[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ph%E1%BA%ABu%20thu%E1%BA%ADt%20n%E1%BB%99i%20soi%20qua%20l%E1%BB%97%20t%E1%BB%B1%20nhi%C3%AAn{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ph%E1%BA%ABu%20thu%E1%BA%ADt%20n%E1%BB%99i%20soi%20qua%20l%E1%BB%97%20t%E1%BB%B1%20nhi%C3%AAn":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":60,"createUser":73,"publishUser":77,"keywords":78,"keywordCount":74,"enrichTopicLink":79,"status":80,"createTime":81,"updateTime":82,"publishTime":83,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":84,"wikidataId":10,"relateTopics":85},"phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên","Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES) là gì?","Tìm hiểu phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES): nguyên lý, các đường tiếp cận giải phẫu, kỹ thuật đóng tạng, chỉ định và xu hướng phát triển y học hiện đại.","\u003Cp>Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên là phương thức can thiệp ngoại khoa xâm lấn tối thiểu mà trong đó phẫu thuật viên đưa ống nội soi mềm cùng các dụng cụ thao tác tiếp cận khoang phúc mạc thông qua các ngả tự nhiên của cơ thể như dạ dày, âm đạo, trực tràng hoặc bàng quang mà không tạo vết rạch trên thành bụng. Phương thức này hướng tới mục tiêu triệt tiêu hoàn toàn sẹo mổ ngoài da, giảm thiểu tối đa cảm giác đau sau phẫu thuật, loại bỏ nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và thoát vị thành bụng, đồng thời rút ngắn thời gian hồi phục thể trạng cho người bệnh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Nguyên lý hoạt động và phân loại phẫu thuật\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kỹ thuật phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên, thường được biết đến với tên viết tắt quốc tế là NOTES, hoạt động dựa trên nguyên lý xuyên thành tạng rỗng có chủ đích. Thay vì rạch các đường nhỏ trên da thành bụng để đặt ống thông phẫu trường như phương pháp nội soi truyền thống, bác sĩ phẫu thuật sử dụng hệ thống ống nội soi mềm chuyên dụng đi qua các khoang tự nhiên của cơ thể. Sau khi tiếp cận bề mặt niêm mạc của cơ quan đích, một vết rạch xuyên thành được thực hiện có kiểm soát để đưa ống soi và dụng cụ tác động vào khoang phúc mạc nhằm thăm dò, bóc tách mô, cắt bỏ bệnh phẩm hoặc tái tạo giải phẫu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Dựa trên phương thức tiếp cận và mức độ phụ thuộc vào thành bụng, kỹ thuật này được phân thành hai nhóm can thiệp chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật qua lỗ tự nhiên thuần túy (Pure NOTES):\u003C\u002Fstrong> Toàn bộ quá trình quan sát, phẫu tích, kẹp cầm máu, lấy bệnh phẩm và khâu phục hồi thành tạng đều được tiến hành tuyệt đối qua lỗ tự nhiên. Bệnh nhân hoàn toàn không có bất kỳ vết kim chọc hay vết rạch nào trên thành bụng, mang lại hiệu quả thẩm mỹ tuyệt đối.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật qua lỗ tự nhiên lai ghép (Hybrid NOTES):\u003C\u002Fstrong> Phẫu thuật viên phối hợp đường vào qua lỗ tự nhiên với một hoặc hai đường chọc kim nhỏ trên thành bụng để đặt trocar chuyên dụng. Các trocar thành bụng hỗ trợ cung cấp lực kéo đối kháng, duy trì tam giác thao tác hình học và hỗ trợ kiểm soát camera quan sát, giúp nâng cao tính an toàn trong các ca phẫu thuật phức tạp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Bảng so sánh dưới đây phân tích các đặc tính kỹ thuật trọng yếu giữa phẫu thuật qua lỗ tự nhiên thuần túy, phẫu thuật qua lỗ tự nhiên lai ghép và phẫu thuật nội soi ổ bụng tiêu chuẩn:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc tính kỹ thuật\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Phẫu thuật thuần túy (Pure NOTES)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Phẫu thuật lai ghép (Hybrid NOTES)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nội soi ổ bụng tiêu chuẩn\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Đường tiếp cận khoang bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hoàn toàn qua lỗ tự nhiên (dạ dày, âm đạo, trực tràng)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kết hợp lỗ tự nhiên và lỗ kim nhỏ thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Các vết rạch nhỏ đa vị trí trên thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vết rạch trên thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có vết rạch ngoài da\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Có từ 1 đến 2 vết chọc kim kích thước nhỏ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Có từ 3 đến 5 vết rạch trocar kích thước đa dạng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tam giác phẫu thuật thao tác\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất khó thiết lập do dụng cụ đi cùng trục ống mềm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dễ thiết lập nhờ dụng cụ hỗ trợ từ thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thiết lập hoàn chỉnh theo nguyên tắc kinh điển\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Thiết bị nội soi chủ lực\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ống nội soi mềm đa kênh có đầu uốn linh hoạt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ống nội soi mềm phối hợp kính soi cứng ổ bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ống nội soi quang học cứng dạng thanh truyền\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mức độ đau sau phẫu thuật\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tối thiểu, người bệnh gần như không đau thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất thấp, giảm đáng kể nhu cầu dùng thuốc giảm đau\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mức độ đau nhẹ đến vừa tại các vị trí trocar\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Đóng lỗ xuyên thành tạng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bắt buộc đóng kín tuyệt đối bằng dụng cụ nội soi mềm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đóng qua nội soi hoặc hỗ trợ khâu ngoài thành bụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không áp dụng vì không xuyên thủng tạng rỗng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Các đường vào giải phẫu qua lỗ tự nhiên\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Việc lựa chọn đường vào giải phẫu phụ thuộc vào vị trí tổn thương của cơ quan đích, giới tính của người bệnh, đặc điểm giải phẫu học cá thể và mức độ vô khuẩn của từng khoang cơ thể. Bốn đường vào giải phẫu chính bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Đường qua dạ dày (Transgastric approach)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đường vào qua dạ dày được thực hiện bằng cách đưa ống nội soi mềm qua đường miệng, thực quản rồi vào lòng dạ dày. Vết mở xuyên thành dạ dày thường được tạo ở mặt trước hoặc mặt sau thân vị và hang vị nhờ dụng cụ dao điện nội soi. Sau khi xuyên qua thành dạ dày, ống soi tiến thẳng vào khoang mạc nối lớn hoặc khoang phúc mạc tự do để quan sát các cơ quan tầng trên ổ bụng như gan, túi mật, lách và tụy. Tuy nhiên, đường vào này tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ dịch vị axit chứa men tiêu hóa vào khoang bụng nếu lỗ mở không được đóng kín hoàn toàn, đòi hỏi các tiêu chuẩn vô trùng khắt khe.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Đường qua âm đạo (Transvaginal approach - vNOTES)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đường qua âm đạo là đường vào được nghiên cứu rộng rãi nhất và đạt được nhiều thành công lâm sàng vượt bậc trong thực tế y khoa. Phẫu thuật viên tiến hành mở một vết rạch nhỏ tại túi cùng sau âm đạo để đi trực tiếp vào túi cùng Douglas. Nhờ cấu trúc đàn hồi tốt của thành âm đạo, nguồn cung cấp máu phong phú giúp mô mau lành và khoảng cách giải phẫu tiếp cận vùng chậu vô cùng thuận lợi, ngả âm đạo cho phép đưa các thiết bị kích thước lớn hơn vào khoang bụng và lấy bệnh phẩm thể tích lớn ra ngoài một cách an toàn mà không gây chấn thương. Đường vào này