[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_protein%20v%E1%BB%8F{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_protein vỏ":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":10,"synonyms":10,"definition":10,"discipline":10,"references":10,"faqs":10,"createUser":17,"publishUser":10,"keywords":21,"keywordCount":32,"enrichTopicLink":33,"status":34,"createTime":35,"updateTime":36,"publishTime":10,"linkEnrichedTime":37,"publicationScanTime":38,"contentErrorMessage":10,"viewCount":39,"relateTopics":40},"protein vỏ","Protein vỏ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Protein vỏ","Protein vỏ là các protein cấu trúc tạo thành lớp bao quanh vật liệu di truyền của virus, giúp bảo vệ, định hình và hỗ trợ xâm nhập vào tế bào chủ. Chúng có thể tự lắp ráp thành cấu trúc icosahedral, xoắn ốc hoặc phức hợp, đóng vai trò thiết yếu trong chu trình sao chép và ứng dụng công nghệ sinh học.\n","\u003Cdiv>\u003Ch2>Định nghĩa protein vỏ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Protein vỏ, còn gọi là capsid protein hoặc coat protein, là các protein cấu trúc đặc trưng của virus có chức năng tạo thành lớp vỏ ngoài bảo vệ vật liệu di truyền (RNA hoặc DNA) khỏi các yếu tố gây phân hủy như enzyme nuclease, ánh sáng UV, nhiệt độ hoặc thay đổi pH. Đây là thành phần tối cần thiết cho sự tồn tại và ổn định của virus trong môi trường ngoại bào.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Capsid thường có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20h%C3%ACnh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} ổn định, tự tổ chức nhờ tương tác phi cộng hóa trị giữa các đơn vị protein giống nhau, tạo nên một kiến trúc đối xứng có khả năng bao kín bộ gen virus. Mỗi đơn vị protein vỏ được gọi là capsomer, chúng kết hợp với nhau để hình thành lớp vỏ hoàn chỉnh theo mô hình xác định.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Protein vỏ không chỉ đảm nhiệm chức năng bảo vệ mà còn đóng vai trò chức năng quan trọng trong quá trình lây nhiễm, bao gồm việc gắn với thụ thể tế bào chủ, xâm nhập nội bào và điều phối lắp ráp virus mới sau khi tái bản. Một số protein vỏ còn tương tác trực tiếp với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng%20mi%E1%BB%85n%20d%E1%BB%8Bch%22%7D}} của vật chủ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân biệt protein vỏ và protein bao\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Protein vỏ và protein bao đều là protein cấu trúc của virus, nhưng chúng khác biệt rõ rệt về vị trí, thành phần và chức năng. Protein vỏ (capsid protein) tạo nên lớp vỏ cứng nằm bên trong virus, bao quanh vật liệu di truyền. Trong khi đó, protein bao (envelope protein) là các glycoprotein gắn trên lớp màng lipid ngoài cùng ở các virus có màng bao.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Protein vỏ có ở cả virus có màng (enveloped) lẫn virus không màng (non-enveloped), nhưng protein bao chỉ có ở virus có màng như HIV, SARS-CoV-2, hay virus cúm. Protein bao thường là yếu tố nhận diện đầu tiên của virus với tế bào chủ nhờ khả năng gắn với thụ thể màng tế bào và kích hoạt quá trình hòa màng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bảng so sánh dưới đây minh họa sự khác biệt chính giữa hai loại protein cấu trúc này:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"5\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Tiêu chí\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Protein vỏ (Capsid)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Protein bao (Envelope)\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Vị trí\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Lớp vỏ bao quanh RNA\u002FDNA\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Gắn trên màng lipid ngoài cùng\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Có ở loại virus nào\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Có ở mọi virus\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chỉ có ở virus có màng bao\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Thành phần\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Protein dạng capsomer\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Glycoprotein xuyên màng\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Vai trò chính\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bảo vệ và đóng gói bộ gen\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Gắn và xâm nhập tế bào chủ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Xem thêm nghiên cứu liên quan tại NCBI: \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.ncbi.nlm.nih.gov\u002Fpmc\u002Farticles\u002FPMC7149722\u002F\" target=\"_blank\">Structural