[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ph%C3%A1t%20x%E1%BA%A1%20%C3%A1nh%20s%C3%A1ng{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ph%C3%A1t%20x%E1%BA%A1%20%C3%A1nh%20s%C3%A1ng":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":20,"discipline":21,"references":22,"faqs":63,"createUser":76,"publishUser":80,"keywords":81,"keywordCount":90,"enrichTopicLink":91,"status":92,"createTime":93,"updateTime":94,"publishTime":95,"linkEnrichedTime":96,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":97,"wikidataId":10,"relateTopics":98},"phát xạ ánh sáng","Phát xạ ánh sáng (light emission) là gì?","Tìm hiểu phát xạ ánh sáng: bản chất lượng tử, các cơ chế phát quang, điều khiển phát xạ trong vi hốc nano và ứng dụng chiếu sáng, quang điện tại Việt Nam.","\u003Cp>Phát xạ ánh sáng là quá trình vật lý nền tảng trong đó một hệ vi mô như nguyên tử, phân tử hoặc cấu trúc chất rắn giải phóng năng lượng dưới dạng bức xạ điện từ thuộc phổ quang học, thường tập trung ở vùng khả kiến, tử ngoại hoặc hồng ngoại. Hiện tượng này xảy ra khi các hạt mang điện, chủ yếu là điện tử, chuyển dịch từ trạng thái kích thích có mức năng lượng cao xuống trạng thái có mức năng lượng thấp hơn hoặc trạng thái cơ bản. Bài viết này trình bày toàn diện về cơ sở cơ học lượng tử, các cơ chế phát xạ chính, hiện tượng phát quang, kỹ thuật điều khiển phát xạ trong quang học nano, các ứng dụng công nghệ hiện đại và những bài toán nghiên cứu vật lý tiên tiến.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất vật lý và nền tảng lượng tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong vật lý cổ điển, một điện tích chuyển động có gia tốc sẽ liên tục phát ra sóng điện từ làm tiêu hao cơ năng của hạt. Tuy nhiên, mô hình cổ điển không thể giải thích tính bền vững của nguyên tử cũng như tính chất gián đoạn của phổ vạch phát xạ quan sát được trong thực nghiệm. Sự ra đời của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}} đã thiết lập nguyên lý rằng các hệ vi mô chỉ tồn tại ở những trạng thái dừng có mức năng lượng gián đoạn xác định.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi một điện tử chuyển từ mức năng lượng kích thích cao xuống mức năng lượng thấp hơn, năng lượng dôi dư được giải phóng dưới dạng một hạt ánh sáng đơn lẻ gọi là photon. Năng lượng của photon phát xạ tuân theo hệ thức Planck-Einstein:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">E_2 - E_1 = h \\nu = \\hbar \\omega\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Trong đó hệ thức biểu thị hiệu số giữa mức năng lượng kích thích ban đầu và mức năng lượng sau chuyển dời, tỷ lệ thuận với tần số dao động của bức xạ thông qua hằng số Planck. Theo Dirac (1927), lý thuyết lượng tử về bức xạ đã giải thích hiện tượng phát xạ tự phát xuất phát từ sự ghép cặp giữa nguyên tử kích thích với các thăng giáng chân không của trường điện từ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%20h%C3%B3a%22%7D}}. Ngay cả trong trạng thái chân không hoàn hảo khi không có photon nào hiện diện, các dao động điểm không của trường điện từ vẫn tồn tại và kích thích nguyên tử đang ở trạng thái kích thích chuyển dời năng lượng để sinh ra photon. Theo Dirac (1927), photon phát xạ mang năng lượng xác định bởi hiệu hai trạng thái dừng của nguyên tử theo hệ thức Planck E2 trừ E1 bằng h nhân tần số.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại các cơ chế phát xạ ánh sáng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dựa trên nguồn cung cấp năng lượng kích thích ban đầu và bản chất của quá trình giải phóng photon, các hiện tượng phát xạ ánh sáng trong tự nhiên và kỹ thuật được phân thành nhiều cơ chế vật lý riêng biệt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Cơ chế phát xạ\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nguồn kích thích ban đầu\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đặc điểm quang học của bức xạ\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ví dụ ứng dụng tiêu biểu\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phát