[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_pleistocen{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_pleistocen":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":73,"createUser":86,"publishUser":90,"keywords":91,"keywordCount":102,"enrichTopicLink":103,"status":104,"createTime":105,"updateTime":106,"publishTime":107,"linkEnrichedTime":108,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":109,"wikidataId":10,"relateTopics":110},"pleistocen","Pleistocen (Pleistocene) là gì? Khí hậu và tiến hóa","Thế Pleistocen trong kỷ Đệ Tứ: niên đại từ 2,58 triệu năm đến 11700 năm trước, các chu kỳ băng hà, sự tiến hóa của loài người và tuyệt chủng thú lớn.","\u003Cp>Pleistocen là thế địa chất đầu tiên và kéo dài nhất của kỷ Đệ Tứ thuộc Đại Tân Sinh, bắt đầu từ mốc 2,58 triệu năm trước và kết thúc vào khoảng 11700 năm trước khi chuyển tiếp sang thế Holocen. Thế địa chất này được định hình bởi các đợt đóng băng và tan băng lặp đi lặp lại trên quy mô bán cầu, sự dao động mạnh mẽ của mực nước biển toàn cầu, cùng với những bước tiến hóa then chốt của chi Người dẫn tới sự xuất hiện và bành trướng toàn cầu của loài người hiện đại. Pleistocen đóng vai trò là cầu nối quan trọng liên kết các hệ thống tự nhiên cổ xưa với sinh quyển và địa hình của thế giới đương đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vị trí địa tầng và các phân vị chuẩn quốc tế\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Trong thang niên đại {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%8Ba%20ch%E1%BA%A5t%22%7D}} chuẩn do Ủy ban Địa tầng Quốc tế thiết lập, thế Pleistocen cùng với thế Holocen cấu thành kỷ Đệ Tứ. Ranh giới đáy của thế Pleistocen từng là chủ đề tranh luận khoa học kéo dài trong nhiều thập kỷ giữa các nhà địa tầng học và các nhà nghiên cứu kỷ Đệ Tứ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trước năm 2009, ranh giới đáy của thế Pleistocen được định vị tại tầng Calabria với niên đại khoảng một phẩy tám triệu năm trước. Tuy nhiên, các bằng chứng cổ khí hậu và trầm tích biển sâu cho thấy sự khởi đầu của hiện tượng băng hóa trên diện rộng ở Bắc Bán Cầu đã diễn ra sớm hơn nhiều. Sau quá trình thảo luận khoa học, năm 2009, Liên đoàn Quốc tế về Khoa học Địa chất đã chính thức phê chuẩn đề xuất hạ ranh giới đáy của kỷ Đệ Tứ và thế Pleistocen xuống mốc 2,58 triệu năm trước, trùng với đáy của tầng Gelasia tại điểm mốc địa tầng chuẩn toàn cầu ở Sicily (Gibbard và cs., 2010).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo phân loại {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%8Ba%20t%E1%BA%A7ng%22%7D}} quốc tế hiện hành của Ủy ban Địa tầng Quốc tế, thế Pleistocen được chia thành ba tiểu thế (tương ứng với ba tiểu thống trong phân vị địa tầng - thời gian), bao gồm bốn tầng kế tiếp nhau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiểu thống Pleistocen sớm (Tiểu thế Pleistocen sớm):\u003C\u002Fstrong> Bao gồm tầng Gelasia (từ mốc 2,58 triệu năm trước) và tầng Calabria, đại diện cho giai đoạn chuyển tiếp khí hậu toàn cầu sang chế độ băng giá thường xuyên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiểu thống Pleistocen giữa (Tiểu thế Pleistocen giữa):\u003C\u002Fstrong> Gồm tầng Chiba (Chibanian). Ngày 17 tháng 01 năm 2020, Liên đoàn Quốc tế về Khoa học Địa chất đã chính thức phê chuẩn điểm mốc địa tầng chuẩn toàn cầu cho tầng Chiba tại tỉnh Chiba, Nhật Bản, xác lập ranh giới đáy của Tiểu thế Pleistocen giữa tại mốc 774000 năm trước gắn liền với sự kiện đảo cực địa từ Matuyama-Brunhes (Suganuma và cs., 2021).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiểu thống Pleistocen muộn (Tiểu thế Pleistocen muộn):\u003C\u002Fstrong> Gồm tầng Pleistocen muộn (hiện chưa có tên gọi riêng chuẩn hóa), kéo dài từ cuối tầng Chiba cho đến ranh giới bắt đầu của thế Holocen tại mốc 11700 năm trước, đặc trưng bởi chu kỳ băng hà cuối cùng và sự phân tán của người hiện đại.