Proteins of Enveloped Viruses\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chức năng chính của protein vỏ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Chức năng nổi bật nhất của protein vỏ là bảo vệ bộ gen virus khỏi các tác nhân vật lý và hóa học trong môi trường. Điều này đảm bảo cho RNA hoặc DNA virus giữ được nguyên vẹn trước khi xâm nhập vào tế bào chủ. Sự ổn định cấu trúc capsid còn giúp virus tồn tại ngoài tế bào trong thời gian dài, tạo lợi thế trong lan truyền và nhiễm bệnh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ngoài chức năng bảo vệ, protein vỏ còn tham gia trực tiếp vào quá trình nhiễm virus. Ở nhiều virus không có màng bao, protein vỏ đảm nhiệm luôn vai trò nhận diện thụ thể bề mặt tế bào chủ và trung gian cho quá trình xâm nhập nội bào. Sau khi vào tế bào, capsid cũng đóng vai trò trong việc định vị và giải phóng vật liệu di truyền đúng vị trí cần thiết trong tế bào.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các chức năng chính bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Bảo vệ bộ gen virus khỏi enzym phân giải\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Tham gia gắn kết với thụ thể bề mặt tế bào (trong virus không màng)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Đóng vai trò trong quá trình uncoating (giải vỏ) sau xâm nhập\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Điều phối quá trình lắp ráp capsid mới trong tế bào chủ\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Các kiểu cấu trúc capsid\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Các capsid virus thường có ba kiểu hình học chính: xoắn ốc (helical), đối xứng đa diện đều (icosahedral) và cấu trúc phức hợp (complex). Kiểu xoắn ốc thường gặp ở virus sợi như virus khảm thuốc lá, trong đó RNA quấn quanh chuỗi protein capsid tạo nên cấu trúc hình trụ rỗng. Mỗi đơn vị capsomer sắp xếp theo trục xoắn liên tục quanh vật liệu di truyền.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong khi đó, cấu trúc icosahedral là dạng phổ biến nhất trong các virus DNA nhỏ và ổn định cao, như adenovirus hay poliovirus. Nó gồm 20 tam giác đều sắp xếp tạo thành một khối đa diện gần hình cầu. Sự ổn định của icosahedron đến từ tính đối xứng cao và khả năng đóng gói hiệu quả bộ gen bên trong.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Đối với virus có cấu trúc phức hợp như bacteriophage, đầu capsid dạng icosahedral chứa DNA, còn đuôi dài cấu trúc sợi giúp tiêm vật liệu di truyền vào vi khuẩn. Mức độ tổ chức capsomer trong cấu trúc icosahedral được xác định bằng chỉ số T (triangulation number), tính theo công thức:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">T = h^2 + hk + k^2\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ví dụ: T=1 ứng với 60 capsomer, T=3 ứng với 180 capsomer. Bảng minh họa các dạng capsid phổ biến:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"5\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Loại cấu trúc\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đặc điểm\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Ví dụ virus\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Xoắn ốc\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>RNA cuộn quanh trục protein, dạng sợi\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Virus cúm, virus khảm thuốc lá\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Đa diện đều\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Khối icosahedral, 20 mặt tam giác đều\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Adenovirus, Norovirus\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Phức hợp\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Kết hợp đầu đa diện và đuôi sợi\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Bacteriophage T4\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Ch2>Cơ chế lắp ráp tự nhiên\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Quá trình lắp ráp protein vỏ diễn ra một cách tự phát dựa trên cơ chế tự tổ chức (self-assembly), chủ yếu nhờ vào các tương tác phi cộng hóa trị giữa các đơn vị capsomer như liên kết hydro, tương tác kỵ nước và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C6%B0%C6%A1ng%20t%C3%A1c%20t%C4%A9nh%20%C4%91i%E1%BB%87n%22%7D}}. Trong phần lớn các virus, sự lắp ráp của capsid không đòi hỏi enzym xúc tác mà được điều phối bởi chính các đặc tính hóa lý nội tại của protein và môi trường nội bào.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các protein vỏ thường được tổng hợp trong tế bào chủ sau khi virus xâm nhập và chiếm quyền kiểm soát bộ máy phiên mã, dịch mã. Sau khi dịch mã xong, các đơn vị capsomer bắt đầu tự tổ hợp lại theo trật tự hình học đã định trước, hoặc tự lắp ráp thành cấu trúc rỗng trước khi gói bộ gen vào (ví dụ ở adenovirus), hoặc đồng thời gói vật liệu di truyền trong quá trình lắp ráp (ví dụ ở virus khảm thuốc lá).