được áp dụng phổ biến trong phẫu thuật cắt túi mật, cắt ruột thừa và hàng loạt bệnh lý phụ khoa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>3. Đường qua trực tràng và đại tràng (Transanal và Transcolonic approach)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đường tiếp cận qua ngả hậu môn - trực tràng cho phép can thiệp trực tiếp vào các tổn thương vùng tiểu khung, đại tràng chậu và đại tràng xuống. Đây là tiền đề phát triển của kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng qua đường hậu môn, giúp khắc phục hạn chế tầm nhìn trong khung chậu hẹp của nam giới. Thách thức lớn nhất của đường trực tràng là nồng độ vi khuẩn thường trú rất cao trong lòng ruột già, đòi hỏi quy trình chuẩn bị ruột tối ưu, bơm rửa dung dịch sát khuẩn liên tục và kỹ thuật đóng lỗ xuyên thành ruột cực kỳ tin cậy để ngăn ngừa viêm phúc mạc nhiễm khuẩn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>4. Đường qua bàng quang (Transvesical approach)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Đường vào qua bàng quang được thực hiện thông qua niệu đạo và thành bàng quang để tiến vào khoang phúc mạc. Dù môi trường nước tiểu có thể được kiểm soát vô khuẩn tương đối tốt, đường vào này ít được sử dụng trên lâm sàng do nguy cơ rò rỉ nước tiểu kéo dài gây viêm tấy nước tiểu, nguy cơ tổn thương niệu quản và giới hạn kích thước nghiêm ngặt của niệu đạo.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Kỹ thuật đóng kín lỗ mở tạng và kiểm soát nhiễm trùng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Đóng kín lỗ mở tạng rỗng được xem là yếu tố sống còn quyết định sự thành bại và tính an toàn của kỹ thuật. Khác với phẫu thuật mở hoặc nội soi ổ bụng tiêu chuẩn, việc xuyên qua thành ống tiêu hóa tạo ra nguy cơ rò rỉ dịch tiêu hóa chứa vi sinh vật vào khoang phúc mạc vô khuẩn, có thể dẫn đến viêm phúc mạc toàn thể đe dọa tính mạng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các phương pháp đóng kín lỗ mở tạng hiện đại bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kẹp clip nội soi tiêu chuẩn (Endoclips):\u003C\u002Fstrong> Các kẹp kim loại nhỏ được triển khai qua kênh thao tác của ống soi mềm để bấm khép mép niêm mạc. Phương pháp này chỉ phù hợp với các lỗ mở kích thước nhỏ dưới một centimet và có hạn chế là lực kẹp chỉ tác động lên lớp niêm mạc nông chứ không bao quát toàn bộ chiều dày cơ thành tạng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kẹp bẫy gấu OTSC (Over-The-Scope Clip):\u003C\u002Fstrong> Hệ thống kẹp hợp kim Nitinol dạng hàm răng bẫy gấu được gắn sẵn ở đầu ống soi. Thiết bị này tạo lực kẹp ép cực mạnh xuyên suốt toàn bộ các lớp của thành ống tiêu hóa từ niêm mạc đến thanh mạc, cho phép bịt kín hoàn toàn các lỗ mở có đường kính lớn một cách bền vững.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hệ thống khâu nội soi mềm chuyên biệt:\u003C\u002Fstrong> Các thiết bị khâu xuyên thành lắp ngoài đầu ống soi cho phép phẫu thuật viên thực hiện các mũi khâu rời hoặc khâu vắt liên tục kèm nút khóa chỉ chuyên dụng, tái hiện trọn vẹn kỹ thuật khâu cơ học ngoại khoa truyền thống.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Sử dụng neo mô kết hợp vòng thắt (T-tags):\u003C\u002Fstrong> Kỹ thuật sử dụng các thanh neo kim loại nhỏ xuyên qua thành tạng, sau đó thắt nút dây căng dần để kéo các mép thanh mạc áp sát vào nhau, kích hoạt quá trình dính mô tự nhiên nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Bên cạnh rào cản cơ học, quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn trong phẫu thuật đòi hỏi phối hợp đa tầng: nhịn ăn uống nghiêm ngặt trước mổ, rửa sạch lòng tạng bằng dung dịch kháng khuẩn chuyên biệt, sử dụng kháng sinh phổ rộng dự phòng bao phủ cả vi khuẩn kỵ khí lẫn hiếu khí, sử dụng khí CO2 y tế vô trùng để duy trì áp lực bơm khí khoang bụng và theo dõi sát sao dấu hiệu phản ứng phúc mạc sau mổ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Lịch sử hình thành và các mốc phát triển