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Động lực khí hậu và các chu kỳ băng hà\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Đặc trưng nổi bật nhất của thế Pleistocen là tính chất dao động tuần hoàn của hệ thống khí hậu Trái Đất giữa các thời kỳ băng hà lạnh giá và các thời kỳ gian băng ấm áp. Nguyên nhân căn bản điều khiển các nhịp điệu này là sự biến thiên tuần hoàn của các tham số quỹ đạo Trái Đất quanh Mặt Trời, thường được biết đến là chu kỳ Milankovitch, bao gồm độ lệch tâm của quỹ đạo, độ nghiêng trục quay và tuế sai.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong giai đoạn Pleistocen sớm, các dao động khí hậu chủ yếu tuân theo chu kỳ độ nghiêng trục quay với độ dài khoảng bốn mươi mốt nghìn năm. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển tiếp Pleistocen giữa diễn ra quanh mốc phân ranh của tầng Chiba, hệ thống khí hậu Trái Đất đã trải qua một sự chuyển dịch căn bản: biên độ đóng băng trở nên sâu sắc hơn nhiều và chu kỳ biến thiên kéo dài thành khoảng một trăm nghìn năm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để tái dựng bức tranh khí hậu chi tiết của thế Pleistocen, các nhà cổ khí hậu học dựa vào tỷ lệ đồng vị oxy trong vỏ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%C3%B3a%20th%E1%BA%A1ch%22%7D}} của trùng lỗ sống ở đáy biển. Bản tổng hợp chuỗi đồng vị oxy tầng đáy biển nổi tiếng mang tên LR04 do Lisiecki và Raymo công bố năm 2005 đã liên kết dữ liệu từ 57 hồ sơ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BA%A7m%20t%C3%ADch%22%7D}} khoan biển sâu trên khắp các đại dương thế giới (Lisiecki và Raymo, 2005). Chuỗi LR04 cung cấp một thước đo biên niên chuẩn xác về thể tích băng lục địa toàn cầu, ghi nhận hơn một trăm giai đoạn đồng vị biển xen kẽ giữa các pha băng giá cực đại và các pha gian băng nhiệt đới.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tiến hóa sinh học và nguồn gốc loài người\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Thế Pleistocen là vũ đài {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ti%E1%BA%BFn%20h%C3%B3a%22%7D}} trung tâm của phân tông Người. Môi trường sinh thái biến đổi liên tục giữa rừng rậm và trảng cỏ xavan do dao động khí hậu đã tạo ra áp lực {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BB%8Dn%20l%E1%BB%8Dc%20t%E1%BB%B1%20nhi%C3%AAn%22%7D}} mạnh mẽ, thúc đẩy sự gia tăng thể tích não bộ, khả năng thích nghi vận động bền bỉ và sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật chế tác {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%B4ng%20c%E1%BB%A5%20%C4%91%C3%A1%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Vào đầu thế Pleistocen, các đại diện sớm của chi Người như \u003Cem>Homo habilis\u003C\u002Fem> và \u003Cem>Homo erectus\u003C\u002Fem> xuất hiện tại châu Phi. \u003Cem>Homo erectus\u003C\u002Fem> nhanh chóng mở rộng phạm vi cư trú sang lục địa Á-Âu, để lại dấu tích tại vùng Cáp-ca, Đông Á và Đông Nam Á. Trong giai đoạn Pleistocen giữa và muộn, các quần thể cổ nhân nhánh địa phương tiếp tục phân hóa thành người Neanderthal ở châu Âu và Tây Á, người Denisova ở Trung Á và Siberia, cùng nhiều nhóm người cổ khác.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Tại châu Phi, loài người hiện đại \u003Cem>Homo sapiens\u003C\u002Fem> hình thành và tiến hành các cuộc di cư lớn ra khỏi lục địa trong thế Pleistocen muộn. Với kỹ năng thích nghi sinh thái linh hoạt, công nghệ công cụ phức tạp và tổ chức xã hội phát triển, \u003Cem>Homo sapiens\u003C\u002Fem> đã phân tán tới hầu khắp các châu lục, bao gồm cả việc vượt biển sang châu Úc và di chuyển qua cầu đất Beringia sang châu Mỹ trước khi thế Pleistocen khép lại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cuộc đại tuyệt chủng các loài thú lớn cuối thế Pleistocen\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Giai đoạn cuối thế Pleistocen được đánh dấu bởi sự biến mất đột ngột của hàng loạt loài {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99ng%20v%E1%BA%ADt%20c%C3%B3%20v%C3%BA%22%7D}} trên cạn có kích thước cơ thể lớn, thường được gọi là quần động vật thú lớn (megafauna). Các loài biểu tượng như voi ma mút lông xoăn, hổ răng kiếm, lười đất khổng lồ và gấu hang đã hoàn toàn biến mất khỏi sinh quyển.