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Quy trình lắp ráp capsid có thể được chia làm 3 giai đoạn cơ bản:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Khởi tạo:\u003C\u002Fstrong> Biểu hiện protein vỏ từ mRNA virus, hình thành các tiền đơn vị capsomer\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tổ chức:\u003C\u002Fstrong> Các capsomer liên kết thành cấu trúc trung gian hoặc capsid bán hoàn chỉnh\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Đóng gói:\u003C\u002Fstrong> Vật liệu di truyền được nhét vào trong hoặc cùng lúc với việc hoàn thiện vỏ capsid\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\u003Cp>Các yếu tố như pH nội bào, nồng độ ion, nhiệt độ, và bản thân RNA\u002FDNA có thể hoạt động như \"khuôn tổ hợp\" để định hướng quá trình lắp ráp chính xác và ổn định.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vai trò trong cơ chế nhiễm virus\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Protein vỏ không chỉ có chức năng thụ động là \"lớp bao che\" mà còn đóng vai trò hoạt động trong toàn bộ chu trình nhiễm của virus. Trong virus không có màng (non-enveloped), capsid thường trực tiếp tương tác với thụ thể màng tế bào chủ để khởi động quá trình xâm nhập. Sau khi gắn kết, capsid có thể tạo kênh để đưa bộ gen vào bào tương hoặc nội hóa vào tế bào thông qua endocytosis.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Sau khi vào tế bào, capsid bị phân giải dần thông qua quá trình \"giải vỏ\" (uncoating), giúp vật liệu di truyền được giải phóng đúng vị trí, thường là bào tương hoặc nhân tế bào. Quá trình này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Thay đổi pH trong bào quan nội bào (ví dụ: endosome acid hóa)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Hoạt động của protease nội bào phân giải capsid\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Tương tác đặc hiệu giữa capsid và các phân tử tiếp nhận trong tế bào\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Capsid cũng có thể đóng vai trò tín hiệu phân tử trong việc vận chuyển nội bào (hướng tới nhân hoặc bào quan đặc biệt), hoặc tác động lên hệ thống miễn dịch qua việc hoạt hóa {{topic|%7B%22topic%22%3A%22mi%E1%BB%85n%20d%E1%BB%8Bch%20b%E1%BA%A9m%20sinh%22%7D}} thông qua TLR hoặc NLR. Một số virus như enterovirus đã tiến hóa để capsid có thể mở ra theo cơ chế \"bẫy lò xo\" khi gặp đúng pH hoặc ion môi trường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng trong y học và công nghệ sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Khả năng tự lắp ráp và cấu trúc bền vững khiến protein vỏ trở thành nền tảng cho nhiều ứng dụng trong y học và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%B4ng%20ngh%E1%BB%87%20sinh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} hiện đại. Một trong những ứng dụng nổi bật nhất là phát triển vaccine dựa trên hạt giống virus (virus-like particles – VLPs). Đây là các cấu trúc giống virus thật về mặt hình thái nhưng không chứa vật liệu di truyền nên không gây bệnh, đồng thời vẫn kích hoạt đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ví dụ, vaccine HPV (Gardasil) sử dụng protein vỏ L1 tái tổ hợp từ papillomavirus để tạo VLPs. Các VLP này biểu hiện kháng nguyên giống virus thật, từ đó kích hoạt miễn dịch qua trung gian tế bào và kháng thể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Những ứng dụng nổi bật khác:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Vector dẫn truyền gene:\u003C\u002Fstrong> Sử dụng vỏ virus như adeno-associated virus (AAV) để đưa gene điều trị vào tế bào\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hệ mang thuốc:\u003C\u002Fstrong> Đóng gói phân tử nhỏ, siRNA hoặc peptide vào capsid hoặc VLP để tăng hiệu quả hấp thu\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Hiển thị kháng nguyên:\u003C\u002Fstrong> Biến đổi capsid để gắn kháng nguyên ngoài, tạo vaccine đa giá hoặc nền thử nghiệm miễn dịch\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Tham khảo từ FDA: \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.fda.gov\u002Fvaccines-blood-biologics\u002Fvaccines\u002Fgardasil-9\" target=\"_blank\">Gardasil 9 Vaccine Information\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tiềm năng nghiên cứu và công nghệ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự tiến bộ trong công nghệ sinh học phân tử, đặc biệt là cryo-EM (hiển vi điện tử lạnh) đã giúp xác định cấu trúc capsid ở độ phân giải nguyên tử, từ đó cho phép thiết kế biến thể capsid ổn định hơn hoặc ẩn tránh hệ miễn dịch. Các công cụ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20h%C3%ACnh%20h%C3%B3a%20ph%C3%A2n%20t%E1%BB%AD%22%7D}} và AI hiện đại như AlphaFold hỗ trợ dự đoán cấu trúc protein vỏ chỉ từ trình tự amino acid.