xạ nhiệt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Động năng dao động nhiệt của các hạt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phổ liên tục rộng, phụ thuộc nhiệt độ tuyệt đối\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mặt Trời, bóng đèn dây tóc vonfram\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phát xạ tự phát\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kích thích quang, điện hoặc hóa học\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Pha ngẫu nhiên, phát xạ đẳng hướng không kết hợp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đèn huỳnh quang, diode phát quang thông thường\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Phát xạ kích thích\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Photon kích thích bên ngoài cùng tần số\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cùng tần số, cùng pha, cùng hướng truyền và phân cực\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thiết bị khuếch đại ánh sáng bằng phát xạ kích thích (Laser)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Điện phát quang\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dòng điện tích hoặc điện trường ngoài\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tái hợp hạt dẫn điện tử và lỗ trống\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Diode phát quang bán dẫn (LED), màn hình OLED\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Hóa phát quang\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phản ứng hóa học giải phóng năng lượng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phổ vạch hoặc dải hẹp, không cần cấp nhiệt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hiện tượng phát sáng sinh học ở đom đóm, que sáng hóa học\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch3>Phát xạ tự phát\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Phát xạ tự phát là quá trình một nguyên tử hoặc phân tử ở trạng thái kích thích tự động chuyển về trạng thái năng lượng thấp hơn mà không cần sự tác động của trường bức xạ ngoài. Do mỗi hạt kích thích phát xạ hoàn toàn độc lập với các hạt khác trong môi trường, các photon phát ra có hướng chuyển động, mặt phẳng phân cực và pha sóng hoàn toàn ngẫu nhiên. Bức xạ phát xạ tự phát có tính kết hợp không gian và thời gian rất thấp, tạo nên chùm ánh sáng tán xạ đẳng hướng đặc trưng cho các nguồn sáng tự nhiên và đèn phát quang thông thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Phát xạ kích thích\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Phát xạ kích thích xảy ra khi một photon bên ngoài có năng lượng đúng bằng khoảng cách giữa hai mức năng lượng tương tác với hệ lượng tử đang ở trạng thái kích thích. Tương tác này kích thích hệ chuyển dời xuống mức thấp hơn, đồng thời giải phóng một photon mới có tần số, pha dao động, trạng thái phân cực và phương truyền trùng khớp tuyệt đối với photon kích thích ban đầu. Hiện tượng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A1t%20x%E1%BA%A1%20k%C3%ADch%20th%C3%ADch%22%7D}} là nền tảng nguyên lý của laser, cho phép tạo ra chùm tia sáng có tính định hướng cực cao, độ đơn sắc gần như tuyệt đối và tính kết hợp cao.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Bức xạ nhiệt và định luật vật đen\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Mọi vật thể có nhiệt độ trên độ không tuyệt đối đều liên tục phát xạ ánh sáng và sóng điện từ do các dao động nhiệt hỗn loạn của các hạt mang điện cấu thành vật chất. Khi nhiệt độ của vật thể tăng lên, cực đại của phổ phát xạ dịch dần từ vùng hồng ngoại sang vùng ánh sáng khả kiến rồi tử ngoại. Phổ phát xạ của vật đen tuyệt đối tuân theo định luật bức xạ Planck, thiết lập mối liên hệ định lượng giữa mật độ phổ năng lượng phát xạ với bước sóng và nhiệt độ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20l%E1%BB%B1c%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} của hệ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Hiện tượng phát