript> là cổng kích hoạt mở kênh phụ thuộc vào điện thế màng, biến số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">h\u003C\u002Fscript> là cổng bất hoạt đóng kênh phụ thuộc thời gian và điện thế, biến số \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V_{\\mathrm{m}}\u003C\u002Fscript> là điện thế màng sợi trục tại thời điểm khảo sát, và đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_{\\mathrm{Na}}\u003C\u002Fscript> là điện thế cân bằng nhiệt động lực học của ion natri được xác định theo phương trình Nernst. Sự hiện diện của pyrethroid làm biến đổi hằng số thời gian phân rã của biến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">h\u003C\u002Fscript>, khiến giá trị biến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">h\u003C\u002Fscript> không thể suy giảm về mức zero, duy trì độ dẫn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">g_{\\mathrm{Na}}\u003C\u002Fscript> bất thường và gây tràn ngập dòng natri vào trong tế bào.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Hậu quả sinh lý học trực tiếp là côn trùng xuất hiện các đợt co giật mất kiểm soát, nhanh chóng mất khả năng phối hợp vận động và rơi vào trạng thái hạ gục hoàn toàn (knock-down effect) trước khi tử vong do kiệt quệ năng lượng tế bào thần kinh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế độc tính chọn lọc và chuyển hoá sinh học\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Một trong những ưu điểm nổi bật nhất giúp pyrethroid tổng hợp thay thế các nhóm hoá chất trừ sâu cũ là tính an toàn chọn lọc tương đối cao giữa côn trùng gây hại và các loài động vật có vú.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Nguyên nhân tạo nên độc tính chọn lọc\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Độc tính chọn lọc của pyrethroid bắt nguồn từ sự kết hợp của ba cơ chế sinh lý và phân tử cơ bản:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Col>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ nhạy cảm của thụ thể kênh ion:\u003C\u002Fstrong> Kênh natri phụ thuộc điện thế của côn trùng nhạy cảm với pyrethroid gấp 100 đến 1000 lần so với các kênh tương đồng ở động vật có vú theo phân tích của Soderlund và cs. (2002). Sự khác biệt về trình tự amino acid tại các túi liên kết PyR1 và PyR2 giữa kênh côn trùng và kênh động vật có vú làm suy giảm đáng kể ái lực bám dính của phân tử thuốc trên hệ thần kinh người và gia súc.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ số nhiệt độ âm:\u003C\u002Fstrong> Hoạt tính kéo dài thời gian mở kênh natri của pyrethroid biểu hiện hệ số nhiệt độ âm rõ rệt, do đó hoạt chất có hiệu lực độc thần kinh mạnh hơn ở {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%22%7D}} từ 20 °C đến 25 °C so với thân nhiệt 37 °C của động vật có vú. Nhiệt độ cơ thể cao của động vật đẳng nhiệt đẩy nhanh tốc độ đóng tự nhiên của kênh và phân tán liên kết giữa hoạt chất với thụ thể.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tốc độ chuyển hoá sinh học và giải độc ở gan:\u003C\u002Fstrong> Động vật có vú sở hữu hệ enzyme gan cực kỳ dồi dào, bao gồm các carboxylesterase thuỷ phân nhanh chóng liên kết ester trung tâm và hệ cytochrome P450 monooxygenase (CYP) oxy hoá các vòng thơm và nhánh béo. Các phản ứng này chuyển đổi pyrethroid thành các chất chuyển hoá phân cực tan trong nước như acid chrysanthemic tự do hoặc acid 3-phenoxybenzoic, nhanh chóng bài tiết qua nước tiểu mà không tích luỹ trong mô mỡ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\n\u003Ch3>Tính mẫn cảm đặc thù ở loài mèo\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Mặc dù đa số động vật có vú dung nạp tốt pyrethroid ở liều thông thường, loài mèo lại là một ngoại lệ sinh học đặc biệt nguy hiểm. Linnett (2008) chỉ rõ loài mèo đặc biệt mẫn cảm với độc tính của permethrin do thiếu hụt enzym gan glucuronosyltransferase UGT1A6, dẫn đến co giật và tử vong khi tiếp xúc với thuốc trị ve rận của chó chứa nồng độ từ 45% đến 65% permethrin.