[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_năng lượng liên kết":41},{"code":4,"data":5,"meta":21},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":39,"vietnamLatest":40},[],[8,25],{"publicationId":9,"title":10,"originalTitle":11,"authorNames":12,"authorCount":16,"journalName":17,"vietnamJournal":18,"publishDate":19,"publishYear":20,"totalCitation":21,"url":22,"doi":23,"summary":24},"8a02d3b7-129a-440f-a8a5-df3509cafff8","Ảnh hưởng của phonon và plasma electron-lỗ trống đối với năng lượng liên kết của exciton trong các giếng lượng tử GaN\u002FInxGa1−xN kiểu wurtzite","Phonon and electron-hole plasma effects on binding energies of excitons in wurtzite GaN\u002FInxGa1−xN quantum wells",[13,14,15],"J. Zhu","S. L. Ban","S. H. Ha",3,"The European Physical Journal B",false,"2012-02-13",2012,null,"https:\u002F\u002Flink.springer.com\u002Farticle\u002F10.1140\u002Fepjb\u002Fe2012-20887-6","10.1140\u002Fepjb\u002Fe2012-20887-6","\u003Cp>Vật lý chất rắn tính toán sự suy giảm \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">năng lượng liên kết\u003C\u002Fb> của exciton dưới tác động chắn hạt tải của plasma electron-lỗ trống trong các giếng lượng tử GaN\u002FInGaN cấu trúc wurtzite. Phương pháp biến phân tự phối kết hợp tương tác phonon bề mặt và phonon quang khối làm sáng tỏ quy luật dịch chuyển phổ quang học theo nhiệt độ. Kết quả tính toán cung cấp thông số chính xác về \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">năng lượng liên kết\u003C\u002Fb> quang điện tử màng mỏng bán dẫn.\u003C\u002Fp>",{"publicationId":26,"title":27,"originalTitle":28,"authorNames":29,"authorCount":16,"journalName":33,"vietnamJournal":18,"publishDate":34,"publishYear":35,"totalCitation":21,"url":36,"doi":37,"summary":38},"303b2212-50b0-43e0-97fe-9177b397e249","Sự phụ thuộc của điện trường vào tạp chất cho trong các dây lượng tử GaAs phân loại","The electric field dependence of a donor impurity in graded GaAs quantum wires",[30,31,32],"E. Kasapoglu","H. Sari","I. Sökmen","Applied Physics A Solids and Surfaces","2004-04-01",2004,"https:\u002F\u002Flink.springer.com\u002Farticle\u002F10.1007\u002Fs00339-003-2161-1","10.1007\u002Fs00339-003-2161-1","\u003Cp>Vật lý bán dẫn nano khảo sát sự phụ thuộc của điện trường ngoài lên \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">năng lượng liên kết\u003C\u002Fb> trạng thái cơ bản của tạp chất cho nông trong dây lượng tử GaAs phân cấp thành phần. Phương pháp số giải phương trình Schrödinger mô tả độ giam giữ không gian của hàm sóng điện tử dưới các mức phân cực điện áp khác nhau. Phát hiện chỉ ra cơ chế điều khiển vị trí tạp chất làm biến đổi có hệ thống \u003Cb class=\"publication-topic-keywords\">năng lượng liên kết\u003C\u002Fb> linh kiện điện tử nano.\u003C\u002Fp>",[],[],{"code":4,"data":42,"meta":21},{"id":43,"title":44,"description":45,"content":46,"term":43,"englishTitle":21,"synonyms":21,"definition":21,"discipline":21,"references":21,"faqs":21,"createUser":47,"publishUser":51,"keywords":52,"keywordCount":53,"enrichTopicLink":18,"status":54,"createTime":55,"updateTime":56,"publishTime":57,"linkEnrichedTime":21,"publicationScanTime":58,"contentErrorMessage":21,"viewCount":59,"relateTopics":60},"năng lượng liên kết","Năng lượng liên kết là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học","Năng lượng liên kết là năng lượng cần thiết để tách các thành phần trong phân tử hoặc hạt nhân thành các đơn vị riêng biệt, tồn tại độc lập. Trong hóa học, nó phản ánh độ bền của liên kết giữa các nguyên tử, còn trong vật lý hạt nhân, nó cho thấy sự ổn định của hạt nhân nguyên tử. ","\u003Cdiv>\u003Ch2>Khái niệm năng lượng liên kết\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nNăng lượng liên kết (binding energy) là đại lượng vật lý biểu thị lượng năng lượng cần thiết để tách các thành phần trong một hệ ra khỏi nhau. Trong hóa học, nó thường dùng để chỉ năng lượng cần thiết để phá vỡ một liên kết giữa hai nguyên tử trong một phân tử khí. Trong vật lý hạt nhân, năng lượng liên kết là năng lượng cần để phá vỡ một hạt nhân nguyên tử thành các proton và neutron tự do.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nVề bản chất, năng lượng liên kết phản ánh sự ổn định của một hệ. Nếu một hệ tồn tại ổn định thì nghĩa là có năng lượng liên kết âm (tức là cần cung cấp năng lượng từ bên ngoài để phá vỡ hệ đó). Đây là một khái niệm nền tảng trong nhiều lĩnh vực từ hóa học, vật lý cho tới thiên văn học.