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Cuộc đại tuyệt chủng này có sự bất đối xứng rõ rệt về mặt địa lý: mức độ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tuy%E1%BB%87t%20ch%E1%BB%A7ng%22%7D}} diễn ra trầm trọng nhất ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Úc, nơi các loài thú lớn mất đi phần lớn số lượng giống loài, trong khi châu Phi và Nam Á chịu thiệt hại tương đối nhẹ hơn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong bài tổng quan học thuật chuyên sâu công bố năm 2006 trên Annual Review of Ecology, Evolution, and Systematics, Koch và Barnosky đã tổng hợp bằng chứng từ các ngành cổ sinh vật học, khảo cổ học và địa niên đại học để đánh giá hai giả thuyết cạnh tranh: tác động săn bắt quá mức của con người và sự sụp đổ sinh cảnh do {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BA%BFn%20%C4%91%E1%BB%95i%20kh%C3%AD%20h%E1%BA%ADu%22%7D}} thời kỳ chuyển tiếp sang thế Holocen (Koch và Barnosky, 2006). Nhóm tác giả kết luận rằng ở nhiều khu vực trên thế giới, hai yếu tố này đã tác động hiệp đồng: sự biến đổi nhanh chóng của thảm thực vật sau thời kỳ cực đại băng hà cuối cùng làm thu hẹp sinh cảnh, kết hợp với áp lực săn bắt gia tăng khi quần thể con người mở rộng đã đẩy các loài thú lớn đến bờ vực tuyệt chủng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>So sánh các phân vị địa tầng chính trong thế Pleistocen\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Nhằm hệ thống hóa diễn tiến địa chất và môi trường qua từng giai đoạn của thế Pleistocen, bảng đối chiếu dưới đây tóm tắt các đặc trưng căn bản giữa ba tiểu thống địa tầng chính thức:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc trưng địa tầng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Tiểu thống Pleistocen sớm\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Tiểu thống Pleistocen giữa (tầng Chiba)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Tiểu thống Pleistocen muộn\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Ranh giới thời gian\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 2,58 triệu năm trước đến 774000 năm trước\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 774000 năm trước đến khoảng một trăm ba mươi nghìn năm trước\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ khoảng một trăm ba mươi nghìn năm trước đến 11700 năm trước\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Chu kỳ băng hà chủ đạo\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chu kỳ ngắn khoảng bốn mươi mốt nghìn năm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chu kỳ dài khoảng một trăm nghìn năm với biên độ lớn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chu kỳ băng hà lớn cuối cùng với các đợt biến đổi đột ngột\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mốc địa từ trường tiêu biểu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thời kỳ nghịch từ Matuyama chiếm ưu thế\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ranh giới đảo cực Matuyama-Brunhes tại 774000 năm trước\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thời kỳ thuận từ Brunhes\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Các dạng người sinh sống\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cem>Homo habilis\u003C\u002Fem> và \u003Cem>Homo erectus\u003C\u002Fem> sớm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cem>Homo erectus\u003C\u002Fem> phát triển, người Neanderthal sớm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>\u003Cem>Homo sapiens\u003C\u002Fem> phân tán toàn cầu, tuyệt chủng người Neanderthal\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Sự kiện sinh học nổi bật\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sự thích nghi ban đầu với đồng cỏ xavan\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tăng trưởng mạnh mẽ kích thước não bộ ở các nhánh người\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tuyệt chủng thú lớn trên diện rộng tại nhiều lục địa\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Bảng phân tích cho thấy xu hướng gia tăng mức độ biến động khí hậu và tốc độ tiến hóa văn hóa - công nghệ của loài người qua từng giai đoạn, phản ánh tính chất chuyển tiếp mạnh mẽ của thế Pleistocen.