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Do sự biến đổi gene làm mất hoạt tính của enzyme UDP-glucuronosyltransferase 1A6, gan mèo không thể thực hiện phản ứng liên hợp glucuronide để đào thải các sản phẩm phân huỷ của permethrin. Khi bị chủ nuôi nhỏ nhầm thuốc trị ve rận dành cho chó hoặc liếm phải hoá chất trên lông chó nuôi cùng nhà, mèo biểu hiện nhiễm độc thần kinh cấp tính nghiêm trọng với các cơn co giật rung cơ liên tục, mất điều hoà vận động, sùi bọt mép, tăng thân nhiệt ác tính và suy hô hấp dẫn đến tử vong nếu không được can thiệp y tế khẩn cấp bằng nhũ dịch lipid truyền tĩnh mạch.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng thực tế và khung pháp lý tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Pyrethroid tổng hợp được ứng dụng sâu rộng trong cả {{topic|%7B%22topic%22%3A%22s%E1%BA%A3n%20xu%E1%BA%A5t%20n%C3%B4ng%20nghi%E1%BB%87p%22%7D}} lẫn các chiến dịch bảo vệ sức khoẻ cộng đồng tại Việt Nam nhờ hiệu quả kinh tế và độ an toàn tương đối với người sử dụng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Ứng dụng trong nông nghiệp và danh mục thuốc bảo vệ thực vật\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Trong canh tác nông nghiệp, các hoạt chất như cypermethrin, deltamethrin, alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin được phối chế dưới dạng nhũ dầu hoặc huyền phù để phun trừ sâu cuốn lá, rầy nâu, sâu tơ và bọ trĩ trên lúa, rau màu và cây ăn trái. Tại Việt Nam, Thông tư số 10\u002F2020\u002FTT-BNNPTNT ngày 09 tháng 09 năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định các hoạt chất pyrethroid như cypermethrin, deltamethrin, permethrin được phép lưu hành trong danh mục {{topic|%7B%22topic%22%3A%22thu%E1%BB%91c%20b%E1%BA%A3o%20v%E1%BB%87%20th%E1%BB%B1c%20v%E1%BA%ADt%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Ứng dụng trong y tế dự phòng và phòng chống sốt xuất huyết\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Trong y tế dự phòng, pyrethroid là công cụ không thể thay thế trong chiến lược kiểm soát véc-tơ truyền bệnh sốt rét và sốt xuất huyết Dengue do muỗi \u003Cem>Aedes aegypti\u003C\u002Fem> và \u003Cem>Anopheles\u003C\u002Fem> lây truyền. Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3711\u002FQĐ-BYT năm 2014 hướng dẫn sử dụng các hoá chất diệt muỗi pyrethroid như permethrin 50EC, deltamethrin 2,5EW và alpha-cypermethrin 10SC trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các kỹ thuật áp dụng chính bao gồm phun không gian thể tích cực nhỏ (Ultra Low Volume, ULV) để dập dịch nhanh trong các đợt bùng phát sốt xuất huyết tại khu dân cư và tẩm màn ngủ hoá chất tồn lưu lâu (LLIN) để ngăn chặn muỗi đốt truyền mầm bệnh trong các vùng sốt rét lưu hành.