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nCó thể phân loại năng lượng liên kết thành:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết hóa học (giữa các nguyên tử)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết ion (giữa các ion trái dấu trong mạng tinh thể)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết hạt nhân (giữa các nucleon – proton và neutron – trong hạt nhân nguyên tử)\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân biệt năng lượng liên kết hóa học và hạt nhân\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nMặc dù cùng mang tên “năng lượng liên kết”, song năng lượng liên kết hóa học và năng lượng liên kết hạt nhân khác nhau rõ rệt cả về bản chất lẫn cường độ tương tác. Trong khi năng lượng liên kết hóa học xuất phát từ lực hút tĩnh điện giữa electron và hạt nhân (lực điện từ), thì năng lượng liên kết hạt nhân lại đến từ lực tương tác mạnh – một trong bốn lực cơ bản của tự nhiên – mạnh hơn lực điện từ hàng triệu lần.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nMức độ năng lượng liên kết cũng khác biệt đáng kể:\n\u003C\u002Fp>\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Loại liên kết\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Năng lượng liên kết điển hình\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đơn vị\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Liên kết hóa học\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>100 – 500\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>kJ\u002Fmol\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Liên kết hạt nhân\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>6 – 10\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>MeV\u002Fnucleon\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nVí dụ, liên kết C–H có năng lượng khoảng 412 kJ\u002Fmol, trong khi năng lượng liên kết hạt nhân của hạt nhân sắt-56 (Fe-56) – loại hạt nhân bền nhất – là khoảng 8.8 MeV\u002Fnucleon. Vì 1 MeV = 96.485 kJ\u002Fmol, có thể thấy năng lượng liên kết hạt nhân cao hơn hàng triệu lần.\n\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Cách tính năng lượng liên kết trong phân tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nNăng lượng liên kết trong phân tử thường được tính trung bình từ năng lượng cần để phá vỡ hoàn toàn các liên kết trong 1 mol phân tử thành các nguyên tử riêng lẻ ở trạng thái khí. Đây là giá trị trung bình, vì trong các phân tử đa nguyên tử, liên kết cùng loại có thể có năng lượng khác nhau tùy vào môi trường điện tử xung quanh.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nĐơn vị thường dùng là kJ\u002Fmol. Công thức khái quát:\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\nE_{\\text{liên kết trung bình}} = \\frac{\\text{Tổng năng lượng cần để phá vỡ các liên kết trong phân tử khí}}{\\text{Số liên kết}}\n\u003C\u002Fscript>\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nVí dụ:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết H–H: ~436 kJ\u002Fmol\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết O–H: ~463 kJ\u002Fmol\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Năng lượng liên kết C=O (trong CO₂): ~799 kJ\u002Fmol\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\nCác giá trị này có thể được tra cứu từ dữ liệu thực nghiệm hoặc phân tích nhiệt động học.\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Năng lượng liên kết hạt nhân\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nTrong vật lý hạt nhân, năng lượng liên kết được xác định bằng cách so sánh tổng khối lượng của các proton và neutron tự do với khối lượng hạt nhân thực tế. Chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là thiếu khối (\u003Ci>mass defect\u003C\u002Fi>), và có thể chuyển đổi thành năng lượng thông qua phương trình nổi tiếng của Einstein:\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\nE = \\Delta m c^2\n\u003C\u002Fscript>\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nTrong đó:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta m\u003C\u002Fscript>: chênh lệch khối lượng (kg)\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>c: vận tốc ánh sáng trong chân không (~3 × 10⁸ m\u002Fs)\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\nKết quả sẽ cho năng lượng liên kết toàn phần của hạt nhân. Để so sánh giữa các hạt nhân khác nhau, ta thường dùng năng lượng liên kết trung bình trên mỗi nucleon:\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\n\\bar{E} = \\frac{E_{\\text{liên kết}}}{A}\n\u003C\u002Fscript>\nTrong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">A\u003C\u002Fscript> là số khối (tổng số nucleon).