[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_n%E1%BA%A5m%20x%E1%BB%91p%20g%C3%A2y%20n%C3%B4n{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_nấm xốp gây nôn":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":60,"createUser":70,"publishUser":74,"keywords":75,"keywordCount":86,"enrichTopicLink":87,"status":88,"createTime":89,"updateTime":90,"publishTime":91,"linkEnrichedTime":92,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":93,"relateTopics":94},"nấm xốp gây nôn","Nấm xốp gây nôn là gì? Đặc điểm và độc tính","Nấm xốp gây nôn (Russula emetica) là loài nấm độc tán có vị cay nồng dữ dội, gây hội chứng kích ứng dạ dày ruột cấp tính khởi phát sớm sau khi ăn.","\u003Cp>Nấm xốp gây nôn (danh pháp khoa học: \u003Cem>Russula emetica\u003C\u002Fem> (Schaeff.) Pers.) là một loài nấm độc tán thuộc chi \u003Cem>Russula\u003C\u002Fem> (họ Russulaceae, bộ Russulales), đặc trưng bởi mũ nấm màu đỏ tươi đến đỏ thắm, thịt nấm giòn xốp có vị cay nồng dữ dội và chứa các sesquiterpenoid gây hội chứng kích ứng dạ dày ruột cấp tính ở người. Loài nấm này được biết đến rộng rãi trong phân loại nấm học và độc chất học lâm sàng với vai trò là đại diện điển hình cho nhóm ngộ độc nấm đường tiêu hóa khởi phát sớm. Bài viết trình bày chi tiết về vị trí phân loại, đặc điểm hình thái vi thể và đại thể, thành phần hóa học của độc tố, cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán phân biệt lâm sàng và biện pháp xử trí hỗ trợ khi ngộ độc.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Loài nấm này được nhà tự nhiên học Jacob Christian Schaeffer mô tả lần đầu dưới danh pháp \u003Cem>Agaricus emeticus\u003C\u002Fem>, sau đó nhà nghiên cứu nấm học Christiaan Hendrik Persoon chuyển sang chi \u003Cem>Russula\u003C\u002Fem>. Tên định danh loài \u003Cem>emetica\u003C\u002Fem> bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ mang nghĩa gây nôn mửa, phản ánh trực tiếp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C3%A1c%20%C4%91%E1%BB%99ng%20sinh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} nổi bật nhất khi con người vô tình ăn phải thể quả nấm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong hệ sinh thái tự nhiên, nấm xốp gây nôn thiết lập mối quan hệ cộng sinh rễ nấm ngoại sinh (ectomycorrhiza) chặt chẽ với các loài thực vật. Mạng lưới hệ sợi nấm bao bọc đầu rễ của cây chủ, hỗ trợ cây hấp thu nước cùng các khoáng chất vi lượng từ đất nghèo dinh dưỡng, đồng thời nhận lại các hợp chất carbohydrate từ quá trình quang hợp của thực vật. Nấm thường xuất hiện đơn độc hoặc thành từng nhóm nhỏ rải rác trên nền thảm mục hữu cơ ẩm ướt, đặc biệt phổ biến xung quanh các đám rêu than bùn thuộc chi \u003Cem>Sphagnum\u003C\u002Fem> dưới tán rừng thông và rừng hỗn giao.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc điểm hình thái nhận diện\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hình thái đại thể của thể quả mang nhiều dấu hiệu điển hình của chi \u003Cem>Russula\u003C\u002Fem> kết hợp với những nét riêng biệt:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Mũ nấm:\u003C\u002Fstrong> Theo khảo sát hình thái học của Montag (2023), mũ nấm có đường kính dao động từ 2,5 cm đến 8,5 cm. Ban đầu mũ có dạng hình bán cầu lồi, khi trưởng thành mở rộng dần thành dạng phẳng và ở giai đoạn già thường hơi lõm nhẹ ở tâm. Biểu bì mũ nấm có sắc tố đỏ tươi, đỏ thắm hoặc đỏ anh đào rất bắt mắt. Bề mặt biểu bì phủ một lớp chất nhầy bóng dính khi độ ẩm môi trường cao, trở nên mờ nhẵn khi