học thuật\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Lịch sử của phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên gắn liền với những nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm vượt qua ranh giới xâm lấn của ngoại khoa hiện đại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Năm 2004:\u003C\u002Fstrong> Bác sĩ Anthony Kalloo cùng nhóm cộng sự tại Đại học Johns Hopkins đã xuất bản công trình mang tính bước ngoặt trên tạp chí y khoa quốc tế. Nhóm tác giả thực hiện thành công kỹ thuật nội soi ổ bụng qua ngả dạ dày trên mô hình động vật sống bằng ống nội soi mềm, chính thức chứng minh tính khả thi sinh học của việc đưa dụng cụ xuyên qua tạng rỗng để can thiệp trong phúc mạc.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Năm 2005:\u003C\u002Fstrong> Nhận thấy tiềm năng to lớn nhưng cũng đầy rủi ro của phương pháp mới, vào tháng 10 năm 2005, hai tổ chức ngoại khoa và nội soi hàng đầu của Hoa Kỳ là Hiệp hội Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ (SAGES) và Hiệp hội Nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ (ASGE) đã tổ chức hội nghị đồng thuận liên ngành. Sự kiện này dẫn đến sự ra đời của nhóm công tác NOSCAR nhằm định hướng phát triển an toàn cho lĩnh vực non trẻ này.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Năm 2006:\u003C\u002Fstrong> Nhóm công tác NOSCAR công bố văn kiện đồng thuận nền tảng, chính thức chuẩn hóa tên gọi phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES). Văn kiện chỉ rõ 12 rào cản kỹ thuật cốt lõi cần giải quyết trước khi áp dụng đại trà trên người, bao gồm kỹ thuật đóng lỗ mở tạng, phòng chống nhiễm trùng, phát triển thiết bị khâu nối, kiểm soát chảy máu và định hướng không gian giải phẫu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Năm 2007:\u003C\u002Fstrong> Giáo sư Jacques Marescaux cùng các cộng sự tại Strasbourg, Pháp đã thực hiện thành công ca cắt túi mật qua ngả âm đạo đầu tiên trên thế giới cho một bệnh nhân nữ 30 tuổi. Trong ca phẫu thuật lịch sử này, nhóm phẫu thuật viên đã sử dụng 1 trocar nhỏ có kích thước 2 mm đặt qua thành bụng để hỗ trợ bơm khí carbonic và kiểm tra an toàn, túi mật sau khi giải phóng được đưa ra ngoài hoàn toàn qua ngả âm đạo mà không để lại bất kỳ vết sẹo nào trên thành bụng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bằng chứng lâm sàng và nghiên cứu an toàn\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kể từ các ca phẫu thuật lâm sàng đầu tiên, hàng loạt nghiên cứu quy mô lớn và sổ bộ dữ liệu quốc tế đã được thiết lập để đánh giá tính an toàn và lợi ích thực chất của phương pháp can thiệp này:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Dữ liệu từ sổ bộ phẫu thuật Đức (German NOTES Registry):\u003C\u002Fstrong> Báo cáo của tác giả Dirk Bulian công bố năm 2015 từ sổ bộ phẫu thuật quốc gia ghi nhận kỹ thuật lai ghép qua ngả âm đạo trong cắt túi mật mang lại độ an toàn cao với tỷ lệ biến chứng chung được duy trì dưới 3%. Nghiên cứu khẳng định phương pháp này giảm rõ rệt nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện dạng opioid sau phẫu thuật và đem lại mức độ hài lòng về tính thẩm mỹ rất cao cho bệnh nhân.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phân tích gộp của Sodergren và cộng sự:\u003C\u002Fstrong> Công trình tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2015 trên tạp chí chuyên ngành đã đối chiếu kết quả của phương pháp lai ghép qua ngả âm đạo với phẫu thuật nội soi ổ bụng kinh điển trên hàng trăm trường hợp lâm sàng. Kết quả chỉ ra rằng thời gian phẫu thuật có xu hướng kéo dài hơn trong giai đoạn làm quen kỹ thuật, song điểm đau ngày thứ nhất sau mổ giảm rõ rệt và hoàn toàn không làm gia tăng nguy cơ biến chứng nhiễm trùng vùng chậu hay tổn thương tạng lân cận.