\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nMột số giá trị tiêu biểu:\n\u003C\u002Fp>\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Nguyên tử\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Số khối (A)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Năng lượng liên kết trung bình (MeV\u002Fnucleon)\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Helium-4\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>4\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>7.1\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Iron-56\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>56\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>8.8\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Uranium-235\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>235\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>7.6\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\nNguồn dữ liệu: \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.nndc.bnl.gov\u002Fmasses\u002F\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">NNDC Mass Tables\u003C\u002Fa>.\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Ch2>Vai trò của năng lượng liên kết trong phản ứng hạt nhân\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nNăng lượng liên kết là yếu tố cốt lõi giải thích vì sao các phản ứng hạt nhân như phân hạch (fission) và nhiệt hạch (fusion) lại giải phóng năng lượng lớn đến như vậy. Trong phân hạch, một hạt nhân nặng như uranium-235 hoặc plutonium-239 bị tách ra thành các hạt nhân nhẹ hơn, đồng thời một phần năng lượng liên kết của hệ được giải phóng.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nỞ chiều ngược lại, trong phản ứng nhiệt hạch, các hạt nhân nhẹ như deuterium (²H) và tritium (³H) kết hợp thành hạt nhân nặng hơn như helium-4. Do hạt nhân helium-4 có năng lượng liên kết trên mỗi nucleon cao hơn, nên phần chênh lệch được giải phóng dưới dạng năng lượng.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nMột cách trực quan, có thể hình dung quá trình như sau:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Phân hạch: Hạt nhân ban đầu có năng lượng liên kết trung bình thấp hơn → sau khi phân tách thành các hạt nhân nhỏ hơn có liên kết trung bình cao hơn → năng lượng chênh lệch được giải phóng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Nhiệt hạch: Hạt nhân nhỏ hợp nhất thành hạt nhân lớn hơn có mức liên kết trung bình cao hơn → phần năng lượng chênh lệch được giải phóng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nBiểu đồ sau đây thể hiện năng lượng liên kết trung bình theo số khối:\n\u003C\u002Fp>\u003Ctable border=\"1\" cellpadding=\"6\" cellspacing=\"0\">\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Số khối (A)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Năng lượng liên kết trung bình (MeV\u002Fnucleon)\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>1–4\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>~1–7\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>56 (Fe)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>~8.8\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>&gt;200 (U, Th)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>~7.5\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\nĐiểm cực đại tại Fe-56 lý giải vì sao các phản ứng hạt nhân đều hướng đến trạng thái ổn định quanh số khối này.\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Năng lượng liên kết và độ bền của phân tử\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nTrong hóa học, năng lượng liên kết là một chỉ số đáng tin cậy để đánh giá độ bền nhiệt động học của một phân tử. Các liên kết có năng lượng cao thường đòi hỏi nhiều năng lượng để bị phá vỡ, do đó, các phân tử chứa những liên kết này có xu hướng ổn định hơn và khó bị phân hủy ở điều kiện bình thường.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nVí dụ:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Liên kết C–F trong hợp chất hữu cơ fluor: rất bền, năng lượng liên kết ~485 kJ\u002Fmol\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Liên kết C–I: yếu hơn nhiều, năng lượng chỉ ~238 kJ\u002Fmol\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\nSự khác biệt này khiến các hợp chất fluorocarbon (như teflon) rất khó bị phân hủy sinh học, trong khi các hợp chất chứa iod lại dễ phản ứng và phân hủy nhanh.\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nĐiều này đặc biệt quan trọng trong:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Thiết kế thuốc: ổn định phân tử trong môi trường cơ thể\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Vật liệu cao phân tử: kiểm soát độ bền nhiệt và cơ học\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Hóa học môi trường: dự đoán khả năng tồn tại hoặc phân rã của chất ô nhiễm\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ảnh hưởng của năng lượng liên kết đến phản ứng hóa học\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nNăng lượng liên kết đóng vai trò trung tâm trong việc xác định enthalpy của phản ứng hóa học. Quá trình phản ứng có thể xem như sự phá vỡ các liên kết ở chất phản ứng và hình thành các liên kết mới ở sản phẩm. Tổng năng lượng cần để phá vỡ liên kết trừ đi tổng năng lượng thu được từ liên kết hình thành chính là enthalpy phản ứng (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta H\u003C\u002Fscript>).