thời tiết khô ráo. Điểm đáng lưu ý là lớp biểu bì này rất dẻo và dễ bóc tách bằng tay từ rìa mép vào tới gần tâm mũ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phiến nấm:\u003C\u002Fstrong> Mặt dưới mũ mang các phiến nấm xếp đều đặn, màu trắng tinh khiết hoặc màu kem nhạt khi già. Các phiến nấm có thể đính sát vào đầu cuống hoặc hoàn toàn tự do. Cấu trúc phiến rất giòn, dễ gãy vụn khi dùng ngón tay ấn nhẹ hoặc khi va chạm cơ học. Lớp sinh bào tử giải phóng bột bào tử màu trắng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Cuống nấm:\u003C\u002Fstrong> Theo khảo sát của Montag (2023), cuống nấm có chiều dài từ 3 cm đến 7 cm và đường kính từ 1 cm đến 2 cm. Cuống có dạng hình trụ tròn đều hoặc hơi phình nhẹ ở gốc, màu trắng tinh khiết, bề mặt nhẵn hoặc có rãnh dọc rất mờ. Đặc tính quan trọng trong định danh thực địa là cuống hoàn toàn không có vòng cuống (annulus) và gốc cuống không có bao gốc (volva). Bên trong cuống xốp, khi bẻ ngang tạo vết gãy phẳng giòn như phấn viết bảng thay vì xơ sợi dai như nấm thuộc các bộ khác.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thịt nấm:\u003C\u002Fstrong> Thịt nấm màu trắng toàn bộ, không đổi màu khi bị cắt rạch hay tiếp xúc với không khí. Cấu trúc thịt giòn xốp đặc thù là hệ quả của mô liên kết chứa các cụm tế bào hình cầu (sphaerocyst) phân bố xen lẫn giữa các sợi nấm mảnh, làm mất đi tính liên kết sợi dài. Thịt nấm tươi tỏa mùi thơm trái cây nhẹ nhưng khi nếm thử một mẩu nhỏ trên đầu lưỡi sẽ cảm nhận vị cay nồng bỏng rát xuất hiện nhanh chóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Thành phần hóa học và cơ chế gây độc\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trước đây, một số tài liệu sơ khai từng giả định độc tính của loài nấm này xuất phát từ hợp chất alkaloid muscarine. Tuy nhiên, các phân tích hóa thực vật hiện đại đã bác bỏ hoàn toàn giả thuyết đó, khẳng định hàm lượng muscarine trong nấm hoàn toàn không đáng kể hoặc không hiện diện.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo công trình nghiên cứu của Kobata và cộng sự công bố năm 1995, các nhà khoa học đã phân lập được 1 hợp chất sesquiterpenoid khung lactarane mới cùng 3 hợp chất sesquiterpenoid đã biết từ phân đoạn trung tính của dịch chiết thể quả nấm. Trong độc chất học và sinh hóa học nấm, hoạt chất độc đơn lẻ thực sự gây kích ứng đường tiêu hóa ở loài nấm này hiện vẫn chưa được xác định chắc chắn. Y văn khoa học giả định rằng độc tính đường tiêu hóa bắt nguồn từ các hợp chất sesquiterpenoid có tính kích ứng niêm mạc mạnh mẽ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi nhai hoặc cắn phải nấm tươi, các sesquiterpenoid tự do tác động trực tiếp lên đầu mút thần kinh cảm giác vị giác trên niêm mạc lưỡi, tạo ra cảm giác cay nồng buốt rát gay gắt. Khi đi xuống đường tiêu hóa, các phân tử này gây kích ứng mạnh mẽ lớp màng nhầy và biểu mô bề mặt của dạ dày và biểu mô ruột non. Sự kích ứng hóa học dẫn đến phản xạ co thắt cơ trơn dạ dày dữ dội, thúc đẩy phản xạ nôn mửa cấp tính. Song song đó, tình trạng tăng tiết dịch thể và rối loạn hấp thu nước ở lòng ruột làm gia tăng mạnh mẽ nhu động ruột, dẫn tới các cơn đau quặn bụng và tình trạng tiêu chảy cấp tính.