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ chế kháng thuốc và thách thức quản lý tính kháng\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Việc sử dụng liên tục và lặp đi lặp lại pyrethroid trong nhiều thập kỷ qua trên diện rộng đã tạo áp lực chọn lọc gay gắt, dẫn đến sự bùng phát tính kháng thuốc ở hầu hết các loài côn trùng gây hại và véc-tơ truyền bệnh chủ yếu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đột biến kháng hạ gục (kdr)\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Cơ chế kháng thuốc quan trọng và nguy hiểm nhất là đột biến kháng hạ gục (knockdown resistance, viết tắt là kdr), xuất phát từ các đột biến điểm trên gene mã hoá tiểu đơn vị alpha của kênh natri VGSC. Dong và cs. (2014) chỉ ra rằng kênh natri phụ thuộc điện thế của côn trùng sở hữu hai vị trí thụ thể liên kết pyrethroid riêng biệt là PyR1 và PyR2 với hơn 50 đột biến điểm liên quan đến tính kháng hạ gục kdr đã được ghi nhận trên các loài côn trùng gây hại khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các đột biến điểm điển hình như L1014F (được phát hiện đầu tiên ở ruồi nhà \u003Cem>Musca domestica\u003C\u002Fem>) hay các đột biến V1016G và F1534C ở muỗi làm thay đổi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20kh%C3%B4ng%20gian%22%7D}} ba chiều của túi gắn thụ thể, cản trở phân tử pyrethroid liên kết vào kênh. Nghiên cứu năm 2009 trên các quần thể muỗi Aedes aegypti kháng pyrethroid tại Việt Nam của Kawada và cs. đã phát hiện đột biến điểm F1269C (tương ứng với vị trí F1534C theo hệ quy chiếu đánh số kênh natri của \u003Cem>Musca domestica\u003C\u002Fem>) phân bố rộng rãi tại nhiều tỉnh thành. Sự hiện diện với tần số cao của đột biến này khiến hiệu lực diệt muỗi của permethrin và deltamethrin trong các chiến dịch phun không gian bị suy giảm nghiêm trọng tại các điểm nóng dịch bệnh ở nước ta.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Kháng chuyển hoá và chiến lược quản lý bền vững\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Bên cạnh đột biến thụ thể, côn trùng còn phát triển tính kháng chuyển hoá thông qua việc tăng cường biểu hiện của các enzyme giải độc nội sinh, bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cytochrome P450 monooxygenase:\u003C\u002Fstrong> Họ enzyme này, đặc biệt là các phân họ CYP6 và CYP9, có khả năng hydroxyl hoá nhanh chóng khung phân tử pyrethroid trước khi chúng tiếp cận được sợi trục thần kinh.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Glutathione S-transferase (GST):\u003C\u002Fstrong> Hỗ trợ giải độc thứ cấp và bảo vệ mô thần kinh khỏi stress oxy hoá do pyrethroid gây ra.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Carboxylesterase:\u003C\u002Fstrong> Tăng cường thuỷ phân liên kết ester của phân tử hoạt chất.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Để bảo tồn hiệu lực của pyrethroid và đối phó với tình trạng kháng chéo giữa nhóm I và nhóm II, các chuyên gia khuyến cáo áp dụng chiến lược Quản lý Tính kháng Thuốc trừ sâu (IRM). Biện pháp trọng tâm là luân phiên sử dụng pyrethroid với các nhóm hoá chất có cơ chế tác động hoàn toàn khác biệt theo danh mục IRAC, chẳng hạn như nhóm neonicotinoid (Nhóm 4A), organophosphate (Nhóm 1B) hoặc các hoạt chất điều hoà sinh trưởng côn trùng (IGR), kết hợp các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) phi hoá học.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Độc tính sinh thái và các hạn chế môi trường\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mặc dù có độ an toàn vượt trội đối với động vật có vú trên cạn, pyrethroid tổng hợp lại tiềm ẩn rủi ro sinh thái đặc biệt nghiêm trọng đối với môi trường nước và các sinh vật thụ phấn có ích.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Độc tính cực cao đối với cá và thuỷ sinh vật\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Hạn chế môi trường lớn nhất của pyrethroid là {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99c%20t%C3%ADnh%20c%E1%BA%A5p%20t%C3%ADnh%22%7D}} đối với cá và các loài giáp xác nước ngọt. Ahamad và Kumar (2023) nhấn mạnh pyrethroid có độc tính cấp tính đặc biệt cao đối với cá và các loài thuỷ sinh, với nồng độ gây chết LC50 sau 96 giờ thường dưới 10 microgam trên lít và có thể dưới 1 microgam trên lít đối với deltamethrin.