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Dấu tích địa chất và cổ sinh vật thế Pleistocen tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Tại Việt Nam, trầm tích thế Pleistocen đóng vai trò hết sức quan trọng trong cấu trúc địa chất Đệ Tứ và phân bố rộng rãi trên các vùng miền đất nước. Trong các công trình nghiên cứu địa chất và lập bản đồ địa chất tỷ lệ lớn, giới địa chất học Việt Nam thường phân chia trầm tích Pleistocen thành ba bậc tương ứng: Pleistocen sớm, Pleistocen giữa và Pleistocen muộn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt địa mạo và trầm tích, thời kỳ Pleistocen gắn liền với sự hình thành của các thềm phù sa cổ dọc theo các lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả và hệ thống sông Đồng Nai - Mê Kông. Các bậc thềm này phản ánh các giai đoạn nâng lên của vỏ Trái Đất xen kẽ với những thời kỳ biển thoái sâu khi nước biển toàn cầu bị giữ lại trong các khối băng vùng cực. Ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, thế Pleistocen còn ghi nhận các pha hoạt động núi lửa phun trào bazan trẻ, tạo nên những cao nguyên đất đỏ màu mỡ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt cổ sinh và nhân chủng học, các hang động karst đá vôi miền Bắc Việt Nam chứa đựng những tầng tích tụ hang động thế Pleistocen vô cùng quý giá. Điển hình là cụm di chỉ hang Thẩm Khuyên và Thẩm Hai tại tỉnh Lạng Sơn, nơi nhóm nghiên cứu của Ciochon và cộng sự (1996) đã phát hiện hóa thạch răng của vượn người khổng lồ \u003Cem>Gigantopithecus blacki\u003C\u002Fem> cùng hóa thạch của \u003Cem>Homo erectus\u003C\u002Fem> sống chung trong quần động vật thế Pleistocen; trong khi di chỉ hang Kéo Lèng gần đó ghi nhận sự hiện diện của răng người cổ qua các thời kỳ tiếp nối. Ở giai đoạn Pleistocen muộn, các dấu tích công cụ đá thuộc văn hóa Ngườm và Sơn Vi cho thấy dấu chân cư trú liên tục của các cộng đồng người cổ trước khi bước vào cuộc cách mạng nông nghiệp thời kỳ Holocen.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa khoa học và liên hệ với biến đổi khí hậu đương đại\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu về thế Pleistocen không chỉ mang ý nghĩa lịch sử tự nhiên mà còn cung cấp hệ quy chiếu quan trọng nhất để tìm hiểu cơ chế hoạt động của hệ thống khí hậu Trái Đất. Dữ liệu băng tích Greenland và Nam Cực cùng các chuỗi trầm tích biển sâu thuộc thế Pleistocen cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa nồng độ khí nhà kính trong khí quyển và nhiệt độ bề mặt địa cầu qua các chu kỳ tự nhiên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Việc thấu hiểu cách thức các hệ sinh thái đã phản ứng trước sự ấm lên toàn cầu và hiện tượng nước biển dâng tại thời điểm kết thúc thế Pleistocen giúp các nhà khoa học xây dựng các kịch bản dự báo chuẩn xác hơn cho tương lai. Đồng thời, bài học từ cuộc đại tuyệt chủng thú lớn cuối thế Pleistocen đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về tính dễ bị tổn thương của đa dạng sinh học trước áp lực kết hợp giữa biến đổi môi trường sống và hoạt động khai thác của con người.\u003C\u002Fp>\n","Pleistocen","Pleistocene",[20,21,22],"thế Pleistocen","kỷ Pleistocen","Pleistocene epoch","Pleistocen là thế địa chất đầu tiên của kỷ Đệ Tứ thuộc Đại Tân Sinh, kéo dài từ mốc 2,58 triệu năm trước đến khoảng 11700 năm trước, đặc trưng bởi các chu kỳ băng hà lớn và sự tiến hóa của loài người.","NATURAL_SCIENCES",[26,34,41,49,57,65],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":33},"Gibbard, P. L., Head, M. J., Walker, M. J. C., & The Subcommission on Quaternary Stratigraphy (2010). Formal ratification of the Quaternary System\u002FPeriod and the Pleistocene Series\u002FEpoch with a base at 2.58 Ma. Journal of