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của Jan Baekelandt:\u003C\u002Fstrong> Trong lĩnh vực phụ khoa, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên công bố năm 2018 so sánh phẫu thuật nội soi qua ngả âm đạo (vNOTES) với phẫu thuật nội soi ổ bụng tiêu chuẩn trong cắt tử cung bệnh lý lành tính. Kết quả chứng minh có tới 77% bệnh nhân thực hiện vNOTES đủ tiêu chuẩn an toàn để xuất viện ngay trong ngày điều trị ngoại trú, với thang điểm đau thấp hơn đáng kể so với nhóm phẫu thuật nội soi thành bụng truyền thống.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tại Việt Nam, các trung tâm ngoại khoa và nội soi hàng đầu đã sớm tiếp cận, nghiên cứu và làm chủ các kỹ thuật phẫu thuật qua đường tự nhiên, từng bước khẳng định vị thế khoa học trên trường quốc tế:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Các công trình tiên phong tại Bệnh viện Trung ương Huế:\u003C\u002Fstrong> Giáo sư Phạm Như Hiệp cùng các cộng sự là lực lượng nòng cốt tiên phong nghiên cứu phẫu thuật xâm lấn tối thiểu vùng đại trực tràng. Từ những nghiên cứu nền tảng về phẫu thuật nội soi trực tràng công bố năm 2009, nhóm nghiên cứu đã phát triển các kỹ thuật phẫu thuật nội soi một lỗ và phẫu thuật qua lỗ tự nhiên nhằm cắt bỏ khối u đại trực tràng và lấy bệnh phẩm qua ngả tự nhiên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Công bố khoa học quốc tế:\u003C\u002Fstrong> Năm 2017, nhóm tác giả Bệnh viện Trung ương Huế đã công bố công trình nghiên cứu về phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên trong điều trị ung thư đại trực tràng trên tạp chí ngoại khoa uy tín BJS Open, khẳng định phương pháp này hoàn toàn khả thi, an toàn về mặt ung thư học và giúp người bệnh hồi phục sớm.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ghi nhận giải thưởng quốc gia:\u003C\u002Fstrong> Cụm công trình nghiên cứu phẫu thuật nội soi một lỗ và qua lỗ tự nhiên điều trị ung thư đại trực tràng của nhóm tác giả đã vinh dự đạt giải thưởng khoa học danh giá tại Hội thi Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) và đạt giải thưởng Nhân tài Đất Việt năm 2016 trong lĩnh vực y dược, ghi nhận đóng góp to lớn cho nền y học nước nhà.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ứng dụng vNOTES trong sản phụ khoa:\u003C\u002Fstrong> Các đơn vị như Bệnh viện K và Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai thường quy kỹ thuật vNOTES trong phẫu thuật cắt tử cung, bóc u xơ tử cung, cắt u buồng trứng và phẫu thuật tái tạo sàn chậu. Kỹ thuật giúp bệnh nhân nữ bảo tồn vẻ đẹp thẩm mỹ vùng bụng, giảm cảm giác lo âu và hồi phục chức năng sinh hoạt thường nhật nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Thách thức kỹ thuật và triển vọng phát triển\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dù mang lại những lợi ích vượt trội về mặt thẩm mỹ và hạn chế xâm lấn thành bụng, phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên thuần túy vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn phẫu thuật nội soi ổ bụng tiêu chuẩn trong thực hành ngoại khoa đại trà do các hạn chế kỹ thuật nội tại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mất tam giác thao tác hình học (Loss of triangulation):\u003C\u002Fstrong> Khi đưa camera quan sát và các dụng cụ phẫu thuật qua cùng một lỗ tự nhiên trên ống soi mềm, các trục chuyển động gần như song song với nhau. Hiện tượng này làm mất đi góc thao tác tam giác tối ưu mà phẫu thuật viên nội soi kinh điển thường sử dụng, gây cản trở nghiêm trọng đến việc bóc tách mô và phẫu tích các cấu trúc giải phẫu tinh vi.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thiếu độ cứng vững và lực kéo đối kháng:\u003C\u002Fstrong> Ống nội soi mềm có độ uốn dẻo cao, khiến việc tạo lực đẩy hoặc kéo nâng các cơ quan nặng trong ổ bụng gặp nhiều khó khăn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khó khăn trong định hướng không gian:\u003C\u002Fstrong> Khi ống soi mềm uốn lượn qua nhiều khúc cua giải phẫu, phẫu thuật viên dễ bị mất phương hướng không gian, đòi hỏi thời gian đào tạo chuyên sâu và kinh nghiệm dày dặn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Chi phí đầu tư trang thiết bị cao:\u003C\u002Fstrong> Các hệ thống dụng cụ nội soi chuyên dụng, kẹp OTSC và máy khâu nội soi có giá thành đắt đỏ, là rào cản tài chính đối với hệ thống bảo hiểm y tế và đa số người bệnh.