[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_nh%C5%A9%20h%C3%B3a{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_nhũ hóa":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":10,"definition":18,"discipline":19,"references":20,"faqs":53,"createUser":63,"publishUser":67,"keywords":68,"keywordCount":10,"enrichTopicLink":69,"status":70,"createTime":71,"updateTime":72,"publishTime":73,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":74,"relateTopics":75},"nhũ hóa","Nhũ hóa là gì? Cơ chế nhiệt động và hệ phân tán nhũ tương","Nhũ hóa là quá trình phân tán hai chất lỏng không đồng tan tạo hệ nhũ tương bền nhờ chất hoạt động bề mặt làm giảm sức căng bề mặt và năng lượng tự do.","\u003Cp>Nhũ hóa (emulsification) là quá trình phân tán một chất lỏng vào trong một chất lỏng khác không đồng tan dưới dạng các giọt phân tán siêu nhỏ nhờ năng lượng cơ học và sự hỗ trợ của chất nhũ hóa (chất hoạt động bề mặt), tạo thành một hệ phân tán dị thể gọi là nhũ tương (emulsion). Trong tự nhiên và kỹ thuật, hai chất lỏng không trộn lẫn (như dầu và nước) luôn có xu hướng tự nhiên tách rời thành hai lớp riêng biệt để cực tiểu hóa diện tích tiếp xúc bề mặt liên diện và hạ thấp năng lượng tự do nhiệt động học. Để hình thành và duy trì một hệ nhũ tương bền vững, cần có sự tham gia của các chất nhũ hóa phân tử lưỡng cực (amphiphilic surfactants), các hydrocolloid\u002Fprotein sinh học theo Dickinson (2009) trên Food Hydrocolloids, hoặc các hạt nano rắn trong nhũ tương Pickering theo Binks (2002) trên Current Opinion in Colloid &amp; Interface Science. Theo tổng quan kinh điển của McClements (2012) trên Soft Matter và công trình của Tadros và cộng sự (2004) trên Advances in Colloid and Interface Science, khoa học nhũ hóa hiện đại đã phân định rạch ròi các quy luật nhiệt động lực học, động học phân rã và kỹ thuật chế tạo nhũ tương kích thước nano từ 20 đến 200 nanomet. Bài viết này trình bày toàn diện về cơ sở nhiệt động học giao diện, áp suất Laplace, phân loại hệ nhũ tương theo thang đo HLB, cơ chế ổn định tĩnh điện DLVO và lực cản không gian, phương trình Stokes và chín Ostwald LSW, các phương pháp chế tạo năng lượng cao\u002Fthấp, và các ứng dụng đột phá trong công nghệ thực phẩm, mỹ phẩm và hệ dẫn truyền thuốc tự nhũ hóa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cơ sở Nhiệt động học Giao diện và Năng lượng Tự do Nhũ hóa\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Quá trình tạo nhũ tương được chi phối bởi định luật nhiệt động học liên diện:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Phương trình biến thiên năng lượng tự do Gibbs\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Biến thiên năng lượng tự do Gibbs trong quá trình nhũ hóa được biểu diễn qua phương trình:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>$$\\Delta G_{\\text{form}} = \\gamma \\Delta A - T \\Delta S_{\\text{conf}}$$\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó $\\gamma$ là sức căng bề mặt liên diện giữa hai pha lỏng, $\\Delta A$ là độ gia tăng diện tích bề mặt tiếp xúc khi một giọt lớn bị phân tách thành hàng tỷ giọt siêu nhỏ, $T$ là nhiệt độ tuyệt đối và $\\Delta S_{\\text{conf}}$ là entropy cấu hình của các giọt phân tán.\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Bản chất không bền nhiệt động học:\u003C\u002Fstrong> Do diện tích tiếp xúc $\\Delta A$ tăng lên hàng triệu lần, số hạng năng lượng bề mặt $\\gamma \\Delta A$ có giá trị dương rất lớn và luôn vượt trội so với số hạng entropy $T \\Delta S_{\\text{conf}}$, làm cho $\\Delta G_{\\text{form}} &gt; 0$. Do đó, hầu hết các hệ nhũ tương thông thường và nhũ tương nano đều là hệ không bền nhiệt động học (thermodynamically unstable) theo McClements (2012).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vai trò hạ thấp sức căng bề mặt của chất nhũ hóa:\u003C\u002Fstrong> Chất nhũ hóa hấp phụ nhanh chóng lên bề mặt liên diện mới hình thành, làm giảm mạnh giá trị sức căng bề mặt $\\gamma$, từ đó làm giảm công cơ học cần thiết để phân chia các giọt chất lỏng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>2. Áp suất Laplace và Cơ chế phá vỡ giọt\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Sự chênh lệch áp suất qua bề mặt cong của một giọt chất lỏng hình cầu bán kính $R$ được mô tả bởi phương trình Young-Laplace:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>$$\\Delta P = \\frac{2\\gamma}{R}$$\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Để phá vỡ một giọt lớn thành các giọt nhỏ hơn có bán kính $R$, lực biến dạng cơ học (ứng suất cắt hoặc ứng suất kéo) từ dòng chảy bên ngoài phải vượt qua áp suất nội tại Laplace $\\Delta P$. Giọt càng nhỏ thì áp suất Laplace chống lại sự biến dạng càng lớn, đòi hỏi năng lượng phân tán càng cao.