[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20atr{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20atr":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":79,"createUser":92,"publishUser":96,"keywords":97,"keywordCount":108,"enrichTopicLink":109,"status":110,"createTime":111,"updateTime":112,"publishTime":113,"linkEnrichedTime":114,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":115,"wikidataId":10,"relateTopics":116},"phân tích atr","Phân tích ATR (attenuated total reflectance) là gì?","Phân tích ATR là phương pháp quang phổ hồng ngoại đo phản xạ toàn phần suy giảm, dùng sóng phù trắc để phân tích mẫu rắn, lỏng mà không cần ép viên KBr.","\u003Cp>Phân tích ATR (attenuated total reflectance analysis - phân tích phản xạ toàn phần suy giảm) là một phương pháp quang phổ phân tử dựa trên kỹ thuật đo phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR), trong đó chùm tia bức xạ hồng ngoại phản xạ toàn phần bên trong một tinh thể có chiết suất cao và tương tác với mẫu phân tích thông qua sóng phù trắc (evanescent wave) tại bề mặt phân cách. Kỹ thuật này cho phép ghi nhận trực tiếp phổ dao động phân tử của các chất ở trạng thái rắn, lỏng, bột hoặc màng polymer mà hầu như không cần phá hủy cấu trúc hay trải qua các bước chuẩn bị mẫu phức tạp. Bài viết trình bày chi tiết về cơ sở vật lý của sóng phù trắc, công thức toán học xác định độ sâu thâm nhập, đặc tính quang học của các tinh thể ATR thông dụng, quy trình thực nghiệm chuẩn hóa, so sánh với quang phổ truyền qua cùng các ứng dụng thực tế trong nghiên cứu và kiểm nghiệm tại Việt Nam.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất và nguyên lý vật lý của hiện tượng phản xạ toàn phần suy giảm\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kỹ thuật quang phổ phản xạ toàn phần suy giảm hoạt động dựa trên sự kết hợp giữa hiện tượng quang học phản xạ toàn phần và sự hình thành của sóng phù trắc tại bề mặt phân cách giữa hai môi trường có mật độ quang học khác nhau. Khi một chùm tia {{topic|%7B%22topic%22%3A%22b%E1%BB%A9c%20x%E1%BA%A1%20h%E1%BB%93ng%20ngo%E1%BA%A1i%22%7D}} lan truyền trong một môi trường có chiết suất lớn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1\u003C\u002Fscript> (tinh thể ATR, còn gọi là phần tử phản xạ nội) và đi tới mặt phân cách với một môi trường có chiết suất nhỏ hơn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_2\u003C\u002Fscript> (mẫu vật liệu cần phân tích, thỏa mãn điều kiện \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 > n_2\u003C\u002Fscript>), hiện tượng phản xạ toàn phần sẽ xảy ra nếu góc tới \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\theta\u003C\u002Fscript> lớn hơn góc tới hạn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\theta_c\u003C\u002Fscript>. Góc tới hạn được xác định theo định luật khúc xạ ánh sáng Snell thông qua biểu thức \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\theta_c = \\arcsin(n_2 \u002F n_1)\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tại điểm xảy ra phản xạ toàn phần trên mặt phân cách, theo hệ phương trình điện từ Maxwell, trường bức xạ không bị triệt tiêu hoàn toàn ngay tại bề mặt mà hình thành một trường điện từ cục bộ thâm nhập vào môi trường mẫu. Trường điện từ này được gọi là sóng phù trắc. Sóng phù trắc mang bản chất là sóng điện từ không lan truyền tự do theo phương truyền của tia tới, mà có biên độ dao động điện trường suy giảm rất nhanh theo hàm số mũ khi khoảng cách tính từ bề mặt phân cách tăng lên. Phương trình suy giảm biên độ điện trường \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E(z)\u003C\u002Fscript> theo phương vuông góc \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> với bề mặt tinh thể được biểu diễn như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">E(z) = E_0 \\exp\\left(-\\frac{z}{d_p}\\right)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E_0\u003C\u002Fscript> là biên độ điện trường cực đại tại ngay bề mặt tiếp xúc giữa tinh thể và mẫu, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">z\u003C\u002Fscript> là khoảng cách thâm nhập vuông góc vào sâu bên trong mẫu, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> là độ sâu thâm nhập đặc trưng của sóng phù trắc. Khi mẫu chất tiếp xúc mật thiết với tinh thể ATR, các phân tử trong vùng không gian mà sóng phù trắc vươn tới sẽ tương tác với bức xạ điện từ. Tại những tần số bức xạ tương ứng với các tần số dao động tự nhiên của các liên kết hóa học trong phân tử, mẫu chất sẽ hấp thụ một phần năng lượng của sóng phù trắc. Hiện tượng hấp thụ này làm suy giảm cường độ năng lượng của tia phản xạ toàn phần tại các bước sóng đặc trưng, tạo nên tên gọi phản xạ toàn phần suy giảm (attenuated total reflectance). Tia phản xạ mang thông tin suy giảm này thoát ra khỏi tinh thể và được hệ thống quang học hướng về đầu dò quang phổ FTIR để chuyển đổi thành