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Nhằm khắc phục những giới hạn trên, xu hướng phát triển của phẫu thuật qua lỗ tự nhiên đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hai hướng chủ đạo. Hướng đi thứ nhất là sự kết hợp với hệ thống robot phẫu thuật mềm thế hệ mới, với các cánh tay robot có khả năng bẻ góc đa chiều và tái lập tam giác thao tác hoàn hảo bên trong ổ bụng. Hướng đi thứ hai là sự chuẩn hóa các quy trình phẫu thuật lai ghép và phẫu thuật vNOTES trong chuyên khoa phụ khoa, cũng như kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng qua đường hậu môn trong chuyên khoa ngoại tiêu hóa, biến những ý tưởng tiên phong thành các can thiệp thường quy mang lại lợi ích thiết thực cho sức khỏe người bệnh.\u003C\u002Fp>\n","natural orifice transluminal endoscopic surgery",[19,20,21],"NOTES","phẫu thuật nội soi qua đường tự nhiên","vNOTES","Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES) là phương thức ngoại khoa can thiệp vào khoang phúc mạc qua các lỗ tự nhiên của cơ thể như dạ dày, âm đạo, trực tràng hoặc bàng quang mà không tạo vết rạch trên thành bụng. Kỹ thuật giúp triệt tiêu hoàn toàn sẹo mổ bên ngoài, giảm thiểu cơn đau sau phẫu thuật và hạn chế biến chứng thoát vị thành bụng.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[25,31,37,43,49,54],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":10,"year":29,"doi":30,"url":10},"Kalloo AN, Singh VK, Jagannath SB, et al. (2004). Flexible transgastric peritoneoscopy: a novel approach to diagnostic and therapeutic interventions in the peritoneal cavity. Gastrointestinal Endoscopy, 60(1), 114-117.","Flexible transgastric peritoneoscopy: a novel approach to diagnostic and therapeutic interventions in the peritoneal cavity","Kalloo AN, Singh VK, Jagannath SB, et al.",2004,"10.1016\u002Fs0016-5107(04)01309-4",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":10,"year":35,"doi":36,"url":10},"Rattner D, Kalloo A. (2006). ASGE\u002FSAGES Working Group on Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery. Surgical Endoscopy, 20(2), 329-333.","ASGE\u002FSAGES Working Group on Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery","Rattner D, Kalloo A",2006,"10.1007\u002Fs00464-005-3006-0",{"citationText":38,"title":39,"authors":40,"source":10,"year":41,"doi":42,"url":10},"Marescaux J, Dallemagne B, Perretta S, et al. (2007). Surgery Without Scars: Report of Transluminal Cholecystectomy in a Human Being. Archives of Surgery, 142(9), 823-826.","Surgery Without Scars","Marescaux J, Dallemagne B, Perretta S, et al.",2007,"10.1001\u002Farchsurg.142.9.823",{"citationText":44,"title":45,"authors":46,"source":10,"year":47,"doi":48,"url":10},"Bulian DR, Knuth J, Cerasani N, et al. (2015). Systematic analysis of the safety and benefits of transvaginal hybrid-NOTES cholecystectomy. World Journal of Gastroenterology, 21(38), 10915-10925.","Systematic analysis of the safety and benefits of transvaginal hybrid-NOTES cholecystectomy","Bulian DR, Knuth J, Cerasani N, et al.",2015,"10.3748\u002Fwjg.v21.i38.10915",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":10,"year":47,"doi":53,"url":10},"Sodergren MH, Markar S, Pucher PH, et al. (2015). Safety of transvaginal hybrid NOTES cholecystectomy: a systematic review and meta-analysis. Surgical Endoscopy, 29(8), 2077-2090.","Safety of transvaginal hybrid NOTES cholecystectomy: a systematic review and meta-analysis","Sodergren MH, Markar S, Pucher PH, et al.","10.1007\u002Fs00464-014-3915-x",{"citationText":55,"title":56,"authors":57,"source":10,"year":58,"doi":59,"url":10},"Hiep PN, Thien HH, Vu PA, Thanh PH, Xuan NT. (2017). Natural orifice transluminal endoscopic surgery for colorectal cancer. BJS Open, 1(1), 