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Cá cực kỳ mẫn cảm với pyrethroid vì hai lý do sinh học cốt lõi: thứ nhất, cá thiếu hụt nghiêm trọng các enzyme carboxylesterase thuỷ phân ester trong huyết thanh và gan; thứ hai, mang cá là bề mặt hấp thụ diện tích lớn, cho phép các phân tử pyrethroid thân dầu khuếch tán nhanh chóng trực tiếp vào máu mà không qua hệ thống chuyển hoá bước đầu của đường tiêu hoá. Do đó, việc rửa trôi thuốc trừ sâu từ đồng ruộng vào ao hồ, kênh rạch sau các trận mưa lớn có thể gây chết hàng loạt cá và sinh vật phi mục tiêu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tác động bất lợi lên côn trùng thụ phấn\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Pyrethroid tổng hợp không có tính chọn lọc giữa côn trùng gây hại và côn trùng có ích. Các hoạt chất này có độc tính tiếp xúc và xua đuổi rất mạnh đối với ong mật (\u003Cem>Apis mellifera\u003C\u002Fem>) và các loài thiên địch ăn thịt tự nhiên. Tiếp xúc với nồng độ dưới mức gây chết có thể làm rối loạn khả năng ghi nhớ không gian, cản trở điệu múa định hướng tìm nguồn mật và làm suy giảm {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BB%A9c%20n%C4%83ng%20mi%E1%BB%85n%20d%E1%BB%8Bch%22%7D}} của đàn ong, gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất thụ phấn cây trồng và đa dạng sinh học tự nhiên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Do đó, việc sử dụng pyrethroid tổng hợp đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn an toàn kỹ thuật, thời gian cách ly mùa vụ và quy định bảo vệ nguồn nước nhằm khai thác tối đa lợi ích bảo vệ mùa màng song song với việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến cân bằng sinh thái.\u003C\u002Fp>","Pyrethroid tổng hợp","synthetic pyrethroids",[20],"thuốc trừ sâu pyrethroid tổng hợp","Pyrethroid tổng hợp là nhóm thuốc trừ sâu nhân tạo có cấu trúc mô phỏng pyrethrin tự nhiên, tác động làm rối loạn kênh natri phụ thuộc điện thế trên màng nơ-ron của côn trùng. Hoạt chất được ứng dụng rộng rãi trong bảo vệ mùa màng và phòng chống véc-tơ truyền bệnh nhờ độc tính chọn lọc tương đối cao với động vật có vú.","AGRICULTURAL_SCIENCES",[24,31,38,45,52,59,66,73],{"citationText":25,"title":26,"authors":27,"source":28,"year":29,"doi":30,"url":10},"Gammon, D. W., Brown, M. A., & Casida, J. E. (1981). Two classes of pyrethroid action in the cockroach. Pesticide Biochemistry and Physiology, 15(2), 181-191.","Two classes of pyrethroid action in the cockroach","Gammon, Brown, Casida","Pesticide Biochemistry and Physiology",1981,"10.1016\u002F0048-3575(81)90084-5",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":10},"Soderlund, D. M., Clark, J. M., Sheets, L. P., Mullin, L. S., Piccirillo, V. J., Sargent, D., Stevens, J. T., & Weiner, M. L. (2002). Mechanisms of pyrethroid neurotoxicity: implications for cumulative risk assessment. Toxicology, 171(1), 3-59.","Mechanisms of pyrethroid neurotoxicity: implications for cumulative risk assessment","Soderlund, Clark, Sheets, Mullin, Piccirillo, Sargent, Stevens, Weiner","Toxicology",2002,"10.1016\u002Fs0300-483x(01)00569-8",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":42,"year":43,"doi":44,"url":10},"Dong, K., Du, Y., Rinkevich, F., Nomura, Y., Xu, P., Wang, L., Silver, K., & Zhorov, B. S. (2014). Molecular