phổ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BA%A5p%20th%E1%BB%A5%20h%E1%BB%93ng%20ngo%E1%BA%A1i%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Về lịch sử phát triển, hiện tượng phản xạ toàn phần nội trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nghi%C3%AAn%20c%E1%BB%A9u%20quang%20ph%E1%BB%95%22%7D}} bề mặt chất bán dẫn gecmani đã được nhà vật lý N. J. Harrick khảo sát và công bố từ năm 1960. Đến năm 1961, nhà hóa học J. Fahrenfort đã hoàn thiện nguyên lý kỹ thuật quang phổ phản xạ toàn phần suy giảm, mở ra kỷ nguyên mới cho phép ghi phổ hồng ngoại của hàng loạt {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%A3p%20ch%E1%BA%A5t%20h%E1%BB%AFu%20c%C6%A1%22%7D}} đặc và màng rắn mà trước đó {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20ph%C3%A1p%20quang%20ph%E1%BB%95%22%7D}} truyền qua truyền thống không thể thực hiện được một cách hiệu quả.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ sở toán học và công thức tính độ sâu thâm nhập\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Độ sâu thâm nhập (penetration depth, ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript>) là thông số vật lý định lượng then chốt quyết định chiều dày lớp mẫu tham gia vào quá trình tạo phổ trong phân tích ATR. Theo định nghĩa quang học chuẩn hóa được M. Milosevic hệ thống hóa vào năm 2004, độ sâu thâm nhập là khoảng cách tính từ bề mặt tinh thể vào trong lòng chất mẫu tại đó biên độ điện trường của sóng phù trắc suy giảm xuống còn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">1\u002Fe\u003C\u002Fscript> (tương đương khoảng 36,8% hay xấp xỉ 37%) so với biên độ ban đầu tại bề mặt tiếp xúc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Độ sâu thâm nhập \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> được tính toán chính xác thông qua công thức toán học sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">d_p = \\frac{\\lambda}{2\\pi n_1 \\sqrt{\\sin^2\\theta - (n_2\u002Fn_1)^2}}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong công thức toán học trên, các đại lượng được định nghĩa cụ thể bằng lời như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> là độ sâu thâm nhập của sóng phù trắc vào trong lòng mẫu phân tích, thường được tính theo đơn vị micromet.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda\u003C\u002Fscript> là bước sóng của tia bức xạ hồng ngoại đang chiếu tới trong môi trường chân không, tính theo đơn vị micromet.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1\u003C\u002Fscript> là chiết suất quang học của vật liệu làm tinh thể ATR.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_2\u003C\u002Fscript> là chiết suất quang học của chất mẫu cần phân tích.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\theta\u003C\u002Fscript> là góc tới của chùm bức xạ hồng ngoại chiếu vào bề mặt phản xạ bên trong tinh thể, đo so với đường pháp tuyến của mặt phân cách.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\pi\u003C\u002Fscript> là hằng số toán học pi.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Từ phương trình tính toán trên, có thể rút ra ba quy luật vật lý quan trọng chi phối trực tiếp kết quả của phép phân tích phổ ATR:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Sự phụ thuộc vào bước sóng:\u003C\u002Fstrong> Độ sâu thâm nhập \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> tỷ lệ thuận với bước sóng bức xạ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\lambda\u003C\u002Fscript>. Vì số sóng tỷ lệ nghịch với bước sóng, điều này đồng nghĩa với việc ở vùng số sóng thấp (bước sóng dài), bức xạ hồng ngoại thâm nhập sâu hơn vào trong mẫu so với vùng số sóng cao (bước sóng ngắn). Do đó, phổ ATR nguyên bản sẽ ghi nhận các dải hấp thụ ở vùng số sóng thấp với cường độ biểu kiến mạnh hơn đáng kể so với phổ truyền qua của cùng một chất mẫu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Sự phụ thuộc vào chiết suất tinh thể:\u003C\u002Fstrong> Giá trị \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1\u003C\u002Fscript> nằm ở mẫu số của biểu thức; do đó khi sử dụng các tinh thể có chiết suất rất lớn như gecmani (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 4,0\u003C\u002Fscript>), độ sâu thâm nhập \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với khi sử dụng tinh thể kim cương (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 2,4\u003C\u002Fscript>) hoặc tinh thể kẽm selenua (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 2,42\u003C\u002Fscript>). Đặc tính này cho phép người phân tích chủ động lựa chọn loại tinh thể phù hợp để kiểm soát lớp mẫu cần đo.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Sự phụ thuộc vào góc tới:\u003C\u002Fstrong> Khi góc tới \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\theta\u003C\u002Fscript> tăng dần lên phía trên góc tới hạn, giá trị của đại lượng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sin\\theta\u003C\u002Fscript> tăng lên, làm cho căn số ở mẫu lớn hơn và kéo theo độ sâu thâm nhập giảm xuống.