\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\n\\Delta H \\approx \\sum E_{\\text{liên kết bị phá vỡ}} - \\sum E_{\\text{liên kết hình thành}}\n\u003C\u002Fscript>\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nỨng dụng công thức trên, ta có thể dự đoán sơ bộ tính tỏa nhiệt hoặc thu nhiệt của phản ứng. Ví dụ:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>Phản ứng đốt cháy CH₄: tỏa nhiệt mạnh, vì liên kết O=O và C–H bị phá vỡ có tổng năng lượng nhỏ hơn các liên kết CO₂ và H₂O được tạo ra.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Phản ứng phân ly N₂: rất khó xảy ra ở điều kiện thường, vì liên kết ba N≡N có năng lượng rất cao (~945 kJ\u002Fmol).\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nSự hiểu biết về năng lượng liên kết giúp định hướng trong tổng hợp hữu cơ, chọn xúc tác và thiết kế đường phản ứng hợp lý.\n\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Liên hệ với lý thuyết MO và VB\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nLý thuyết orbital phân tử (MO) và lý thuyết liên kết hóa trị (VB) cung cấp các mô hình để lý giải tại sao năng lượng liên kết lại có giá trị như vậy ở cấp độ lượng tử. Trong lý thuyết MO, liên kết được hình thành do sự xen phủ các orbital nguyên tử tạo thành orbital phân tử. Năng lượng liên kết phụ thuộc vào số lượng electron nằm trong orbital liên kết (bonding) và phản liên kết (antibonding).\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nChỉ số năng lượng liên kết theo lý thuyết MO được tính như sau:\n\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\nB = \\frac{n_b - n_a}{2}\n\u003C\u002Fscript>\nTrong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_b\u003C\u002Fscript> là số electron ở orbital liên kết và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">n_a\u003C\u002Fscript> là số electron ở orbital phản liên kết. Giá trị B càng lớn thì liên kết càng mạnh và năng lượng liên kết càng cao.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nTrong khi đó, lý thuyết VB mô tả liên kết như sự xen phủ cục bộ giữa các orbital nguyên tử. Cường độ liên kết phụ thuộc vào mức độ xen phủ và sự lai hóa orbital (s, p, d). Cả hai lý thuyết đều dự đoán chính xác xu hướng năng lượng liên kết trong nhiều trường hợp.\n\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Ứng dụng thực tế\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>\nNăng lượng liên kết không chỉ là một khái niệm lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn to lớn trong nhiều ngành công nghiệp và nghiên cứu. Trong năng lượng, việc khai thác phản ứng hạt nhân dựa hoàn toàn vào hiểu biết về năng lượng liên kết để tối ưu hiệu suất và kiểm soát an toàn.\n\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\nMột số ứng dụng nổi bật:\n\u003C\u002Fp>\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Năng lượng hạt nhân:\u003C\u002Fstrong> thiết kế lò phản ứng phân hạch hoặc nhiệt hạch dựa trên dữ liệu năng lượng liên kết của các hạt nhân như U-235, Pu-239 hoặc D–T\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Vật liệu siêu bền:\u003C\u002Fstrong> chế tạo hợp chất có liên kết bền như ceramic, composite cho ngành hàng không – vũ trụ\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Công nghệ sạch:\u003C\u002Fstrong> phát triển công nghệ nhiệt hạch tại \u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.iter.org\u002F\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">ITER\u003C\u002Fa>, nơi mục tiêu là mô phỏng phản ứng nhiệt hạch như trên Mặt Trời\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Thiết kế phân tử:\u003C\u002Fstrong> dùng năng lượng liên kết để tạo ra thuốc ổn định hoặc phân tử có hoạt tính sinh học cao\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Cp>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Tài liệu tham khảo\u003C\u002Fh2>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>Atkins, P., &amp; de Paula, J. (2014). \u003Ci>Physical Chemistry\u003C\u002Fi> (10th ed.). Oxford University Press.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Moeller, T., et al. (2010). \u003Ci>Inorganic Chemistry\u003C\u002Fi>. Elsevier.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Krane, K. S. (1987). \u003Ci>Introductory Nuclear Physics\u003C\u002Fi>. Wiley.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Chivers, T. (2005). \u003Ci>A Guide to Modern Inorganic Chemistry\u003C\u002Fi>. Springer.