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các xu hướng nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Thiết kế capsid tái tổ hợp để kháng lại {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20mi%E1%BB%85n%20d%E1%BB%8Bch%20b%E1%BA%A9m%20sinh%22%7D}} (stealth capsids)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Ứng dụng capsid tổng hợp làm khung nano sinh học trong y học và vật liệu\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Tối ưu hóa vỏ virus để tăng hiệu quả truyền tải gene hoặc kháng nguyên\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Các nhóm nghiên cứu đang phát triển capsid có thể lập trình, có khả năng đáp ứng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%81u%20ki%E1%BB%87n%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%22%7D}} như pH hoặc enzyme, từ đó kiểm soát thời điểm giải phóng vật liệu tải. Mô hình capsid còn là nền tảng để nghiên cứu các quy luật lắp ráp phân tử, lan truyền virus, hoặc tiến hóa virus nhân tạo.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Xem thêm từ Nature: \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.nature.com\u002Farticles\u002Fnrd.2017.243\" target=\"_blank\">Capsid Engineering for Targeted Delivery\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Kết luận và ý nghĩa\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Protein vỏ đóng vai trò cốt lõi trong sinh học virus, từ bảo vệ vật liệu di truyền, tổ chức nhiễm và sao chép, đến đóng góp vào tính ổn định và lan truyền của virus. Cấu trúc đối xứng, khả năng tự lắp ráp và tính thích nghi cao khiến protein vỏ không chỉ là chủ đề {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nghi%C3%AAn%20c%E1%BB%A9u%20c%C6%A1%20b%E1%BA%A3n%22%7D}} mà còn là nền tảng công nghệ tiềm năng trong y học, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22sinh%20h%E1%BB%8Dc%20ph%C3%A2n%20t%E1%BB%AD%22%7D}} và công nghiệp dược phẩm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Nghiên cứu về protein vỏ không chỉ giúp hiểu sâu hơn về tiến trình tiến hóa virus mà còn góp phần phát triển các công cụ trị liệu, vaccine và hệ dẫn truyền thế hệ mới – an toàn hơn, hiệu quả hơn và linh hoạt hơn.\u003C\u002Fp>\n\u003C\u002Fdiv>",{"id":18,"researcherId":10,"name":19,"imageUrl":20},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[22,23,24,25,26,27,28,29,30,31],"cấu trúc hình học","hệ thống miễn dịch","tương tác tĩnh điện","miễn dịch bẩm sinh","công nghệ sinh học","mô hình hóa phân tử","hệ miễn dịch bẩm sinh","điều kiện môi trường","nghiên cứu cơ bản","sinh học phân tử",10,true,"PUBLISHED","2025-05-09T13:46:06.306+00:00","2026-09-09T09:08:45.552+00:00","2026-09-09T09:08:45.060+00:00","2026-09-05T08:24:26.052+00:00",399,[41,44,47,50,53,56,59,62,65,68],{"id":42,"title":43,"term":42,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"scopus","Scopus là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Scopus",{"id":45,"title":46,"term":45,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khối lượng phân tử","Khối lượng phân tử là gì? Các công bố khoa học về Khối lượng phân tử",{"id":48,"title":49,"term":48,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bã đậu nành","Bã đậu nành là gì? Các công bố khoa học về Bã đậu nành",{"id":51,"title":52,"term":51,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":54,"title":55,"term":54,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhân giống in vitro","Nhân giống in vitro là gì? Các công bố khoa học về Nhân giống in vitro",{"id":57,"title":58,"term":57,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chỉ thị phân tử","Chỉ thị phân tử là gì? Các nghiên cứu khoa học về Chỉ thị phân tử",{"id":60,"title":61,"term":60,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"peptidoglycan","Peptidoglycan là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":63,"title":64,"term":63,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"saccharomyces cerevisiae","Saccharomyces cerevisiae là gì? Các công bố khoa học về Saccharomyces cerevisiae",{"id":66,"title":67,"term":66,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vector chuyển gen","Vector chuyển gen là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":69,"title":70,"term":69,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydrophilic","Hydrophilic là gì? Các công bố khoa học về Hydrophilic"]