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Trong thực nghiệm phân tích thông thường với góc tới tiêu chuẩn 45 độ đối với các hợp chất hữu cơ có chiết suất \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_2\u003C\u002Fscript> khoảng 1,5, độ sâu thâm nhập \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">d_p\u003C\u002Fscript> trong dải hồng ngoại trung dao động từ 0,5 µm đến 2,0 µm. Ở những bước sóng dài nhất của dải phổ hồng ngoại trung, độ sâu thâm nhập có thể đạt tới mức 5,0 µm khi sử dụng các vật liệu tinh thể có chiết suất nhỏ hơn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc tính và phân loại các tinh thể ATR\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tinh thể ATR, hay còn gọi là phần tử phản xạ nội (internal reflection element, IRE), là thành phần trung tâm quyết định chất lượng quang học, dải phổ làm việc và độ bền cơ hóa của toàn bộ phụ kiện đo. Vật liệu chế tạo tinh thể phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe: có chiết suất cao hơn mẫu phân tích trong toàn bộ dải phổ quan tâm, có độ truyền qua quang học cao trong vùng hồng ngoại, có độ cứng cơ học đủ để chịu được áp lực ép nén mẫu, và có độ trơ hóa học để không bị hòa tan hoặc ăn mòn bởi dung môi và hóa chất phân tích.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Ba loại tinh thể quang học được ứng dụng phổ biến nhất trong các thiết bị phân tích ATR hiện đại bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kim cương (Diamond):\u003C\u002Fstrong> Kim cương là vật liệu tinh thể cao cấp nhất và có độ bền cơ học vô địch với độ cứng Mohs đạt mức 10. Tinh thể kim cương có chiết suất \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 2,4\u003C\u002Fscript> và có tính trơ hóa học tuyệt đối, chịu được dải pH rộng từ 1 đến 14 mà không bị hư hại bởi các acid hay base mạnh. Kim cương truyền quang tốt từ dải hồng ngoại trung 4000 cm-1 xuống 400 cm-1 và có thể mở rộng xuống vùng hồng ngoại xa ở mức 200 cm-1. Hạn chế quang học duy nhất của kim cương là sự tồn tại của dải hấp thụ phonon mạng tinh thể tự nhiên trong khoảng số sóng từ 1900 cm-1 đến 2300 cm-1 (hoặc dải mở rộng 1800 cm-1 đến 2600 cm-1), làm giảm độ truyền qua quang học tại khu vực này. Tinh thể kim cương đặc biệt lý tưởng cho các mẫu bột cứng, hạt polymer, mẫu khoáng vật và các hóa chất có tính ăn mòn cao.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kẽm selenua (Zinc Selenide, ZnSe):\u003C\u002Fstrong> Tinh thể kẽm selenua có chiết suất \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 2,42\u003C\u002Fscript>, rất tương đồng với kim cương về mặt quang học. ZnSe có khoảng truyền quang rộng từ 4000 cm-1 xuống tới giới hạn cắt khoảng 650 cm-1 mà không xuất hiện các dải hấp thụ phonon nội tại gây cản trở như kim cương. Tuy nhiên, ZnSe là vật liệu tương đối mềm với độ cứng Knoop khoảng 130, rất dễ bị trầy xước nếu ép các hạt mẫu cứng hoặc khi dùng dụng cụ cạo rửa không đúng quy cách. Về mặt hóa học, ZnSe chỉ hoạt động ổn định trong khoảng pH từ 5 đến 9. Nếu tiếp xúc với dung dịch acid mạnh, ZnSe sẽ bị ăn mòn bề mặt và giải phóng khí hydro selenua cực kỳ độc hại. Do đó, ZnSe thường được sử dụng cho các mẫu chất lỏng hữu cơ trung tính, mẫu kem nhũ tương và mẫu polymer mềm.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Gecmani (Germanium, Ge):\u003C\u002Fstrong> Gecmani là vật liệu bán dẫn có chiết suất rất cao với \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1 = 4,0\u003C\u002Fscript>. Nhờ chiết suất vượt trội này, độ sâu thâm nhập của sóng phù trắc khi sử dụng tinh thể Ge chỉ bằng khoảng một nửa hoặc một phần ba so với kim cương và ZnSe. Đặc tính này biến Ge trở thành giải pháp tối ưu để phân tích các chất mẫu có độ hấp thụ hồng ngoại cực kỳ mạnh, chẳng hạn như cao su đen chứa hàm lượng lớn muội than (carbon black), mực in đậm đặc hoặc các lớp màng mỏng bề mặt. Gecmani có độ cứng Knoop khoảng 780, bền hóa học trong dải pH từ 1 đến 14, và có giới hạn phổ cắt ở khoảng 800 cm-1 hoặc 780 cm-1. Nhược điểm của Ge là vật liệu khá giòn và độ truyền qua hồng ngoại suy giảm nghiêm trọng khi nhiệt độ vượt quá 100 °C do hiện tượng kích thích nhiệt sinh hạt tải điện tự do trong chất bán dẫn dải hẹp.