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Biểu hiện lâm sàng và độc động học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Ngộ độc nấm xốp gây nôn nằm trong phân nhóm hội chứng kích ứng dạ dày ruột cấp tính khởi phát sớm. Theo tổng quan y học của Diaz công bố năm 2005, thời gian ủ bệnh của hội chứng ngộ độc này diễn ra rất nhanh chóng, các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tri%E1%BB%87u%20ch%E1%BB%A9ng%20l%C3%A2m%20s%C3%A0ng%22%7D}} điển hình bắt đầu xuất hiện trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 3 giờ sau khi ăn nấm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn khởi phát:\u003C\u002Fstrong> Bệnh nhân xuất hiện cảm giác cồn cào, khó chịu vùng thượng vị, buồn nôn liên tục và bắt đầu nôn mửa dữ dội. Chất nôn ban đầu là thức ăn chưa tiêu hóa, tiếp theo là dịch dạ dày lẫn dịch mật.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn toàn phát:\u003C\u002Fstrong> Xuất hiện những cơn đau quặn bụng từng cơn dọc theo khung đại tràng, kèm theo tiêu chảy nhiều lần với phân lỏng toàn nước. Tình trạng nôn và tiêu chảy liên tục có thể dẫn đến mất nước nội mạch, hạ huyết áp tư thế, chuột rút cơ bắp do rối loạn thăng bằng điện giải và cảm giác mệt mỏi suy kiệt.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Giai đoạn thoái lui:\u003C\u002Fstrong> Độc tố sesquiterpenoid của nấm không hấp thu sâu vào hệ tuần hoàn toàn thân và nhanh chóng bị bất hoạt hoặc đào thải qua đường phân và chất nôn. Nhờ đó, bệnh cảnh không tiến triển thành hoại tử tế bào gan, suy thận nội tại hay tan máu. Theo phân tích của Diaz năm 2005, khi được {{topic|%7B%22topic%22%3A%22can%20thi%E1%BB%87p%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}} hỗ trợ và bù hoàn dịch kịp thời, các triệu chứng lâm sàng thường thuyên giảm rõ rệt và tự hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 đến 48 giờ mà không để lại di chứng mạn tính.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Nghiên cứu dịch tễ học của Schenk-Jaeger và cộng sự năm 2012 về hoàn cảnh phơi nhiễm nấm độc ghi nhận rằng các triệu chứng rối loạn đường tiêu hóa là {{topic|%7B%22topic%22%3A%22bi%E1%BB%83u%20hi%E1%BB%87n%20l%C3%A2m%20s%C3%A0ng%22%7D}} phổ biến nhất được ghi nhận ở các ca cấp cứu ngộ độc nấm. Việc nhận biết đúng tính chất tự giới hạn của nhóm ngộ độc kích ứng đường tiêu hóa sớm giúp đội ngũ bác sĩ lâm sàng tránh được các chỉ định can thiệp xâm lấn không cần thiết.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chẩn đoán phân biệt lâm sàng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nguyên tắc sống còn trong cấp cứu ngộ độc nấm là phải {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A9n%20%C4%91o%C3%A1n%20ph%C3%A2n%20bi%E1%BB%87t%22%7D}} kịp thời giữa nấm gây {{topic|%7B%22topic%22%3A%22r%E1%BB%91i%20lo%E1%BA%A1n%20ti%C3%AAu%20h%C3%B3a%22%7D}} đơn thuần và các loài nấm chứa độc tố toàn thân cực độc. Đáng lo ngại nhất là việc nhầm lẫn với các loài nấm tán chứa amatoxin thuộc chi \u003Cem>Amanita\u003C\u002Fem> hoặc nhầm lẫn với các loài nấm cùng chi có độc tính hủy hoại cơ thể.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Đặc điểm so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nấm xốp gây nôn (\u003Cem>Russula emetica\u003C\u002Fem>)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nấm tử thần (\u003Cem>Amanita phalloides\u003C\u002Fem>)\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Nấm xốp đen (\u003Cem>Russula subnigricans\u003C\u002Fem>)\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Bản chất độc tố\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sesquiterpenoid khung lactarane\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Amatoxin (octapeptide vòng)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Độc tố gây tiêu cơ vân (russuphelin và dẫn xuất)\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Thời gian ủ bệnh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ngắn, từ 30 phút đến 3 giờ sau ăn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kéo dài, từ 6 giờ đến 24 giờ sau ăn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thường từ 30 phút đến 2 giờ sau ăn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vòng cuống và bao gốc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hoàn toàn không có cả hai cấu trúc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Có vòng cuống và có bao gốc ở củ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không có vòng cuống và không có bao gốc\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cấu trúc thịt nấm\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giòn xốp như phấn bẻ gãy\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dạng sợi xơ liên kết chặt\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Giòn xốp, thịt hóa đỏ rồi chuyển đen khi cắt rách\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Cơ quan tổn thương chính\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Niêm mạc dạ dày và ruột cục bộ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hoại tử tế bào gan cấp và suy thận\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tiêu cơ vân cấp tính, suy thận và ngừng tim\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tiên lượng diễn tiến\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lành tính, tự hồi phục sau 24 đến 48 giờ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tử vong cao do suy gan cấp tối cấp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nguy kịch, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BB%B7%20l%E1%BB%87%20t%E1%BB%AD%20vong%22%7D}} cao do {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%E1%BB%95n%20th%C6%B0%C6%A1ng%20c%C6%A1%20tim%22%7D}}\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Cp>Theo báo cáo y khoa của Lin và cộng sự công bố năm 2015, loài nấm cùng chi là \u003Cem>Russula subnigricans\u003C\u002Fem> có thể khởi phát triệu chứng buồn nôn và nôn mửa ban đầu trong khoảng 30 phút đến 2 giờ rất giống với ngộ độc nấm xốp thông thường. Tuy nhiên, sau đó độc chất của \u003Cem>Russula subnigricans\u003C\u002Fem> nhanh chóng gây hội chứng tiêu cơ vân cấp tính làm tăng vọt nồng độ creatine kinase huyết thanh, dẫn tới suy thận cấp do tắc nghẽn ống thận bởi myoglobin và gây trụy tuần hoàn đe dọa trực tiếp tính mạng. Do đó, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nh%C3%A2n%20vi%C3%AAn%20y%20t%E1%BA%BF%22%7D}} cần theo dõi sát sao các chỉ số hóa sinh máu của bệnh nhân để loại trừ nguy cơ tiêu cơ vân hoặc tổn thương gan mật ẩn giấu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Biện pháp xử trí y tế và dự phòng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Tính đến năm 2025, chưa có thuốc giải độc đặc hiệu đối với độc tố kích ứng đường tiêu hóa của nấm xốp gây nôn. Mục tiêu điều trị căn bản bao gồm ngăn chặn hấp thu bổ sung, kiểm soát triệu chứng khó chịu và bù dịch tuần hoàn:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Xử trí ban đầu tại hiện trường:\u003C\u002Fstrong> Ngay khi phát hiện ngộ độc, người bệnh cần ngừng ăn toàn bộ các món nấm. Nếu bệnh nhân còn tỉnh táo hoàn toàn và chưa nôn nhiều, có thể kích thích nôn nhẹ nhàng bằng đường cơ học trong giờ đầu tiên. Thu gom toàn bộ phần nấm còn sót lại hoặc chất nôn vào túi chứa sạch để cung cấp cho cơ quan chuyên môn định danh loài. Nhanh chóng đưa nạn nhân đến trạm y tế hoặc bệnh viện gần nhất.