quang\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Phát quang là hiện tượng phát xạ ánh sáng không sinh ra từ trạng thái cân bằng nhiệt, được chia thành hai nhánh chính dựa trên cấu hình spin của các trạng thái lượng tử tham gia chuyển dịch:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Huỳnh quang (fluorescence):\u003C\u002Fstrong> Chuyển dời lượng tử diễn ra giữa hai trạng thái có cùng bội số spin (chuyển dịch cho phép giữa trạng thái kích thích singlet và trạng thái cơ bản singlet). Quá trình này diễn ra cực kỳ nhanh chóng, với thời gian sống của trạng thái kích thích thường chỉ kéo dài vài nano giây. Khi nguồn kích thích ngừng tác dụng, hiện tượng huỳnh quang lập tức biến mất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Lân quang (phosphorescence):\u003C\u002Fstrong> Chuyển dời lượng tử diễn ra giữa hai trạng thái có bội số spin khác nhau (từ trạng thái kích thích triplet chuyển về trạng thái cơ bản singlet thông qua quá trình chuyển đổi liên hệ thống). Do đây là chuyển dời bị cấm theo quy tắc chọn lọc cơ học lượng tử, xác suất xảy ra chuyển dời rất thấp, dẫn đến thời gian sống của trạng thái kích thích kéo dài từ micro giây đến hàng giờ sau khi ngừng nguồn kích thích.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Điều khiển phát xạ trong quang học nano và vi hốc\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong quan niệm vật lý ban đầu, tốc độ phát xạ tự phát của một nguyên tử được xem là một hằng số nội tại bất biến chỉ phụ thuộc vào cấu trúc mức năng lượng của chính nguyên tử đó. Tuy nhiên, quang học lượng tử hiện đại đã chứng minh rằng tốc độ phát xạ tự phát tỷ lệ thuận với mật độ cục bộ của các trạng thái quang tử (Local Density of Optical States - LDOS) tại vị trí của nguồn phát.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bằng cách đặt chất phát quang vào trong các môi trường có cấu trúc vi mô hoặc nano được thiết kế nhân tạo, người ta có thể điều biến mạnh mẽ tốc độ và hướng phát xạ của photon thông qua hiệu ứng Purcell. Theo Vahala (2003), các vi hốc quang học vi mô có khả năng biến đổi tốc độ phát xạ tự phát thông qua hiệu ứng Purcell với hệ số tỷ lệ thuận với tỷ số Q trên thể tích mốt V. Theo Vahala (2003), biểu thức hệ số Purcell chứa thừa số 3 chia cho 4 pi bình phương nhân với bước sóng chuẩn hóa lập phương và tỷ số Q trên V:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">F_P = \\frac{3}{4\\pi^2} \\left(\\frac{\\lambda}{n}\\right)^3 \\frac{Q}{V}\u003C\u002Fscript>\n\n\u003Cp>Khi vi hốc quang học sở hữu hệ số phẩm chất Q rất lớn (thời gian giam giữ photon lâu) và thể tích mốt V rất nhỏ (năng lượng điện từ tập trung trong không gian hiển vi), hệ số Purcell tăng vọt, làm cho tốc độ phát xạ tự phát của nguyên tử đặt trong hốc tăng lên đáng kể so với trong không gian tự do. Ngược lại, nếu tần số chuyển dời của chất phát xạ rơi vào dải cấm quang tử của một tinh thể quang tử (photonic crystal), {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%E1%BA%ADt%20%C4%91%E1%BB%99%20tr%E1%BA%A1ng%20th%C3%A1i%22%7D}} quang học bị triệt tiêu hoàn toàn, làm ngừng hẳn quá trình phát xạ tự phát.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong lĩnh vực quang học nano, các hạt nano kim loại quý có thể tạo ra {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BB%99ng%20h%C6%B0%E1%BB%9Fng%20plasmon%20b%E1%BB%81%20m%E1%BA%B7t%22%7D}} cục bộ, tập trung trường điện từ vào các thể tích kích thước hạ bước sóng. Theo Pelton (2015), cấu trúc nano quang học plasmonic có thể thúc đẩy tốc độ phát xạ tự phát của chất phát quang với hệ số tăng cường vượt quá 100 đến 1000 lần. Khả năng tăng tốc phát xạ này mở ra cơ hội chế tạo các nguồn phát photon đơn lẻ tốc độ cực cao phục vụ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C3%B4ng%20ngh%E1%BB%87%20th%C3%B4ng%20tin%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng thực tiễn trong công nghệ chiếu sáng và năng lượng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự hiểu biết sâu sắc về các cơ chế phát xạ ánh sáng đã thúc đẩy sự ra đời của những công nghệ quang điện tử đóng vai trò then chốt trong đời sống xã hội và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22s%E1%BA%A3n%20xu%E1%BA%A5t%20c%C3%B4ng%20nghi%E1%BB%87p%22%7D}}.