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>Bảng dưới đây tổng hợp và so sánh chi tiết các thông số kỹ thuật cốt lõi của ba loại tinh thể ATR tiêu biểu:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Thông số quang học và cơ lý\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kim cương (Diamond)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kẽm selenua (ZnSe)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Gecmani (Ge)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Chiết suất quang học (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1\u003C\u002Fscript>)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>2,4\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>2,42\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>4,0\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Độ cứng bề mặt\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mohs 10\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Knoop 130\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Knoop 780\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Khoảng phổ đo hữu dụng\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>4000 cm-1 đến 400 cm-1 (mở rộng 200 cm-1)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>4000 cm-1 đến 650 cm-1\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>4000 cm-1 đến 800 cm-1\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Dải hấp thụ nội tại của vật liệu\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>1900 cm-1 đến 2300 cm-1 (vùng phonon)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có dải cản trở đáng kể\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có dải cản trở trong vùng đo\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Khoảng pH chịu đựng\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>pH từ 1 đến 14\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>pH từ 5 đến 9\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>pH từ 1 đến 14\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Giới hạn nhiệt độ vận hành\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chịu nhiệt độ cao tốt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chịu nhiệt độ vừa phải\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bị mờ đục khi vượt quá 100 °C\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Độ sâu thâm nhập tương đối\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trung bình (0,5 µm đến 2,0 µm)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trung bình (0,5 µm đến 2,0 µm)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất nông (khoảng một nửa kim cương)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Quy trình đo và kỹ thuật xử lý mẫu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nguyên tắc thực nghiệm cốt lõi của phép phân tích ATR là thiết lập sự tiếp xúc quang học mật thiết giữa mẫu phân tích và bề mặt tinh thể phản xạ. Do sóng phù trắc chỉ lan truyền trong phạm vi từ 0,5 µm đến 2,0 µm tính từ mặt tinh thể, bất kỳ lớp không khí nào tồn tại giữa mẫu và tinh thể cũng sẽ ngăn cản sự tương tác của sóng phù trắc với các phân tử mẫu, dẫn đến tín hiệu phổ bị yếu hoặc biến mất hoàn toàn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Quy trình đo đạc tiêu chuẩn trên phụ kiện ATR phản xạ đơn (single-reflection ATR) được tiến hành tuần tự theo các bước kỹ thuật sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Col>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vệ sinh và kiểm tra bề mặt tinh thể:\u003C\u002Fstrong> Trước khi đo, người phân tích sử dụng dung môi hữu cơ tinh khiết (như ethanol hoặc isopropanol) thấm vào giấy lau quang học chuyên dụng không để lại xơ sợi để lau sạch hoàn toàn các vết bám từ phép đo trước. Quan sát trực quan để đảm bảo mặt tinh thể không còn tạp chất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ghi phổ đường nền (background spectrum):\u003C\u002Fstrong> Tiến hành quét phổ đường nền khi bề mặt tinh thể đang tiếp xúc trực tiếp với không khí sạch trong buồng đo. Phổ đường nền này chứa thông tin về nguồn sáng hồng ngoại, độ truyền qua của hệ quang học, đặc tính của đầu dò và các thành phần hấp thụ trong khí quyển như hơi nước và khí carbon dioxide.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nạp mẫu và tạo tiếp xúc quang học:\u003C\u002Fstrong> Thao tác nạp mẫu phụ thuộc vào trạng thái vật lý của chất cần phân tích:\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cem>Mẫu chất lỏng và dung dịch:\u003C\u002Fem> Dùng micropipette nhỏ trực tiếp một giọt chất lỏng (thường từ vài microlit đến vài chục microlit) phủ kín toàn bộ diện tích bề mặt tinh thể ATR. Đối với chất lỏng dễ bay hơi, cần đậy nắp chống bay hơi chuyên dụng trong suốt quá trình quét phổ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cem>Mẫu chất bột và hạt rắn:\u003C\u002Fem> Rải một lượng nhỏ bột phủ đều trên đỉnh tinh thể. Hạ chốt ép cơ học (clamp tower) xuống và vặn vít áp lực từ từ. Hầu hết các phụ kiện ATR hiện đại đều trang bị cơ cấu trượt ly hợp giới hạn lực (torque limiter) để tạo ra áp lực nén đủ lớn giúp các hạt bột biến dạng dẻo và tiếp xúc sát với tinh thể mà không gây nứt vỡ tinh thể.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cem>Mẫu màng polymer và chất đàn hồi:\u003C\u002Fem> Đặt tấm màng polymer phẳng trực tiếp lên mặt tinh thể, sau đó ép đều bằng đầu ép có bề mặt phẳng để loại bỏ hoàn toàn các bóng khí bẫy ở giữa.