biology of insect sodium channels and pyrethroid resistance. Insect Biochemistry and Molecular Biology, 50, 1-17.","Molecular biology of insect sodium channels and pyrethroid resistance","Dong, Du, Rinkevich, Nomura, Xu, Wang, Silver, Zhorov","Insect Biochemistry and Molecular Biology",2014,"10.1016\u002Fj.ibmb.2014.03.012",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":10},"Ahamad, A., & Kumar, J. (2023). Pyrethroid pesticides: An overview on classification, toxicological assessment and monitoring. Journal of Hazardous Materials Advances, 10, 100284.","Pyrethroid pesticides: An overview on classification, toxicological assessment and monitoring","Ahamad, Kumar","Journal of Hazardous Materials Advances",2023,"10.1016\u002Fj.hazadv.2023.100284",{"citationText":53,"title":54,"authors":55,"source":56,"year":57,"doi":58,"url":10},"Chrustek, A., Hołyńska-Iwan, I., Dziembowska, I., Bogusiewicz, J., Wróblewski, M., Cwynar, A., & Olszewska-Słonina, D. (2018). Current Research on the Safety of Pyrethroids Used as Insecticides. Medicina, 54(4), 61.","Current Research on the Safety of Pyrethroids Used as Insecticides","Chrustek, Hołyńska-Iwan, Dziembowska, Bogusiewicz, Wróblewski, Cwynar, Olszewska-Słonina","Medicina",2018,"10.3390\u002Fmedicina54040061",{"citationText":60,"title":61,"authors":62,"source":63,"year":64,"doi":65,"url":10},"Kawada, H., Higa, Y., Komagata, O., Kasai, S., Tomita, T., Thi Yen, N., Loan, L. L., Sánchez, C. P., & Takagi, M. (2009). Widespread Distribution of a Newly Found Point Mutation in Voltage-Gated Sodium Channel in Pyrethroid-Resistant Aedes aegypti Populations in Vietnam. PLoS Neglected Tropical Diseases, 3(10), e527.","Widespread Distribution of a Newly Found Point Mutation in Voltage-Gated Sodium Channel in Pyrethroid-Resistant Aedes aegypti Populations in Vietnam","Kawada, Higa, Komagata, Kasai, Tomita, Thi Yen, Loan, Sánchez, Takagi","PLoS Neglected Tropical Diseases",2009,"10.1371\u002Fjournal.pntd.0000527",{"citationText":67,"title":68,"authors":69,"source":70,"year":71,"doi":72,"url":10},"Linnett, P. J. (2008). Permethrin toxicosis in cats. Australian Veterinary Journal, 86(1-2), 32-35.","Permethrin toxicosis in cats","Linnett, P. J.","Australian Veterinary Journal",2008,"10.1111\u002Fj.1751-0813.2007.00198.x",{"citationText":74,"title":10,"authors":75,"source":76,"year":43,"doi":10,"url":77},"Bộ Y tế (2014). Quyết định số 3711\u002FQĐ-BYT ban hành Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue. Cục Quản lý Khám chữa bệnh.","Bộ Y tế","Cục Quản lý Khám chữa bệnh","https:\u002F\u002Fkcb.vn\u002Fvan-ban\u002Fquyet-dinh-so-3711-qd-byt.html",[79,82,85,88,91],{"question":80,"answer":81},"Pyrethroid nhóm I và nhóm II khác nhau cơ bản ở điểm nào?","Pyrethroid nhóm I không có nhóm alpha-cyano ở gốc alcohol và gây hội chứng run rẩy (hội chứng T) với các đợt phóng điện lặp lại kéo dài vài chục mili-giây. Ngược lại, pyrethroid nhóm II sở hữu nhóm thế alpha-cyano tại vị trí carbon benzylic, gây hội chứng múa vờn tiết nước bọt (hội chứng CS) và kéo dài dòng mở natri hàng trăm mili-giây đến vài giây, dẫn đến khử cực màng bền vững.",{"question":83,"answer":84},"Tại sao pyrethroid có độc tính chọn lọc cao với côn trùng so với động vật có vú?","Độc tính chọn lọc của pyrethroid xuất phát từ sự kết hợp của ba yếu tố: kênh natri của côn trùng nhạy cảm với hoạt chất gấp 100 đến 1000 lần so với động vật có vú; thân nhiệt động vật có vú khoảng 37 °C làm giảm hiệu lực của thuốc do hệ số nhiệt độ âm; và động vật có vú sở hữu các enzyme gan chuyển hoá nhanh chóng