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại Hệ Nhũ tương và Quy tắc Cân bằng Ưa Nước - Ưa Dầu (HLB)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hệ nhũ tương được phân loại dựa trên cấu trúc hình học của các pha và bản chất của chất hoạt động bề mặt:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Các dạng hình học phân tán\u003C\u002Fh3>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhũ tương Dầu trong Nước (O\u002FW - Oil-in-Water):\u003C\u002Fstrong> Các giọt dầu phân tán trong pha liên tục là nước (ví dụ: sữa tươi, kem tươi, sốt mayonnaise).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhũ tương Nước trong Dầu (W\u002FO - Water-in-Oil):\u003C\u002Fstrong> Các giọt nước phân tán trong pha liên tục là dầu (ví dụ: bơ động vật, margarine, kem chống nẻ).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhũ tương kép đa tầng (Multiple Emulsions):\u003C\u002Fstrong> Hệ phức hợp như Nước trong Dầu trong Nước (W\u002FO\u002FW) hoặc Dầu trong Nước trong Dầu (O\u002FW\u002FO), được ứng dụng rộng rãi để bao gói hoạt chất giải phóng có kiểm soát.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>2. Quy tắc Bancroft và Chỉ số HLB (Hydrophilic-Lipophilic Balance)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Chỉ số HLB là thang đo bán định lượng mức độ ưa nước hay ưa dầu của phân tử chất hoạt động bề mặt:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Chất nhũ hóa có HLB từ 3 đến 6 có tính ưa dầu chiếm ưu thế, ưu tiên tạo thành hệ nhũ tương Nước trong Dầu (W\u002FO) như các ester sorbitan (Span).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Chất nhũ hóa có HLB từ 8 đến 16 có tính ưa nước cao theo Dickinson (2009), hòa tan tốt trong nước và ưu tiên tạo thành hệ nhũ tương Dầu trong Nước (O\u002FW) như polysorbate (Tween) hoặc muối natri lauryl sulfate.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Cơ chế Ổn định Hệ Nhũ tương: Tĩnh điện, Lực cản Không gian và Hạt Pickering\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Độ bền động học lâu dài của nhũ tương phụ thuộc vào các rào cản năng lượng ngăn ngừa các giọt va chạm và kết dính lại với nhau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Ổn định Tĩnh điện (Electrostatic Stabilization - Thuyết DLVO)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Chất nhũ hóa mang điện tích (ion âm hoặc ion dương) tạo ra lớp điện kép xung quanh bề mặt giọt. Khi hai giọt tiến lại gần nhau, lực đẩy tĩnh điện giữa các lớp điện tích cùng dấu ngăn cản chúng hợp nhất. Độ lớn của thế điện động Zeta (Zeta Potential) trên bề mặt giọt là thước đo độ bền tĩnh điện: thế Zeta có độ lớn tuyệt đối cao tạo lực đẩy tĩnh điện mạnh mẽ ngăn chặn kết tụ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Ổn định Lực cản Không gian và Màng Viscoelastic theo Dickinson (2009)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Các đại phân tử sinh học (protein sữa, hydrocolloid, polysaccharide) hấp phụ lên bề mặt giọt tạo thành một lớp vỏ dày có tính đàn hồi nhớt cao (viscoelastic interfacial layer). Khi các giọt tiếp cận nhau, sự nén ép của các chuỗi polyme ưa nước tạo ra lực đẩy không gian (steric repulsion) mạnh mẽ, đồng thời làm tăng độ nhớt của pha liên tục để cản trở sự chuyển động va chạm của giọt theo Dickinson (2009).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>3. Nhũ tương Pickering và Rào cản Hạt Rắn theo Binks (2002)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo tổng quan của Binks (2002) trên Current Opinion in Colloid &amp; Interface Science, các hạt nano rắn (như nano silica, tinh thể nano cellulose CNC, hạt tinh bột biến tính) có góc tiếp xúc thấm ướt thích hợp sẽ tự định vị tại mặt phân cách lỏng-lỏng. Năng lượng gắn kết của hạt rắn tại liên diện cực lớn (gấp hàng ngàn lần năng lượng nhiệt $kT$), tạo thành một áo giáp cơ học kiên cố ngăn chặn tuyệt đối hiện tượng hòa nhập giọt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bảng đối chiếu các Dạng Hệ Nhũ tương Chính\u003C\u002Fh2>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Loại hệ phân tán\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kích thước