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Quét phổ mẫu và xử lý tín hiệu:\u003C\u002Fstrong> Phần mềm máy quang phổ FTIR tiến hành quét tín hiệu mẫu qua nhiều lần quét tích lũy để tối ưu hóa {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BB%B7%20l%E1%BB%87%20t%C3%ADn%20hi%E1%BB%87u%20tr%C3%AAn%20nhi%E1%BB%85u%22%7D}}, sau đó tự động lấy tỷ số giữa phổ mẫu và phổ đường nền để xuất ra phổ độ truyền qua hoặc phổ độ hấp thụ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Áp dụng hiệu chỉnh ATR (ATR correction):\u003C\u002Fstrong> Do độ sâu thâm nhập tỷ lệ thuận với bước sóng, phần mềm quang phổ cung cấp tính năng tính toán hiệu chỉnh ATR để chuẩn hóa cường độ các pic phổ, đưa tỷ lệ cường độ giữa các vùng số sóng cao và số sóng thấp về trạng thái tương đương với phổ truyền qua.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Làm sạch tinh thể sau khi đo:\u003C\u002Fstrong> Tháo chốt ép, gạt bỏ mẫu rắn hoặc hút mẫu lỏng, lau kỹ bề mặt tinh thể bằng dung môi phù hợp và kiểm tra lại độ sạch để sẵn sàng cho mẫu tiếp theo.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Fol>\n\n\u003Ch2>So sánh phân tích ATR với quang phổ truyền qua\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Phương pháp quang phổ hồng ngoại truyền qua truyền thống (transmission FTIR) đã từng là kỹ thuật nền tảng trong phân tích dao động phân tử. Tuy nhiên, sự xuất hiện của kỹ thuật ATR đã tạo ra một cuộc chuyển đổi phương pháp luận mạnh mẽ trong các phòng thí nghiệm phân tích trên toàn thế giới.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bảng dưới đây so sánh các khía cạnh kỹ thuật trọng yếu giữa phân tích ATR và quang phổ truyền qua:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Tiêu chí so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Phân tích ATR (Phản xạ suy giảm)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Quang phổ truyền qua (Transmission FTIR)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Yêu cầu chuẩn bị mẫu\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất đơn giản hoặc không cần chuẩn bị; đặt trực tiếp chất lỏng, bột hoặc màng lên bề mặt tinh thể.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phức tạp và tốn thời gian; phải nghiền mịn chất mẫu với bột kali bromua (KBr) để dập viên nén, hoặc cán màng phim siêu mỏng.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Tính phá hủy đối với mẫu\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không phá hủy mẫu; sau khi đo có thể thu hồi lại mẫu nguyên vẹn đối với nhiều loại vật liệu.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phá hủy mẫu hoàn toàn; mẫu bị nghiền nát và phân tán đồng thể trong khuôn mạng tinh thể KBr.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Khả năng đo mẫu dày hoặc mẫu đục\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đo trực tiếp các khối vật liệu dày, mờ đục, cao su đen hoặc nhũ tương nhờ bản chất đo bề mặt nông.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không thể đo được mẫu dày hoặc mẫu đục vì ánh sáng bị hấp thụ hoặc tán xạ hoàn toàn, gây bão hòa đầu dò.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Chiều dày đường truyền quang\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chiều dày hiệu dụng rất nhỏ, cố định ở mức 0,5 µm đến 2,0 µm bởi độ sâu thâm nhập của sóng phù trắc.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phụ thuộc vào chiều dày cơ học thực tế của mẫu hoặc viên nén KBr; mẫu quá dày sẽ vượt khỏi định luật Beer.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Độ lặp lại giữa các phép đo\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Độ lặp lại rất cao nhờ kiểm soát được lực ép và không phụ thuộc vào kỹ năng nén viên KBr thủ công.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dễ dao động do độ đồng đều của viên KBr, lực ép khuôn nén và độ phân tán kích thước hạt không ổn định.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Đặc tính cường độ vạch phổ\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cường độ dải hấp thụ tăng theo bước sóng; cần thuật toán ATR correction để so sánh với thư viện phổ chuẩn.\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cường độ tuân theo định luật Beer-Lambert truyền thống; khớp trực tiếp với các cơ sở dữ liệu phổ kinh điển.\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>Mặc dù sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội, phân tích ATR cũng có một số giới hạn kỹ thuật cần lưu ý. Vì độ sâu thâm nhập rất nông, phổ ATR chỉ phản ánh thông tin hóa học của lớp bề mặt tiếp xúc dày từ 0,5 µm đến vài micromet, không phản ánh thành phần khối bên trong nếu mẫu bị phân lớp, nhiễm bẩn bề mặt hoặc có lớp phủ bảo vệ. Bên cạnh đó, với các mẫu bột có bề mặt gồ ghề không biến dạng được dưới lực nén, tiếp xúc quang học kém có thể dẫn đến hiện tượng méo dạng đường nền hoặc xuất hiện tán xạ giả tạo.