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Công nghệ chiếu sáng thể rắn\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sự phát triển của diode phát quang bán dẫn (LED) đã tạo nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực chiếu sáng dân dụng và công nghiệp. Thay vì tiêu hao phần lớn năng lượng dưới dạng nhiệt như đèn sợi đốt, LED phát xạ ánh sáng trực tiếp thông qua sự tái hợp bức xạ giữa điện tử trong vùng dẫn và lỗ trống trong vùng hóa trị của chất bán dẫn pha tạp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để tạo ra nguồn sáng trắng hiệu quả cao, công nghệ phổ biến nhất sử dụng chip bán dẫn hợp kim InGaN phát xạ ánh sáng xanh lam kết hợp với lớp phủ bột huỳnh quang phát xạ ánh sáng vàng. Theo Cho và cs. (2017), đèn LED phát xạ ánh sáng trắng thương mại đạt hiệu suất phát quang vượt mốc 150 lm\u002FW. Thành tựu này giúp tiết kiệm hàng tỷ kilowatt giờ điện năng trên phạm vi toàn cầu mỗi năm. Hơn nữa, theo Cho và cs. (2017), các mẫu thử nghiệm diode phát quang ánh sáng trắng trong phòng thí nghiệm đã ghi nhận hiệu suất phát quang đạt trên 200 lm\u002FW, khẳng định tiềm năng to lớn của việc cải tiến cấu trúc vi mô và kỹ thuật epitaxy bán dẫn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Vật liệu tổ hợp nano trong pin mặt trời hữu cơ tại Việt Nam\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Nghiên cứu quá trình phát quang và hiện tượng dập tắt quang phát quang (photoluminescence quenching) cung cấp công cụ phân tích đắc lực để đánh giá động thái chuyển dịch hạt dẫn điện trong các màng vật liệu tiên tiến.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã triển khai nhiều nghiên cứu ứng dụng hiện tượng quang phát quang để tối ưu hóa linh kiện quang điện tử màng mỏng. Theo Thao và cs. (2014), hiện tượng dập tắt quang phát quang của vật liệu tổ hợp MEH-PPV trộn nc-TiO2 đạt giá trị 19,2%. Trong khi đó, theo Thao và cs. (2014), giá trị dập tắt quang phát quang của màng tổ hợp P3HT trộn nc-TiO2 đạt mức 45,5% do sự phân tách điện tích quang sinh nhanh chóng tại mặt phân cách dị thể giữa polymer bán dẫn và hạt nano oxit titan. Hiện tượng dập tắt quang phát quang phản ánh rằng các cặp điện tử - lỗ trống quang sinh thay vì tái hợp để phát xạ ánh sáng đã bị phân tách nhanh chóng thành các điện tích tự do di chuyển về các điện cực.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Ứng dụng cấu trúc màng nano này, theo Thao và cs. (2014), pin mặt trời hữu cơ chế tạo từ vật liệu P3HT trộn TiO2 dưới cường độ chiếu sáng 56 mW\u002Fcm2 đạt hiệu suất chuyển đổi quang năng 0,45%. Cùng với đó, theo Thao và cs. (2014), pin mặt trời màng mỏng hữu cơ đạt hệ số điền đầy 0,64 cùng điện áp hở mạch 0,243 V và mật độ dòng ngắn mạch 1,43 mA\u002Fcm2, đặt tiền đề vững chắc cho việc phát triển các nguồn pin năng lượng mặt trời chi phí thấp tại Việt Nam.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Hạn chế kỹ thuật và thách thức vật lý\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong quá trình khai thác các cơ chế phát xạ ánh sáng cho các linh kiện thương mại, các kỹ sư và nhà vật lý phải đối mặt với nhiều rào cản nội tại:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng suy giảm hiệu suất (efficiency droop):\u003C\u002Fstrong> Ở các diode phát quang làm việc ở mật độ dòng điện cao, hiệu suất phát quang lượng tử nội bị sụt giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quá trình tái hợp Auger phi bức xạ, trong đó năng lượng tái hợp không phát ra photon mà truyền cho hạt mang điện thứ ba dưới dạng động năng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng dập tắt do nồng độ:\u003C\u002Fstrong> Khi nồng độ các tâm phát quang (chẳng hạn ion đất hiếm hoặc phân tử hữu cơ) trong nền chất rắn vượt quá ngưỡng tới hạn, năng lượng kích thích có xu hướng di chuyển không bức xạ giữa