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.nndc.bnl.gov\u002F\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">National Nuclear Data Center (NNDC)\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fwww.iter.org\u002F\" target=\"_blank\" rel=\"noopener\">ITER – International Thermonuclear Experimental Reactor\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Levine, I. N. (2013). \u003Ci>Quantum Chemistry\u003C\u002Fi> (7th ed.). Pearson.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Housecroft, C. E., &amp; Sharpe, A. G. (2018). \u003Ci>Inorganic Chemistry\u003C\u002Fi> (5th ed.). Pearson.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003C\u002Fdiv>",{"id":48,"researcherId":21,"name":49,"imageUrl":50},2681,"Cuong Ta","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocKFuWh0ZD601Hp0_V_2xAK3kIOs20Kyv3V5ZLBo6fwfjyymJYzE=s96-c",{"id":48,"researcherId":21,"name":49,"imageUrl":50},[43],1,"PUBLISHED","2025-09-18T09:05:09.209+00:00","2026-09-03T09:15:50.800+00:00","2025-11-03T06:54:15.335+00:00","2026-09-03T09:15:50.798+00:00",492,[61,70,75,78,83,88,91,96,99,102],{"id":62,"title":63,"term":62,"englishTitle":62,"definition":64,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"proton","Proton là gì? Cấu trúc và ứng dụng của Proton","Proton là một hạt hạ nguyên tử bền vững thuộc nhóm baryon cấu tạo từ hai quark lên và một quark xuống, mang điện tích nguyên tố dương và có khối lượng nghỉ xấp xỉ 1.6726 x 10^-27 kg nằm trong hạt nhân nguyên tử.","NATURAL_SCIENCES","natural-sciences","Khoa học tự nhiên","#0E9F9C","atom",{"id":71,"title":72,"term":71,"englishTitle":73,"definition":74,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"hạt nhân nhẹ","Hạt nhân nhẹ là gì? Cấu trúc, tính chất lượng tử và phản ứng nhiệt hạch","light nucleus","Hạt nhân nhẹ là các hạt nhân nguyên tử có số khối nhỏ (thông thường A ≤ 20), bao gồm các đồng vị của hydro, heli, liti, beri, bo và cacbon, đóng vai trò then chốt trong phản ứng tổng hợp nhiệt hạch sao và tổng hợp nguyên tố nguyên thủy Big Bang.",{"id":76,"title":77,"term":76,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"phản ứng hạt nhân","Phản ứng hạt nhân là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":79,"title":80,"term":79,"englishTitle":81,"definition":82,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"lý thuyết hàm mật độ","Lý thuyết hàm mật độ là gì? Các nghiên cứu khoa học","Density Functional Theory","Lý thuyết hàm mật độ (DFT) là phương pháp tính toán cơ học lượng tử dùng để khảo sát cấu trúc điện tử của các hệ nhiều hạt (nguyên tử, phân tử và pha ngưng tụ), dựa trên nguyên lý biểu diễn năng lượng trạng thái cơ bản của hệ như một phiếm hàm của mật độ electron thay vì hàm sóng nhiều electron.",{"id":84,"title":85,"term":84,"englishTitle":86,"definition":87,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"liên kết hydro","Liên kết hydro là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Hydrogen bond","Liên kết hydro (Hydrogen bond) là lực hút liên phân tử hoặc nội phân tử có tính định hướng giữa một nguyên tử hydro liên kết cộng hóa trị với một nguyên tử có độ âm điện lớn (như F, O, N) và một nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử giàu electron lân cận.",{"id":89,"title":90,"term":89,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"nucleon","Nucleon là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":92,"title":93,"term":92,"englishTitle":94,"definition":95,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"liên kết hóa học","Liên kết hóa học là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","chemical bond","Liên kết hóa học (chemical bond) là lực hút tĩnh điện hoặc tương tác chia sẻ electron giữa các nguyên tử, ion hoặc phân tử nhằm tạo thành các cấu trúc phân tử, tinh thể bền vững có mức năng lượng thấp hơn.",{"id":97,"title":98,"term":97,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"năng lượng","Năng lượng là gì? Các công bố khoa học về Năng lượng",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":21,"definition":21,"discipline":21,"disciplineCode":21,"disciplineLabel":21,"disciplineColor":21,"disciplineIcon":21},"luciferase","Luciferase là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":103,"title":104,"term":103,"englishTitle":105,"definition":106,"discipline":65,"disciplineCode":66,"disciplineLabel":67,"disciplineColor":68,"disciplineIcon":69},"cấu trúc vô định hình","Cấu trúc vô định hình là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan","Amorphous structure \u002F Non-crystalline solid","Cấu trúc vô định hình là trạng thái cấu trúc của chất rắn trong đó các nguyên tử hoặc phân tử không sắp xếp theo trật tự tuần hoàn tầm xa như trong mạng tinh thể, mà chỉ duy trì trật tự tầm gần."]