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng thực tế trong khoa học và công nghiệp\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kỹ thuật phân tích ATR đã trở thành công cụ phân tích không thể thiếu trong nhiều ngành khoa học và công nghiệp hiện đại nhờ tính tiện lợi và tốc độ phân tích vượt bậc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Các lĩnh vực ứng dụng tiêu biểu bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khoa học vật liệu và công nghiệp polymer:\u003C\u002Fstrong> Phân tích ATR cho phép nhận diện nhanh chóng các loại nhựa nhiệt dẻo, màng polymer nhiều lớp và composite. Đặc biệt, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ti%C3%AAu%20chu%E1%BA%A9n%20qu%E1%BB%91c%20t%E1%BA%BF%22%7D}} ISO 4650:2012 quy định quy trình chuẩn sử dụng quang phổ FTIR kết hợp kỹ thuật đo phản xạ suy giảm ATR để nhận diện thành phần polymer trong các sản phẩm cao su tự nhiên và cao su tổng hợp mà không cần qua các bước nhiệt phân hóa học phức tạp. Tinh thể gecmani là công cụ đắc lực để phân tích các sản phẩm cao su đen chứa hàm lượng muội than cao dùng trong ngành sản xuất lốp xe.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm nghiệm dược phẩm và y tế:\u003C\u002Fstrong> Trong ngành dược, phân tích ATR được ứng dụng để định tính nguyên liệu hoạt chất (API), phân tích dạng đa hình tinh thể (polymorphism) và phát hiện tạp chất trong thành phẩm thuốc. Dược điển Việt Nam V ban hành năm 2017 tại Phụ lục 4.2 đã chính thức quy định phương pháp quang phổ hấp thụ hồng ngoại bao gồm kỹ thuật đo phản xạ toàn phần suy giảm ATR như một phương pháp tiêu chuẩn để kiểm nghiệm và định tính các dược chất. Ngoài ra, trong lĩnh vực y sinh, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7391-18:2023 (hoàn toàn tương đương tiêu chuẩn quốc tế ISO 10993-18:2020, soát xét thay thế bản 2007) quy định việc áp dụng kỹ thuật ATR-FTIR để xác định đặc tính hóa học bề mặt của vật liệu chế tạo {{topic|%7B%22topic%22%3A%22trang%20thi%E1%BA%BFt%20b%E1%BB%8B%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}} tiếp xúc trực tiếp với cơ thể người.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khoa học pháp y và điều tra hình sự:\u003C\u002Fstrong> Tính chất không phá hủy mẫu của ATR là ưu điểm mang ý nghĩa sống còn trong giám định tư pháp. Các giám định viên có thể đặt trực tiếp sợi vải thu thập tại hiện trường vụ án, vết sơn xe hơi trong các vụ tai nạn giao thông, hoặc các mẫu bột ma túy vi lượng lên tinh thể kim cương để ghi phổ nhận diện chính xác mà vẫn bảo toàn nguyên vẹn vật chứng phục vụ công tác tố tụng tại tòa án.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nghiên cứu y sinh học và cấu trúc protein:\u003C\u002Fstrong> Phân tích ATR đối với các dung dịch sinh học giúp khảo sát sự biến đổi cấu trúc bậc hai của protein thông qua các dải hấp thụ amide I và amide II. Theo nghiên cứu tổng quan của Kazarian và Chan năm 2013, kỹ thuật ảnh phổ vi mô ATR-FTIR imaging cho phép lập bản đồ phân bố hóa học của các mô sinh học và tế bào sống trong môi trường nước với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99%20ph%C3%A2n%20gi%E1%BA%A3i%20kh%C3%B4ng%20gian%22%7D}} cao mà không cần nhuộm màu huỳnh quang.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm tại Việt Nam:\u003C\u002Fstrong> Kỹ thuật ATR-FTIR được triển khai rộng rãi tại các viện kiểm nghiệm thực phẩm để phát hiện nhanh gian lận thương mại, ví dụ như pha trộn dầu cọ giá rẻ vào dầu ô liu nguyên chất, pha chế đường dịch công nghiệp vào mật ong tự nhiên, hoặc nhận diện các chất bảo quản ngoài danh mục cho phép trong các sản phẩm đồ uống đóng chai.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Xu hướng phát triển và triển vọng tương lai\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Kỹ thuật phân tích ATR đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo ba hướng đột phá chính:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ảnh phổ hồng ngoại độ phân giải cao (ATR-FTIR Spectroscopic Imaging):\u003C\u002Fstrong> Bằng cách ghép nối phụ kiện ATR vi mô với hệ thống kính hiển vi hồng ngoại và đầu dò mảng mặt phẳng tiêu cự (focal plane array, FPA), các nhà khoa học có thể thu nhận đồng thời hàng nghìn phổ hồng ngoại trên một diện tích vi mô. Như Kazarian và Chan đã chỉ ra vào năm 2013, chiết suất cao của tinh thể ATR giúp cải thiện độ phân giải không gian lên gấp \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_1\u003C\u002Fscript> lần so với phương pháp truyền qua truyền thống, vượt qua giới hạn nhiễu xạ quang học thông thường và cho phép phân tích hình ảnh cấu trúc tế bào dưới mức micromet.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cảm biến vi lưu và giám sát dòng chảy liên tục (In-situ Microfluidic ATR):\u003C\u002Fstrong> Sự tích hợp các kênh dẫn vi lưu (microfluidics) trực tiếp trên bề mặt tinh thể kim cương hoặc Ge mở ra khả năng theo dõi động học của các phản ứng hóa học tổng hợp hữu cơ và phản ứng sinh học theo thời gian thực (in-situ monitoring) mà không làm gián đoạn dây chuyền sản xuất công nghiệp.