các tâm lân cận và bị bẫy bởi các khuyết tật mạng tinh thể, dẫn đến suy giảm mạnh cường độ phát xạ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tổn hao nhiệt do dao động mạng:\u003C\u002Fstrong> Sự ghép cặp giữa điện tử kích thích với các phonon trong mạng tinh thể thúc đẩy các kênh phân rã không bức xạ, chuyển hóa năng lượng kích thích thành nhiệt năng và làm giảm hiệu suất lượng tử của vật liệu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Các hướng nghiên cứu quang học lượng tử hiện đại\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Các công trình nghiên cứu hiện đại về phát xạ ánh sáng đang tập trung vào các hiện tượng lượng tử ở cấp độ hạt đơn lẻ:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nguồn phát xạ photon đơn lẻ:\u003C\u002Fstrong> Việc tạo ra chùm ánh sáng chứa chính xác một photon trong mỗi xung phát xạ đóng vai trò nền tảng cho mạng truyền thông bảo mật lượng tử và máy tính quang lượng tử. Các chấm lượng tử bán dẫn và tâm màu kim cương được giam giữ trong các vi hốc đang là ứng viên hàng đầu cho mục tiêu này.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nguồn photon vướng víu:\u003C\u002Fstrong> Ứng dụng quá trình chuyển đổi hạ tần tham số tự phát trong tinh thể phi tuyến để phát xạ các cặp photon có trạng thái phân cực hoặc động lượng vướng víu lượng tử phục vụ giao thức viễn tải lượng tử.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Chế độ ghép cặp siêu mạnh:\u003C\u002Fstrong> Khảo sát tương tác giữa chất phát xạ và trường vi hốc khi tốc độ ghép cặp lượng tử vượt qua tần số dao động của bức xạ, làm biến đổi căn bản trạng thái chân không lượng tử của hệ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","light emission",[19],"sự phát xạ ánh sáng","Phát xạ ánh sáng là quá trình vật lý trong đó hệ lượng tử như nguyên tử, phân tử hoặc chất rắn giải phóng năng lượng dưới dạng photon bức xạ điện từ khi chuyển từ trạng thái kích thích có mức năng lượng cao xuống mức năng lượng thấp hơn.","NATURAL_SCIENCES",[23,31,39,47,55],{"citationText":24,"title":25,"authors":26,"source":27,"year":28,"doi":29,"url":30},"Dirac, P. A. M. (1927). The quantum theory of the emission and absorption of radiation. Proceedings of the Royal Society of London. Series A, 114(767), 243–265.","The quantum theory of the emission and absorption of radiation","Dirac","Proceedings of the Royal Society of London. Series A, Containing Papers of a Mathematical and Physical Character",1927,"10.1098\u002Frspa.1927.0039","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1098\u002Frspa.1927.0039",{"citationText":32,"title":33,"authors":34,"source":35,"year":36,"doi":37,"url":38},"Vahala, K. J. (2003). Optical microcavities. Nature, 424(6950), 839–846.","Optical microcavities","Vahala","Nature",2003,"10.1038\u002Fnature01939","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnature01939",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":46},"Pelton, M. (2015). Modified spontaneous emission in nanophotonic structures. Nature Photonics, 9(7), 427–435.","Modified spontaneous emission in nanophotonic structures","Pelton","Nature Photonics",2015,"10.1038\u002Fnphoton.2015.103","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1038\u002Fnphoton.2015.103",{"citationText":48,"title":49,"authors":50,"source":51,"year":52,"doi":53,"url":54},"Cho, J., Park, E. F., Kim, J. K., & Schubert, E. F. (2017). White light-emitting diodes: History, progress, and future. Laser & Photonics Reviews, 11(2), 1600147.","White light-emitting diodes: History, progress, and future","Cho, Park, Kim, Schubert","Laser & Photonics Reviews",2017,"10.1002\u002Flpor.201600147","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Flpor.201600147",{"citationText":56,"title":57,"authors":58,"source":59,"year":60,"doi":61,"url":62},"Thao, T. T., Chung, D. N., Dinh, N. N., & Truong, V. (2014). Photoluminescence Quenching of Nanocomposite Materials Used for Organic Solar Cells. Communications in Physics, 24(3S1), 