pyrethroid thành các chất không độc đào thải qua nước tiểu.",{"question":86,"answer":87},"Vì sao các sản phẩm chứa permethrin lại gây độc nghiêm trọng đối với loài mèo?","Mèo là loài động vật có vú duy nhất bị thiếu hụt enzyme gan UDP-glucuronosyltransferase UGT1A6 do đột biến gene tự nhiên, khiến khả năng liên hợp glucuronide để giải độc permethrin bị suy giảm trầm trọng. Khi tiếp xúc với các chế phẩm trị ve rận dành cho chó chứa nồng độ permethrin cao từ 45% đến 65%, mèo sẽ bị nhiễm độc thần kinh cấp tính với triệu chứng run cơ, co giật và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời.",{"question":89,"answer":90},"Cơ chế kháng hạ gục (kdr) ở côn trùng diễn ra như thế nào?","Kháng hạ gục (kdr) là cơ chế kháng đích tác động do các đột biến điểm trên gene mã hoá tiểu đơn vị alpha của kênh natri phụ thuộc điện thế (VGSC). Các đột biến này làm biến đổi cấu trúc không gian của các túi gắn thụ thể PyR1 và PyR2, làm suy giảm mạnh ái lực liên kết của pyrethroid với kênh natri, khiến côn trùng không còn bị tê liệt hoặc hạ gục khi tiếp xúc với liều lượng thông thường.",{"question":92,"answer":93},"Tại sao cần hạn chế để pyrethroid phát tán vào môi trường nước?","Pyrethroid có độc tính cấp tính đặc biệt cao đối với cá và các sinh vật thuỷ sinh do cá thiếu hụt các enzyme carboxylesterase giải độc hiệu quả và mang cá hấp thu trực tiếp hoá chất vào máu. Nồng độ gây chết LC50 sau 96 giờ đối với nhiều loài cá nước ngọt thường dưới 10 microgam trên lít, do đó sự rửa trôi hoá chất xuống nguồn nước có thể gây chết hàng loạt sinh vật phi mục tiêu.",{"id":95,"researcherId":10,"name":96,"imageUrl":97},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":95,"researcherId":10,"name":96,"imageUrl":97},[100,101,102,103,104,105,106,107,108,109],"động vật có vú","kích thích thần kinh","tế bào thần kinh","dẫn truyền thần kinh","nhiệt độ môi trường","sản xuất nông nghiệp","thuốc bảo vệ thực vật","cấu trúc không gian","độc tính cấp tính","chức năng miễn dịch",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.795+00:00","2026-09-11T03:08:35.800+00:00","2026-09-11T02:31:07.224+00:00","2026-09-11T03:08:35.225+00:00",0,[119,122,125,128,131,134,137,140,143,146],{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khảo nghiệm","Khảo nghiệm là gì? Các công bố khoa học về Khảo nghiệm",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phân compost","Phân compost là gì? Các nghiên cứu khoa học về Phân compost",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vector chuyển gen","Vector chuyển gen là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hoạt tính enzyme","Hoạt tính enzyme là gì? Các bài nghiên cứu khoa học",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mỹ latinh","Mỹ latinh là gì? Các nghiên cứu khoa học về Mỹ latinh",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"haematococcus pluvialis","Haematococcus pluvialis là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":138,"title":139,"term":138,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"methamphetamine","Methamphetamine là gì? Các nghiên cứu về Methamphetamine",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hoạt tính sinh học","Hoạt tính sinh học là gì? Các công bố khoa học về Hoạt tính sinh học",{"id":144,"title":145,"term":144,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lũ lụt","Lũ lụt là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":147,"title":148,"term":147,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nông hộ","Nông hộ là gì? Các nghiên cứu, bài báo khoa học về Nông hộ"]