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kết hợp với trí tuệ nhân tạo và hóa trắc học (Chemometrics):\u003C\u002Fstrong> Việc kết hợp các thuật toán học máy, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20th%C3%A0nh%20ph%E1%BA%A7n%20ch%C3%ADnh%22%7D}} (PCA) và hồi quy bình phương tối thiểu từng phần (PLS) với dữ liệu phổ ATR đa chiều cho phép tự động hóa quá trình nhận diện, giải chập các dải phổ phức tạp và định lượng các cấu tử vi lượng trong các nền mẫu sinh học phức tạp với độ tin cậy vượt trội.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Phân tích ATR","attenuated total reflectance",[20,21,22],"quang phổ ATR","quang phổ ATR-FTIR","phương pháp phản xạ toàn phần suy giảm","Phân tích ATR (phân tích phản xạ toàn phần suy giảm) là phương pháp quang phổ hồng ngoại ghi nhận phổ dao động phân tử dựa trên sự suy giảm năng lượng của chùm tia bức xạ khi phản xạ toàn phần bên trong một tinh thể có chiết suất cao tiếp xúc với mẫu. Kỹ thuật này cho phép phân tích trực tiếp các mẫu vật liệu rắn, lỏng và màng mỏng thông qua tương tác của sóng phù trắc bề mặt mà hầu như không cần xử lý mẫu.","NATURAL_SCIENCES",[26,34,42,50,58,66,73],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":33},"Fahrenfort, J. (1961). Attenuated total reflection: A new principle for the production of useful infra-red spectra of organic compounds. Spectrochimica Acta, 17(7), 698-709.","Attenuated total reflection","Fahrenfort","Spectrochimica Acta",1961,"10.1016\u002F0371-1951(61)80136-7","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002F0371-1951(61)80136-7",{"citationText":35,"title":36,"authors":37,"source":38,"year":39,"doi":40,"url":41},"Harrick, N. J. (1960). Surface chemistry from spectral analysis of totally internally reflected radiation. The Journal of Physical Chemistry, 64(9), 1110-1114.","SURFACE CHEMISTRY FROM SPECTRAL ANALYSIS OF TOTALLY INTERNALLY REFLECTED RADIATION*","Harrick","The Journal of Physical Chemistry",1960,"10.1021\u002Fj100838a005","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1021\u002Fj100838a005",{"citationText":43,"title":44,"authors":45,"source":46,"year":47,"doi":48,"url":49},"Milosevic, M. (2004). Internal reflection and ATR spectroscopy. Applied Spectroscopy Reviews, 39(3), 365-384.","Internal Reflection and ATR Spectroscopy","Milosevic","Applied Spectroscopy Reviews",2004,"10.1081\u002Fasr-200030195","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1081\u002Fasr-200030195",{"citationText":51,"title":52,"authors":53,"source":54,"year":55,"doi":56,"url":57},"Kazarian, S. G., & Chan, K. L. A. (2013). ATR-FTIR spectroscopic imaging: recent advances and applications to biological systems. The Analyst, 138(7), 1940-1951.","ATR-FTIR spectroscopic imaging: recent advances and applications to biological systems","Kazarian, Chan","The Analyst",2013,"10.1039\u002Fc3an36865c","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1039\u002Fc3an36865c",{"citationText":59,"title":60,"authors":61,"source":62,"year":63,"doi":64,"url":65},"Griffiths, P. R., & de Haseth, J. A. (2006). Fourier Transform Infrared Spectrometry. John Wiley & Sons.","Fourier Transform Infrared Spectrometry","Griffiths, de Haseth","John Wiley & Sons",2006,"10.1002\u002F047010631x","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002F047010631x",{"citationText":67,"title":68,"authors":69,"source":70,"year":71,"doi":10,"url":72},"Bộ Khoa học và Công nghệ (2023). TCVN 7391-18:2023 (ISO 10993-18:2020) Đánh giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 18: Đặc tính hóa học của vật liệu.","TCVN 7391-18:2023 (ISO 10993-18:2020) Đánh giá sinh học trang thiết bị y tế","Bộ Khoa học và Công nghệ","Tiêu chuẩn quốc gia TCVN",2023,"https:\u002F\u002Ftcvn.gov.vn",{"citationText":74,"title":75,"authors":76,"source":77,"year":78,"doi":10,"url":72},"Hội đồng Dược điển Việt Nam (2017). Dược điển Việt Nam V (Phụ lục 4.2: Phương pháp quang phổ hấp thụ hồng ngoại). NXB Y học.","Dược điển Việt Nam V - Phụ lục 4.2 Quang phổ hấp thụ hồng ngoại","Hội đồng Dược điển Việt Nam","NXB Y học",2017,[80,83,86,89],{"question":81,"answer":82},"Phân tích ATR khác gì so với quang phổ hồng ngoại truyền qua truyền thống?","Quang phổ truyền qua truyền thống đòi hỏi chùm tia hồng ngoại phải xuyên qua toàn bộ chiều dày mẫu, do đó mẫu cần được nghiền mịn và ép viên với muối KBr hoặc tạo màng siêu mỏng để tránh bão hòa đầu dò. Ngược lại, phân tích ATR chỉ sử dụng sóng phù trắc thâm nhập vào lớp bề mặt mẫu ở độ sâu từ 0,5 µm đến vài micromet, cho phép đo trực tiếp các mẫu rắn dày, mẫu mờ đục hoặc chất lỏng mà không phá hủy mẫu.",{"question":84,"answer":85},"Tại sao phổ ATR lại có cường độ vạch hấp thụ khác biệt so với phổ truyền qua?","Trong phân tích ATR, độ sâu thâm nhập của sóng phù trắc tỷ lệ thuận với bước sóng của tia bức xạ hồng ngoại. Do đó, ở vùng số sóng thấp (bước sóng dài), bức xạ thâm nhập sâu hơn và tương tác với nhiều phân tử mẫu hơn, khiến