hạt\u002Fgiọt\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Độ ổn định nhiệt động học\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Độ ổn định động học\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Đặc điểm quang học\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Nhũ tương thông thường (Macroemulsions)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lớn hơn 1 micromet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không bền nhiệt động ($\\Delta G &gt; 0$)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kém đến trung bình, dễ tách lớp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đục trắng sữa hoàn toàn, tán xạ ánh sáng mạnh\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Nhũ tương Nano (Nanoemulsions)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>20 đến 200 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không bền nhiệt động ($\\Delta G &gt; 0$) theo McClements (2012)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất cao, bền vững trong nhiều tháng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Trong mờ hoặc hơi đục nhẹ do kích thước giọt nhỏ hơn bước sóng ánh sáng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Nhũ tương Vi mô (Microemulsions)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>5 đến 50 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bền nhiệt động tuyệt đối ($\\Delta G &lt; 0$) theo McClements (2012)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bền vô hạn trong điều kiện cân bằng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hoàn toàn trong suốt, tán xạ ánh sáng tối thiểu\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>\u003Cstrong>Nhũ tương Pickering\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vài trăm nanomet đến micromet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không bền nhiệt động học\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Rất cao nhờ rào cản cơ học hạt rắn theo Binks (2002)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đục trắng hoặc phụ thuộc tính chất quang học của hạt\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Các Hiện tượng Bất ổn định và Động học Phân rã theo Tadros (2004)\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Theo tổng quan hệ thống của Tadros và cộng sự (2004) trên Advances in Colloid and Interface Science, một hệ nhũ tương có thể trải qua các con đường phân rã cấu trúc sau:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Động học Nổi kem và Lắng tụ theo Định luật Stokes\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Vận tốc di chuyển của giọt phân tán dưới trường trọng lực được mô tả qua định luật Stokes:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>$$v_{\\text{Stokes}} = \\frac{2 r^2 (\\rho_p - \\rho_f) g}{9 \\eta}$$\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó $r$ là bán kính giọt, $\\rho_p$ và $\\rho_f$ lần lượt là khối lượng riêng của pha phân tán và pha liên tục, $g$ là gia tốc trọng trường và $\\eta$ là độ nhớt động lực học của pha liên tục. Để giảm thiểu tốc độ nổi kem, công nghệ nhũ hóa hiện đại tập trung vào 3 giải pháp: thu nhỏ bán kính giọt $r$ xuống thang nano, bổ sung hydrocolloid để tăng độ nhớt $\\eta$ theo Dickinson (2009), và điều chỉnh tỷ trọng giữa hai pha.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>2. Hiện tượng Kết tụ (Flocculation) và Hợp giọt (Coalescence)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kết tụ (Flocculation):\u003C\u002Fstrong> Các giọt phân tán tụ tập lại thành từng cụm đám nhưng vẫn giữ nguyên màng liên diện riêng biệt của từng giọt, chưa hòa làm một.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hợp giọt (Coalescence):\u003C\u002Fstrong> Sự vỡ màng liên diện khi các giọt tiếp xúc trực tiếp, hợp nhất nhiều giọt nhỏ thành một giọt lớn hơn, dẫn đến sự tách pha hoàn toàn.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>3. Hiện tượng Chín Ostwald (Ostwald Ripening) theo Lý thuyết LSW\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Do sự chênh lệch áp suất Laplace, các giọt có kích thước nhỏ có độ tan cục bộ cao hơn, làm cho chất lỏng trong giọt nhỏ khuếch tán qua pha liên tục và bồi đắp vào các giọt có kích thước lớn hơn, khiến kích thước giọt trung bình tăng dần theo thời gian. Tốc độ chín Ostwald được mô tả qua phương trình Lifshitz-Slyozov-Wagner (LSW):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>$$\\omega = \\frac{d\\bar{r}^3}{dt} = \\frac{8 \\gamma D C_\\infty V_m}{9 R_g T}$$\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó $\\bar{r}$ là bán kính trung bình của giọt, $D$ là hệ số khuếch tán, $C_\\infty$ là độ tan của chất phân tán, và $V_m$ là thể tích mol. Để ức chế chín Ostwald, các nhà khoa học thường bổ sung một lượng nhỏ lipid không tan (ripening inhibitor) vào pha dầu để tạo áp suất thẩm thấu ngược chống lại sự khuếch tán.