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Can thiệp tại cơ sở y tế:\u003C\u002Fstrong> Tiến hành đánh giá mức độ mất nước và tình trạng thăng bằng kiềm toan qua xét nghiệm điện giải đồ. Liệu pháp then chốt là bù nước và điện giải đường uống bằng dung dịch oresol nếu bệnh nhân uống được, hoặc thiết lập đường truyền tĩnh mạch dung dịch đẳng trương (như natri clorid đẳng trương hoặc Ringer lactat) khi bệnh nhân nôn mửa liên tục. Thuốc chống nôn có thể được cân nhắc thận trọng sau khi đã đào thải phần lớn thức ăn chứa nấm trong dạ dày. Chống chỉ định sử dụng các thuốc ức chế nhu động ruột (như loperamide) vì việc làm liệt nhu động ruột sẽ ứ đọng độc tố trong lòng ống tiêu hóa, làm tăng nguy cơ tổn thương niêm mạc ruột kéo dài.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Khác với độc tố amatoxin cực độc và bền nhiệt ở nấm tử thần, các sesquiterpenoid gây cay rát ở chi \u003Cem>Russula\u003C\u002Fem> tan trong nước và kém bền nhiệt hơn. Mặc dù trong lịch sử ẩm thực dân gian ở một số vùng Đông Âu từng có tập quán luộc sôi gạn bỏ nước hoặc ngâm muối để giảm bớt vị cay nồng trước khi ăn, giới chuyên môn độc chất học và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22an%20to%C3%A0n%20th%E1%BB%B1c%20ph%E1%BA%A9m%22%7D}} khuyến cáo tuyệt đối không áp dụng các phương pháp chế biến dân gian này đối với nấm hoang dã. Việc thu hái nấm tự nhiên luôn tiềm ẩn nguy cơ nhầm lẫn nghiêm trọng với các loài nấm cực độc khác, và nguyên tắc an toàn cao nhất là tuyệt đối không thu hái hoặc ăn bất kỳ loài nấm hoang dã nào có màu sắc sặc sỡ hoặc có vị cay nồng khi nếm thử.\u003C\u002Fp>\n","Nấm xốp gây nôn","Russula emetica",[20,21],"nấm nôn","nấm xốp đỏ gây nôn","Nấm xốp gây nôn (Russula emetica) là một loài nấm độc tán thuộc chi Russula, đặc trưng bởi mũ nấm màu đỏ tươi, thịt nấm giòn xốp có vị cay nồng dữ dội và chứa các sesquiterpenoid gây ngộ độc đường tiêu hóa cấp tính.","NATURAL_SCIENCES",[25,32,39,46,53],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":10},"Diaz, J. H. (2005). Syndromic diagnosis and management of confirmed mushroom poisonings. Critical Care Medicine, 33(2), 427-436.","Syndromic diagnosis and management of confirmed mushroom poisonings","Diaz, J. H.","Critical Care Medicine",2005,"10.1097\u002F01.ccm.0000153531.69448.49",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":36,"year":37,"doi":38,"url":10},"Kobata, K., Kano, S., & Shibata, H. (1995). New Lactarane Sesquiterpenoid from the Fungus Russula emetica. Bioscience, Biotechnology, and Biochemistry, 59(2), 316-318.","New Lactarane Sesquiterpenoid from the Fungus Russula emetica","Kobata, K., Kano, S., Shibata, H.","Bioscience, Biotechnology, and Biochemistry",1995,"10.1271\u002Fbbb.59.316",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":43,"year":44,"doi":45,"url":10},"Schenk-Jaeger, K. M., Rauber-Lüthy, C., Bodmer, M., Kupferschmidt, H., Kullak-Ublick, G. A., & Ceschi, A. (2012). Mushroom poisoning: A study on circumstances of exposure and patterns of toxicity. European Journal of Internal Medicine, 23(4), e85-e91.","Mushroom poisoning: A study on circumstances of exposure and patterns of toxicity","Schenk-Jaeger, K. M., Rauber-Lüthy, C., Bodmer, M., Kupferschmidt, H., Kullak-Ublick, G. A., Ceschi, A.","European Journal of Internal