77–82.","Photoluminescence Quenching of Nanocomposite Materials Used for Organic Solar Cells","Thao, Chung, Dinh, Truong","Communications in Physics",2014,"10.15625\u002F0868-3166\u002F24\u002F3s1\u002F5073","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.15625\u002F0868-3166\u002F24\u002F3s1\u002F5073",[64,67,70,73],{"question":65,"answer":66},"Phát xạ tự phát và phát xạ kích thích khác nhau như thế nào?","Phát xạ tự phát xảy ra ngẫu nhiên khi hệ lượng tử ở trạng thái kích thích tự động giải phóng photon không phụ thuộc vào bức xạ ngoài, tạo ra ánh sáng đẳng hướng và không kết hợp. Ngược lại, phát xạ kích thích được khởi phát bởi photon tới có năng lượng bằng khoảng cách mức năng lượng, tạo ra photon mới giống hệt photon kích thích về tần số, pha, phân cực và hướng truyền.",{"question":68,"answer":69},"Hiệu ứng Purcell điều biến phát xạ tự phát bằng cách nào?","Theo Vahala (2003), khi đặt chất phát quang vào trong vi hốc quang học có hệ số phẩm chất Q cao và thể tích mốt V nhỏ, mật độ cục bộ các trạng thái quang tử tăng mạnh, dẫn đến tốc độ phát xạ tự phát của hệ lượng tử được tăng tốc đáng kể so với môi trường tự do theo hệ số Purcell.",{"question":71,"answer":72},"Huỳnh quang khác lân quang ở những điểm cơ bản nào?","Huỳnh quang là quá trình chuyển dời lượng tử giữa các trạng thái có cùng spin (singlet về singlet) với thời gian sống rất ngắn cỡ nano giây và tắt ngay khi ngừng kích thích. Lân quang là chuyển dời giữa các trạng thái khác spin (triplet về singlet) bị cấm bởi quy tắc chọn lọc, do đó tốc độ chậm hơn và có khả năng duy trì phát sáng kéo dài từ micro giây đến hàng giờ.",{"question":74,"answer":75},"Hiện tượng dập tắt quang phát quang được ứng dụng như thế nào trong pin mặt trời màng mỏng?","Theo nghiên cứu của Thao và cs. (2014) công bố trên Tạp chí Communications in Physics, hiện tượng dập tắt quang phát quang phản ánh sự phân tách điện tích quang sinh nhanh chóng tại mặt phân cách giữa polymer dẫn điện và hạt nano nc-TiO2, giúp hạn chế tái hợp phát xạ và nâng cao hiệu suất dòng quang điện của pin mặt trời hữu cơ.",{"id":77,"researcherId":10,"name":78,"imageUrl":79},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":77,"researcherId":10,"name":78,"imageUrl":79},[82,83,84,85,86,87,88,89],"cơ học lượng tử","lượng tử hóa","phát xạ kích thích","nhiệt động lực học","mật độ trạng thái","cộng hưởng plasmon bề mặt","công nghệ thông tin lượng tử","sản xuất công nghiệp",8,false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:48.272+00:00","2026-09-19T22:10:26.327+00:00","2026-09-19T21:17:40.557+00:00","2026-09-19T22:10:25.974+00:00",0,[99,102,105,108,116,119,122,125,128,131],{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhiệt dung","Nhiệt dung là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nhiệt dung",{"id":103,"title":104,"term":103,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tán xạ","Tán xạ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tán xạ",{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nguyên tử hydro","Nguyên tử hydro là gì? Các công bố khoa học về Nguyên tử hydro",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":109,"definition":111,"discipline":21,"disciplineCode":112,"disciplineLabel":113,"disciplineColor":114,"disciplineIcon":115},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương trình schrödinger","Phương trình schrödinger là gì? Các công bố khoa học về schrödinger",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lý thuyết lượng tử","Lý thuyết lượng tử là gì? Các nghiên cứu khoa học ",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"phương trình chuyển động","Phương trình chuyển động là gì? Các bài nghiên cứu khoa học",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hydrogen","Hydrogen là gì? Các công bố khoa học về Hydrogen",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hiệu suất nhiệt","Hiệu suất nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mâu thuẫn","Mâu thuẫn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan"]