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phương pháp Chế tạo và Ứng dụng Công nghiệp của Hệ Nhũ tương\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Quá trình tạo nhũ tương trong công nghiệp được thực hiện qua hai hướng tiếp cận chính theo Tadros và cộng sự (2004):\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp năng lượng cao (High-Energy Methods):\u003C\u002Fstrong> Sử dụng thiết bị đồng hóa áp suất cao (High-Pressure Homogenizer), máy nghiền keo (Colloid Mill) hoặc máy siêu âm công suất lớn (Ultrasonicator) để truyền năng lượng cơ học khổng lồ bẻ gãy các giọt chất lỏng thành kích thước nano.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp năng lượng thấp (Low-Energy Methods):\u003C\u002Fstrong> Lợi dụng sự biến đổi tính chất nhiệt động học của hệ thông qua phương pháp đảo pha nhiệt độ (Phase Inversion Temperature - PIT) hoặc đảo pha thành phần (Phase Inversion Composition - PIC).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Ứng dụng đa ngành:\u003C\u002Fstrong> Nhũ hóa là công nghệ then chốt trong chế biến thực phẩm (bảo quản vitamin ưa béo A, D, E, K trong đồ uống), mỹ phẩm (kem dưỡng ẩm thâm nhập sâu vào biểu bì da), dược phẩm (hệ tự nhũ hóa dẫn truyền thuốc SEDDS\u002FSMEDDS nhằm tăng cường sinh khả dụng cho các hoạt chất khó tan) và công nghệ xử lý dầu mỏ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>","emulsification","Nhũ hóa (emulsification) là quá trình phân tán một chất lỏng vào trong một chất lỏng khác không đồng tan dưới dạng các giọt phân tán siêu nhỏ nhờ năng lượng cơ học và sự hỗ trợ của chất nhũ hóa (chất hoạt động bề mặt), tạo thành một hệ phân tán dị thể gọi là nhũ tương (emulsion).","NATURAL_SCIENCES",[21,29,37,45],{"citationText":22,"title":23,"authors":24,"source":25,"year":26,"doi":27,"url":28},"McClements, D. J. (2012). Nanoemulsions versus microemulsions: terminology, differences, and similarities. Soft Matter, 8(9), 2586-2597.","Nanoemulsions versus microemulsions: terminology, differences, and similarities","McClements","Soft Matter",2012,"10.1039\u002Fc2sm06903b","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1039\u002Fc2sm06903b",{"citationText":30,"title":31,"authors":32,"source":33,"year":34,"doi":35,"url":36},"Dickinson, E. (2009). Hydrocolloids as emulsifiers and emulsion stabilizers. Food Hydrocolloids, 23(6), 1473-1482.","Hydrocolloids as emulsifiers and emulsion stabilizers","Dickinson","Food Hydrocolloids",2009,"10.1016\u002Fj.foodhyd.2008.08.005","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.foodhyd.2008.08.005",{"citationText":38,"title":39,"authors":40,"source":41,"year":42,"doi":43,"url":44},"Binks, B. P. (2002). Particles as surfactants—similarities and differences. Current Opinion in Colloid & Interface Science, 7(1-2), 21-41.","Particles as surfactants—similarities and differences","Binks","Current Opinion in Colloid & Interface Science",2002,"10.1016\u002Fs1359-0294(02)00008-0","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fs1359-0294(02)00008-0",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":52},"Tadros, T., Izquierdo, P., Esquena, J., & Solans, C. (2004). Formation and stability of nano-emulsions. Advances in Colloid and Interface Science, 108, 303-318.","Formation and stability of nano-emulsions","Tadros, Izquierdo, Esquena, Solans","Advances in Colloid and Interface Science",2004,"10.1016\u002Fj.cis.2003.10.023","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.cis.2003.10.023",[54,57,60],{"question":55,"answer":56},"Sự khác nhau căn bản giữa Nhũ tương Nano (Nanoemulsion) và Nhũ tương Vi mô (Microemulsion) là gì?","Theo tổng quan của McClements (2012) trên Soft Matter, nhũ tương vi mô là hệ cân bằng nhiệt động học (thermodynamically stable), kích thước giọt nhỏ từ 5 đến 50 nanomet, hình thành hoàn toàn tự phát khi trộn các cấu phần với tỷ lệ chất hoạt động bề mặt cao. Ngược lại, nhũ tương nano (kích thước giọt từ 20 đến 200 nanomet) là hệ không bền nhiệt động học (thermodynamically unstable), đòi hỏi năng lượng cơ học