Medicine",2012,"10.1016\u002Fj.ejim.2012.03.014",{"citationText":47,"title":48,"authors":49,"source":50,"year":51,"doi":52,"url":10},"Lin, S., Mu, M., Yang, F., & Yang, C. (2015). Russula subnigricans Poisoning: From Gastrointestinal Symptoms to Rhabdomyolysis. Wilderness & Environmental Medicine, 26(3), 380-383.","Russula subnigricans Poisoning: From Gastrointestinal Symptoms to Rhabdomyolysis","Lin, S., Mu, M., Yang, F., Yang, C.","Wilderness & Environmental Medicine",2015,"10.1016\u002Fj.wem.2015.03.027",{"citationText":54,"title":55,"authors":56,"source":57,"year":58,"doi":59,"url":10},"Montag, A. (2023). Speitäubling, Kirschroter (Russula emetica). Pflanzen und Haut, 913-915.","Speitäubling, Kirschroter (Russula emetica)","Montag, A.","Pflanzen und Haut",2023,"10.1007\u002F978-3-662-63014-3_162",[61,64,67],{"question":62,"answer":63},"Nấm xốp gây nôn có gây chết người không?","Nấm xốp gây nôn (Russula emetica) hiếm khi gây tử vong trực tiếp ở người trưởng thành khỏe mạnh vì độc tố sesquiterpenoid chủ yếu gây kích ứng niêm mạc tiêu hóa cục bộ mà không phá hủy tế bào gan thận. Tuy nhiên tình trạng nôn mửa và tiêu chảy dữ dội có thể gây mất nước nguy hiểm nếu không bù dịch kịp thời.",{"question":65,"answer":66},"Triệu chứng ngộ độc nấm xốp gây nôn xuất hiện sau bao lâu?","Thời gian ủ bệnh của ngộ độc nấm xốp gây nôn diễn ra rất nhanh, thông thường các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa dữ dội, đau quặn bụng và tiêu chảy bắt đầu xuất hiện trong khoảng 30 phút đến 3 giờ sau khi ăn.",{"question":68,"answer":69},"Cách phân biệt nấm xốp gây nôn với các loài nấm độc nguy hiểm khác?","Nấm xốp gây nôn có mũ màu đỏ tươi, thịt giòn xốp như phấn, hoàn toàn không có vòng cuống và không có bao gốc. Ngược lại nấm tử thần (Amanita phalloides) chứa độc tố phá hủy gan amatoxin có vòng cuống và bao gốc rõ rệt.",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},[76,77,78,79,80,81,82,83,84,85],"tác động sinh học","triệu chứng lâm sàng","can thiệp y tế","biểu hiện lâm sàng","chẩn đoán phân biệt","rối loạn tiêu hóa","tỷ lệ tử vong","tổn thương cơ tim","nhân viên y tế","an toàn thực phẩm",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:44.009+00:00","2026-09-13T21:09:23.246+00:00","2026-09-13T20:19:12.524+00:00","2026-09-13T21:09:22.791+00:00",0,[95,98,101,104,107,110,113,116,119,122],{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình bệnh tật","Mô hình bệnh tật là gì? Các nghiên cứu về Mô hình bệnh tật",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"đánh giá kinh tế y tế","Đánh giá kinh tế y tế là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"whoqol bref","WHOQOL-BREF là gì? Các nghiên cứu khoa học về WHOQOL-BREF",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nano bạc","Nano bạc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về Nano bạc",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"flavourzyme","Flavourzyme là gì? Các nghiên cứu khoa học về Flavourzyme",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu in vivo","Nghiên cứu in vivo là gì? Các nghiên cứu khoa học ",{"id":114,"title":115,"term":114,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"fusarium","Fusarium là gì? Các nghiên cứu khoa học về Fusarium",{"id":117,"title":118,"term":117,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"aidet","Aidet là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"transcriptome","Transcriptome là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuyển giao gen","Chuyển giao gen là gì? Các nghiên cứu về Chuyển giao gen"]