Quaternary Science, 25(2), 96–102.","Formal ratification of the Quaternary System\u002FPeriod and the Pleistocene Series\u002FEpoch with a base at 2.58 Ma","Gibbard, Head, Walker, the Subcommission on Quaternary Stratigraphy","Journal of Quaternary Science",2010,"10.1002\u002Fjqs.1338","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Fjqs.1338",{"citationText":35,"title":36,"authors":37,"source":30,"year":38,"doi":39,"url":40},"Walker, M., Johnsen, S., Rasmussen, S. O., Popp, T., Steffensen, J. P., Gibbard, P., Hoek, W., Lowe, J., Andrews, J., Björck, S., Cwynar, L. C., Hughen, K., Kershaw, P., Kromer, B., Litt, T., Lowe, D. J., Nakagawa, T., Newnham, R., Schwander, J. (2008). Formal definition and dating of the GSSP (Global Stratotype Section and Point) for the base of the Holocene using the Greenland NGRIP ice core, and selected auxiliary records. Journal of Quaternary Science, 24(1), 3–17.","Formal definition and dating of the GSSP (Global Stratotype Section and Point) for the base of the Holocene using the Greenland NGRIP ice core, and selected auxiliary records","Walker, Johnsen, Rasmussen, Popp, Steffensen, Gibbard, Hoek, Lowe, Andrews, Björck, Cwynar, Hughen, Kershaw, Kromer, Litt, Lowe, Nakagawa, Newnham, Schwander",2008,"10.1002\u002Fjqs.1227","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Fjqs.1227",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":45,"year":46,"doi":47,"url":48},"Suganuma, Y., Okada, M., Head, M. J., Kameo, K., Haneda, Y., Hayashi, H., Irizuki, T., Itaki, T., Izumi, K., Kubota, Y., Nakazato, H., Nishida, N., Okuda, M., Satoguchi, Y., Simon, Q., Takeshita, Y. (2021). Formal ratification of the Global Boundary Stratotype Section and Point (GSSP) for the Chibanian Stage and Middle Pleistocene Subseries of the Quaternary System: the Chiba Section, Japan. Episodes, 44(3), 317–347.","Formal ratification of the Global Boundary Stratotype Section and Point (GSSP) for the Chibanian Stage and Middle Pleistocene Subseries of the Quaternary System: the Chiba Section, Japan","Suganuma, Okada, Head, Kameo, Haneda, Hayashi, Irizuki, Itaki, Izumi, Kubota, Nakazato, Nishida, Okuda, Satoguchi, Simon, Takeshita","Episodes",2021,"10.18814\u002Fepiiugs\u002F2020\u002F020080","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.18814\u002Fepiiugs\u002F2020\u002F020080",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":53,"year":54,"doi":55,"url":56},"Lisiecki, L. E., Raymo, M. E. (2005). A Pliocene‐Pleistocene stack of 57 globally distributed benthic d18O records. Paleoceanography, 20(1), PA1003.","A Pliocene‐Pleistocene stack of 57 globally distributed benthic d18O records","Lisiecki, Raymo","Paleoceanography",2005,"10.1029\u002F2004pa001071","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1029\u002F2004pa001071",{"citationText":58,"title":59,"authors":60,"source":61,"year":62,"doi":63,"url":64},"Koch, P. L., Barnosky, A. D. (2006). Late Quaternary Extinctions: State of the Debate. Annual Review of Ecology, Evolution, and Systematics, 37, 215–250.","Late Quaternary Extinctions: State of the Debate","Koch, Barnosky","Annual Review of Ecology, Evolution, and Systematics",2006,"10.1146\u002Fannurev.ecolsys.34.011802.132415","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1146\u002Fannurev.ecolsys.34.011802.132415",{"citationText":66,"title":67,"authors":68,"source":69,"year":70,"doi":71,"url":72},"Ciochon, R. L., Vu The Long, Larick, R., González, L., Grün, R., de Vos, J., Yonge, C., Taylor, L., Yoshida, H., Reagan, M. (1996). Dated co-occurrence of Homo erectus and Gigantopithecus from Tham Khuyen Cave, Vietnam. Proceedings of the National Academy of Sciences, 93(7), 3016–3021.","Dated co-occurrence of Homo erectus and Gigantopithecus from Tham Khuyen Cave, Vietnam.","Ciochon, Long, Larick, González, Grün, de Vos, Yonge, Taylor, Yoshida, Reagan","Proceedings of the National Academy of Sciences",1996,"10.1073\u002Fpnas.93.7.3016","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1073\u002Fpnas.93.7.3016",[74,77,80,83],{"question":75,"answer":76},"Thế