lớn để phá vỡ giọt nhưng có độ bền động học (kinetic stability) rất cao, không bị tách lớp trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.",{"question":58,"answer":59},"Nhũ tương Pickering (Pickering Emulsion) ổn định bằng cơ chế nào?","Theo nghiên cứu của Binks (2002) trên Current Opinion in Colloid & Interface Science, nhũ tương Pickering không sử dụng chất hoạt động bề mặt phân tử nhỏ truyền thống mà được ổn định bởi các hạt nano hoặc vi hạt rắn không tan. Các hạt rắn này bị giữ chặt không thuận nghịch tại bề mặt phân chia hai pha lỏng với năng lượng giải hấp phụ lớn gấp hàng ngàn lần năng lượng nhiệt, tạo nên một lớp vỏ cơ học vững chắc ngăn ngừa hoàn toàn hiện tượng hợp giọt.",{"question":61,"answer":62},"Quy tắc Bancroft xác định loại nhũ tương (Dầu trong Nước hay Nước trong Dầu) như thế nào?","Quy tắc kinh điển Bancroft quy định rằng pha mà chất nhũ hóa hòa tan tốt hơn sẽ trở thành pha liên tục (pha ngoại). Nếu chất hoạt động bề mặt có tính ưa nước cao (chỉ số HLB từ 8 đến 16), hệ sẽ hình thành nhũ tương Dầu trong Nước (O\u002FW); ngược lại nếu chất hoạt động bề mặt ưa dầu (chỉ số HLB thấp từ 3 đến 6), hệ sẽ tạo thành nhũ tương Nước trong Dầu (W\u002FO).",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":64,"researcherId":10,"name":65,"imageUrl":66},[13],false,"PUBLISHED","2025-07-27T04:34:16.376+00:00","2026-08-23T06:43:47.881+00:00","2025-07-27T04:43:03.392+00:00",293,[76,79,82,85,93,98,103,108,113,118],{"id":77,"title":78,"term":77,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"surfactant","Surfactant là gì? Các công bố khoa học về Surfactant",{"id":80,"title":81,"term":80,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhũ tương","Nhũ tương là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":83,"title":84,"term":83,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"triacylglycerol","Triacylglycerol là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":86,"title":87,"term":86,"englishTitle":86,"definition":88,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":94,"title":95,"term":94,"englishTitle":96,"definition":97,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"nhiệt độ nóng chảy","Nhiệt độ nóng chảy là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","nhiet do nong chay","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":101,"definition":102,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"hằng số tốc độ","Hằng số tốc độ là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","rate constant","Hằng số tốc độ (Reaction Rate Constant, ký hiệu k) là một hệ số tỷ lệ đặc trưng trong phương trình động học biểu thị tốc độ của phản ứng hóa học khi nồng độ của tất cả các chất phản ứng bằng đơn vị.",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":106,"definition":107,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"động vật linh trưởng","Động vật linh trưởng là gì? Tiến hóa Perelman, giải phẫu Fleagle và Estrada","primates","Động vật linh trưởng là một bộ thú có vú bậc cao đặc trưng bởi bàn tay ngón cái đối diện, thị giác lập thể 3D và vỏ não phát triển, tiến hóa qua các nhánh Mũi ướt và Mũi khô theo nghiên cứu Perelman-Fleagle.",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":111,"definition":112,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"đồng vị","Đồng vị là gì? Phân loại và ứng dụng trong khoa học hiện đại","isotope","Đồng vị là các biến thể của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số proton trong hạt nhân nhưng khác nhau về số neutron, dẫn đến khối lượng nguyên tử khác nhau.",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":116,"definition":117,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"chu trình sinh địa hóa","Chu trình sinh địa hóa: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Biogeochemical cycle","Chu trình sinh địa hóa là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực natural sciences, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":119,"title":120,"term":119,"englishTitle":121,"definition":122,"discipline":19,"disciplineCode":89,"disciplineLabel":90,"disciplineColor":91,"disciplineIcon":92},"ethylene","Ethylene là gì? Cấu trúc hóa học, vai trò sinh học và ứng dụng","Ethylene","Ethylene (ethene, công thức hóa học C2H4) là một hydrocarbon không no thuộc nhóm anken đơn giản nhất, tồn tại ở thể khí không màu, đồng thời là một phytohormone dạng khí điều hòa sự chín và rụng ở thực vật."]