24-29.","Natural orifice transluminal endoscopic surgery for colorectal cancer","Hiep PN, Thien HH, Vu PA, Thanh PH, Xuan NT",2017,"10.1002\u002Fbjs5.4",[61,64,67,70],{"question":62,"answer":63},"Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên khác gì so với phẫu thuật nội soi thông thường?","Khác với phẫu thuật nội soi thông thường rạch nhiều đường nhỏ trên da thành bụng để đưa ống kính và dụng cụ vào, phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên đưa ống nội soi mềm qua các ngả tự nhiên của cơ thể như dạ dày, âm đạo hoặc trực tràng rồi xuyên qua thành tạng vào khoang phúc mạc. Nhờ vậy, người bệnh hoàn toàn không có sẹo ngoài da thành bụng, giảm thiểu đáng kể cảm giác đau sau mổ và loại trừ nguy cơ thoát vị vết mổ.",{"question":65,"answer":66},"Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên có nguy cơ nhiễm trùng phúc mạc không?","Nguy cơ nhiễm trùng phúc mạc do rò rỉ dịch tiêu hóa là rào cản kỹ thuật lớn nhất của phương pháp. Tuy nhiên, rủi ro này được kiểm soát tối ưu nhờ quy trình chuẩn bị tạng vô khuẩn nghiêm ngặt, sử dụng kháng sinh dự phòng phổ rộng bao phủ vi khuẩn kỵ khí và ứng dụng các thiết bị đóng lỗ tạng rỗng cơ học tiên tiến như kẹp bẫy gấu OTSC hay hệ thống khâu nội soi mềm chuyên biệt.",{"question":68,"answer":69},"Phẫu thuật qua ngả âm đạo (vNOTES) có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ không?","Các nghiên cứu lâm sàng theo dõi dài hạn cho thấy vết rạch tại túi cùng sau âm đạo có đặc tính liền mô nhanh chóng nhờ hệ tuần hoàn nuôi dưỡng phong phú, không làm thay đổi cấu trúc tử cung buồng trứng và không ghi nhận tác động tiêu cực đến chức năng tình dục hay khả năng mang thai sinh nở của phụ nữ trong tương lai.",{"question":71,"answer":72},"Vì sao kỹ thuật lai ghép (hybrid NOTES) lại được ứng dụng phổ biến hơn kỹ thuật thuần túy?","Phẫu thuật thuần túy qua một lỗ tự nhiên gặp nhiều hạn chế kỹ thuật như mất tam giác phẫu thuật hình học, dụng cụ cùng trục khó tạo lực kéo đối kháng và tầm nhìn dễ bị cản trở. Kỹ thuật lai ghép giải quyết triệt để vấn đề này bằng cách phối hợp một hoặc hai vết chọc kim kích thước nhỏ trên thành bụng, vừa bảo tồn tối đa tính thẩm mỹ vừa nâng cao độ an toàn và rút ngắn thời gian phẫu thuật.",{"id":74,"researcherId":10,"name":75,"imageUrl":76},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":74,"researcherId":10,"name":75,"imageUrl":76},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:56.452+00:00","2026-10-01T10:13:36.806+00:00","2026-10-01T10:13:36.780+00:00",0,[86,95,100,106,111,117,122,128,134,139],{"id":87,"title":88,"term":87,"englishTitle":89,"definition":90,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"tỷ lệ hiện mắc","Tỷ lệ hiện mắc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","prevalence","Tỷ lệ hiện mắc là thước đo dịch tễ học phản ánh tỷ lệ cá thể trong một quần thể xác định đang mang một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":98,"definition":99,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.",{"id":101,"title":102,"term":103,"englishTitle":104,"definition":105,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":109,"definition":110,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":112,"title":113,"term":114,"englishTitle":115,"definition":116,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":120,"definition":121,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":123,"title":124,"term":125,"englishTitle":126,"definition":127,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":129,"title":130,"term":131,"englishTitle":132,"definition":133,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":137,"definition":138,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":140,"title":141,"term":140,"englishTitle":142,"definition":143,"discipline":23,"disciplineCode":91,"disciplineLabel":92,"disciplineColor":93,"disciplineIcon":94},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi."]