Pleistocen bắt đầu và kết thúc vào thời điểm nào?","Thế Pleistocen bắt đầu từ mốc 2,58 triệu năm trước (trùng với ranh giới đáy của tầng Gelasia do Liên đoàn Quốc tế về Khoa học Địa chất phê chuẩn năm 2009) và kết thúc vào khoảng 11700 năm trước khi chuyển tiếp sang thế Holocen.",{"question":78,"answer":79},"Tại sao thế Pleistocen thường được gọi là Thời kỳ Băng hà?","Trong suốt thế Pleistocen, Trái Đất trải qua hàng loạt chu kỳ băng giá lặp đi lặp lại do biến thiên các tham số quỹ đạo Milankovitch. Các khối sông băng khổng lồ mở rộng bao phủ phần lớn Bắc Mỹ và lục địa Á-Âu trong các thời kỳ băng hà, làm hạ thấp mực nước biển toàn cầu trước khi rút lui trong các thời kỳ gian băng ấm áp.",{"question":81,"answer":82},"Loài người hiện đại Homo sapiens xuất hiện và tiến hóa như thế nào trong thế Pleistocen?","Thế Pleistocen là giai đoạn tiến hóa quyết định của chi Người (Homo). Các loài tổ tiên như Homo erectus đã tỏa ra khắp lục địa Á-Âu từ giai đoạn sớm, trong khi loài người hiện đại Homo sapiens hình thành tại châu Phi vào giai đoạn Pleistocen muộn và di cư bành trướng ra toàn thế giới trước khi thế này kết thúc.",{"question":84,"answer":85},"Nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại tuyệt chủng các loài thú lớn cuối thế Pleistocen?","Theo tổng quan của Koch và Barnosky (2006), sự tuyệt chủng của các loài thú lớn như voi ma mút và hổ răng kiếm là kết quả hiệp đồng giữa sự thay đổi môi trường sinh cảnh do biến đổi khí hậu khi thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc và áp lực săn bắt ngày càng gia tăng từ các quần thể người hiện đại.",{"id":87,"researcherId":10,"name":88,"imageUrl":89},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":87,"researcherId":10,"name":88,"imageUrl":89},[92,93,94,95,96,97,98,99,100,101],"địa chất","địa tầng","hóa thạch","trầm tích","tiến hóa","chọn lọc tự nhiên","công cụ đá","động vật có vú","tuyệt chủng","biến đổi khí hậu",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.565+00:00","2026-09-25T03:11:24.903+00:00","2026-09-25T02:01:14.090+00:00","2026-09-25T03:11:13.966+00:00",3,[111,114,117,120,129,132,135,138,141,144],{"id":112,"title":113,"term":112,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"giải thuật di truyền","Giải thuật di truyền là gì? Các công bố khoa học về Giải thuật di truyền",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hiệu suất nhiệt","Hiệu suất nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"động vật lưỡng cư","Động vật lưỡng cư là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":24,"disciplineCode":125,"disciplineLabel":126,"disciplineColor":127,"disciplineIcon":128},"đồng vị","Đồng vị là gì? Phân loại và ứng dụng trong khoa học hiện đại","isotope","Đồng vị là các biến thể của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số proton trong hạt nhân nhưng khác nhau về số neutron, dẫn đến khối lượng nguyên tử khác nhau.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":130,"title":131,"term":130,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phân loại cảm xúc","Phân loại cảm xúc là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":133,"title":134,"term":133,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"động đất","Động đất là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Động đất",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"giao thông xanh","Giao thông xanh là gì? Các nghiên cứu về Giao thông xanh",{"id":139,"title":140,"term":139,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"giải thuật gen ga","Giải thuật gen GA là gì? Các nghiên cứu về Giải thuật gen GA",{"id":142,"title":143,"term":142,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bã bùn mía","Bã bùn mía là gì? Các công bố khoa học về Bã bùn mía",{"id":145,"title":146,"term":145,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhà máy nhiệt điện","Nhà máy nhiệt điện là gì? Các nghiên cứu về Nhà máy nhiệt điện"]