các pic hấp thụ ở vùng này có cường độ tương đối mạnh hơn so với phổ truyền qua. Để so sánh với các thư viện phổ chuẩn truyền thống, phần mềm máy quang phổ hiện đại thường áp dụng thuật toán hiệu chỉnh ATR (ATR correction).",{"question":87,"answer":88},"Khi nào nên chọn tinh thể kim cương và khi nào nên chọn tinh thể gecmani?","Tinh thể kim cương có độ cứng tối đa và trơ hóa học hoàn toàn trong dải pH từ 1 đến 14, rất thích hợp cho các mẫu hạt rắn thô, mẫu bột cứng cần lực ép lớn và các dung dịch có tính ăn mòn. Trong khi đó, tinh thể gecmani có chiết suất rất cao (khoảng 4,0), tạo ra độ sâu thâm nhập rất nông, là lựa chọn lý tưởng cho các mẫu hấp thụ ánh sáng cực mạnh hoặc có màu đen như cao su chứa muội than.",{"question":90,"answer":91},"Mẫu phân tích có cần tiếp xúc hoàn toàn với bề mặt tinh thể ATR không?","Tiếp xúc quang học mật thiết giữa mẫu và mặt tinh thể là điều kiện bắt buộc để thu được phổ ATR chất lượng cao. Do sóng phù trắc chỉ tồn tại ở khoảng cách từ 0,5 µm đến 2,0 µm tính từ bề mặt tinh thể, bất kỳ khe hở không khí nào cũng sẽ làm suy yếu hoặc mất hoàn toàn tín hiệu hấp thụ của mẫu. Đối với mẫu rắn và bột, người phân tích cần sử dụng chốt ép chuyên dụng với lực nén thích hợp để ép phẳng mẫu sát vào mặt tinh thể.",{"id":93,"researcherId":10,"name":94,"imageUrl":95},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":93,"researcherId":10,"name":94,"imageUrl":95},[98,99,100,101,102,103,104,105,106,107],"bức xạ hồng ngoại","hấp thụ hồng ngoại","nghiên cứu quang phổ","hợp chất hữu cơ","phương pháp quang phổ","tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu","tiêu chuẩn quốc tế","trang thiết bị y tế","độ phân giải không gian","phân tích thành phần chính",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:48.270+00:00","2026-09-15T08:34:40.577+00:00","2026-09-15T07:42:36.971+00:00","2026-09-15T08:34:40.001+00:00",0,[117,120,123,132,135,145,148,151,154,164],{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hồi quy đa biến","Hồi quy đa biến là gì? Các nghiên cứu về Hồi quy đa biến",{"id":121,"title":122,"term":121,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phonon","Phonon là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Phonon",{"id":106,"title":124,"term":106,"englishTitle":125,"definition":126,"discipline":127,"disciplineCode":128,"disciplineLabel":129,"disciplineColor":130,"disciplineIcon":131},"Độ phân giải không gian là gì? Giới hạn Rayleigh, MTF và ứng dụng","spatial resolution","Độ phân giải không gian (spatial resolution) là đại lượng đo lường khoảng cách tối thiểu giữa hai điểm hoặc cấu trúc riêng biệt trong không gian mà một hệ thống quang học, ảnh viễn thám hoặc chẩn đoán hình ảnh y khoa có thể phân biệt được.","ENGINEERING_TECHNOLOGY","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":133,"title":134,"term":133,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"sấy lạnh","Sấy lạnh là gì? Các nghiên cứu khoa học về Sấy lạnh",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":140,"disciplineCode":141,"disciplineLabel":142,"disciplineColor":143,"disciplineIcon":144},"cá tra","Cá tra là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về Cá tra","Striped Catfish","Cá tra (danh pháp khoa học: *Pangasianodon hypophthalmus*) là loài cá nước ngọt bản địa thuộc họ Cá tra (Pangasiidae), phân bố tự nhiên tại lưu vực sông Mekong và Chao Phraya, là đối tượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt quan trọng bậc nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam.","AGRICULTURAL_SCIENCES","agricultural-sciences","Khoa học nông nghiệp","#2F9E44","sprout",{"id":146,"title":147,"term":146,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"insar","Insar là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Insar",{"id":149,"title":150,"term":149,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"cptpp","CPTPP là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về CPTPP",{"id":152,"title":153,"term":152,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"điện cực biến tính","Điện cực biến tính là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":155,"title":156,"term":157,"englishTitle":158,"definition":159,"discipline":24,"disciplineCode":160,"disciplineLabel":161,"disciplineColor":162,"disciplineIcon":163},"mô đun young","Mô đun Young là gì? Công thức, ý nghĩa và bảng giá trị vật liệu","Mô đun Young","Young's modulus \u002F Elastic modulus","Mô đun Young (mô đun đàn hồi kéo) là đại lượng cơ học đặc trưng cho độ cứng vững của vật liệu rắn đàn hồi đồng nhất và đẳng hướng, đo lường tỷ số giữa ứng suất kéo hoặc nén và biến dạng tỉ đối tương ứng trong giới hạn đàn hồi tuyến tính.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":165,"title":166,"term":165,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"plasma lạnh","Plasma lạnh là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học liên quan"]