[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_ma%20s%C3%A1t%20n%E1%BB%99i%20t%E1%BA%A1i{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_ma sát nội tại":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":80,"createUser":93,"publishUser":97,"keywords":101,"keywordCount":98,"enrichTopicLink":102,"status":103,"createTime":104,"updateTime":105,"publishTime":106,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":107,"relateTopics":108},"ma sát nội tại","Ma sát nội tại là gì? Cơ chế và ứng dụng kỹ thuật","Ma sát nội tại là thước đo tiêu tán năng lượng cơ học trong chất rắn và sức kháng cắt của đất đá, đóng vai trò then chốt trong giảm chấn và địa kỹ thuật.","\u003Cp>Ma sát nội tại là hiện tượng tiêu tán năng lượng cơ học thành nhiệt lượng hoặc lực cản chống lại sự dịch chuyển tương đối giữa các phần tử vi mô bên trong cùng một môi trường vật chất khi chịu tác động của ngoại lực hoặc biến dạng cơ học. Thuật ngữ này giữ vai trò nền tảng trong hai nhánh khoa học kỹ thuật lớn: trong vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, ma sát nội tại đại diện cho tính chất không đàn hồi hoàn toàn (anelasticity) và khả năng hấp thụ rung động của vật liệu; trong khi ở cơ học đất đá và kỹ thuật địa kỹ thuật, ma sát nội tại biểu thị sức kháng cắt phát sinh do sự tiếp xúc trượt và cài răng lược giữa các hạt khoáng vật cấu thành đất đá.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch2>Bản chất vật lý và cơ chế trong khoa học vật liệu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong cơ học vật rắn và luyện kim vật lý, ma sát nội tại (tiếng Anh: internal friction, thường được ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Q^{-1}\u003C\u002Fscript> hoặc \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tan \\delta\u003C\u002Fscript>) phản ánh mức độ bất thuận nghịch nhiệt động lực học trong quá trình biến dạng đàn hồi giả. Theo Nowick và Berry (1972), khi một vật thể rắn chịu ứng suất xoay chiều chu kỳ vô cùng bé, biến dạng thực tế không lập tức đạt trạng thái cân bằng tức thời mà có độ trễ pha so với ứng suất kích thích. Sự lệch pha góc \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\delta\u003C\u002Fscript> này dẫn tới việc một phần cơ năng bị chuyển hóa vĩnh viễn thành nội nhiệt sau mỗi chu kỳ dao động.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Độ lớn của ma sát nội tại được định lượng thông qua tỉ số giữa phần năng lượng cơ học tiêu tán \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta E\u003C\u002Fscript> trong một chu kỳ dao động kín và tổng cơ năng biến dạng cực đại \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E\u003C\u002Fscript> tích lũy trong mẫu vật:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">Q^{-1} = \\tan \\delta = \\frac{\\Delta E}{2\\pi E}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong biểu thức trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Q^{-1}\u003C\u002Fscript> là nghịch đảo của hệ số phẩm chất dao động, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\delta\u003C\u002Fscript> là góc trễ pha giữa ten-sơ ứng suất và ten-sơ biến dạng, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta E\u003C\u002Fscript> là năng lượng cơ học bị tổn thất trên một chu kỳ, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">E\u003C\u002Fscript> là mật độ năng lượng biến dạng đàn hồi cực đại.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch3>Mô hình thư giãn chuẩn và đỉnh Debye\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Xét một quá trình hồi phục anelastic đơn lẻ với thời gian hồi phục đặc trưng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tau\u003C\u002Fscript>, phổ ma sát nội tại phụ thuộc vào tần số góc dao động \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\omega\u003C\u002Fscript> được mô tả bằng hàm đỉnh Debye:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">Q^{-1}(\\omega) = \\Delta \\frac{\\omega \\tau}{1 + \\omega^2 \\tau^2}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong phương trình này, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta\u003C\u002Fscript> biểu diễn cường độ hồi phục (relaxation strength), đại diện cho mức độ suy giảm của mô-đun đàn hồi giữa trạng thái không hồi phục và trạng thái hồi phục hoàn toàn; \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\omega\u003C\u002Fscript> là tần số góc dao động (\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\omega = 2\\pi f\u003C\u002Fscript>); và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tau\u003C\u002Fscript> là thời gian hồi phục anelastic. Giá trị ma sát nội tại đạt cực đại \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Q^{-1}_{\\max} = \\frac{\\Delta}{2}\u003C\u002Fscript> khi điều kiện cộng hưởng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\omega \\tau = 1\u003C\u002Fscript> được thỏa mãn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thời gian hồi phục của các quá trình kích hoạt nhiệt tuân theo định luật Arrhenius:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\tau = \\tau_0 \\exp\\left(\\frac{H}{k_B T}\\right)\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tau_0\u003C\u002Fscript> là thừa số thời gian trước hàm mũ (chu kỳ dao động nhiệt nguyên tử cơ bản), \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">H\u003C\u002Fscript> là năng lượng hoạt hóa của quá trình vi mô tương ứng, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">k_B\u003C\u002Fscript> là hằng số Boltzmann, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">T\u003C\u002Fscript> là nhiệt độ nhiệt động học tuyệt đối tính bằng Kelvin.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch3>Các cơ chế vi mô chính gây tiêu tán năng lượng trong tinh thể\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Các nghiên cứu chuyên sâu được tổng kết bởi Blanter và cộng sự (2007) đã phân lập các nguồn gốc vi mô căn bản sinh ra ma sát nội tại trong mạng tinh thể kim loại và hợp kim:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiệu ứng Snoek (Snoek relaxation):\u003C\u002Fstrong> Xảy ra trong các kim loại có mạng tinh thể lập phương tâm khối (BCC) như sắt alpha khi có mặt các nguyên tử xen kẽ tạp chất (carbon hoặc nitơ). Dưới tác dụng của ứng suất đơn trục ngoài, các vị trí bát diện bất đối xứng trong mạng bị biến dạng, thúc đẩy các nguyên tử xen kẽ khuếch tán nhảy bậc có hướng giữa các vị trí liền kề để giảm thiểu năng lượng tự do, sinh ra đỉnh tiêu tán cơ năng phụ thuộc mạnh vào hàm lượng dung dịch rắn xen kẽ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiệu ứng Zener (Zener relaxation):\u003C\u002Fstrong> Bắt nguồn từ sự tái định hướng có trật tự định hướng cục bộ của các cặp nguyên tử thay thế trong hợp kim dung dịch rắn khi chịu ứng suất tác động theo thời gian.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiêu tán do lệch mạng (Dislocation damping):\u003C\u002Fstrong> Theo mô hình dây rung của Granato và Lücke (1956), các đoạn lệch mạng bị ghim giữ bởi các khuyết tật điểm sẽ rung động và tiêu hao cơ năng trong trường ứng suất dao động. Khi biên độ biến dạng tăng vượt ngưỡng tới hạn, các đoạn lệch mạng bứt khỏi điểm ghim (hiện tượng unpinning), gây ra sự tiêu tán phi tuyến phụ thuộc mạnh vào biên độ dao động.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thư giãn ranh giới hạt (Grain boundary relaxation):\u003C\u002Fstrong> Vào năm 1947, nhà vật lý Kê Tịnh Khang đã sử dụng thiết bị con lắc xoắn trên mẫu nhôm đa tinh thể có độ tinh khiết 99,991% và phát hiện đỉnh ma sát nội tại xuất hiện ở nhiệt độ khoảng 290 độ C. Hiện tượng này chứng minh rằng ranh giới giữa các hạt tinh thể thể hiện hành vi trượt nhớt ở nhiệt độ cao.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiêu tán nhiệt đàn hồi (Thermoelastic damping):\u003C\u002Fstrong> Hiện tượng truyền nhiệt bất thuận nghịch giữa các miền chịu nén cục bộ (tăng nhiệt độ) và miền chịu kéo cục bộ (hạ nhiệt độ) trong kết cấu dầm hoặc thanh dao động uốn.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Ch2>Bản chất cơ học và ứng dụng trong địa kỹ thuật và cơ học đất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong cơ học môi trường rời, cơ học đất và cơ học đá, ma sát nội tại được hiểu là sức kháng trượt tiếp tuyến phát sinh tại các mặt tiếp xúc giữa các hạt khoáng vật rắn khi khối đất đá bị biến dạng trượt cắt. Đại lượng đặc trưng cho tính chất này là góc ma sát trong, thường được ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi\u003C\u002Fscript> (hoặc \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'\u003C\u002Fscript> khi xét theo ứng suất hiệu quả).\u003C\u002Fp>\n\u003Ch3>Mô hình phá hoại Mohr-Coulomb và nguyên lý ứng suất hiệu quả\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Theo định luật phá hoại Mohr-Coulomb cổ điển, sức kháng cắt giới hạn trên một mặt phẳng trượt bất kỳ trong khối vật liệu được biểu diễn qua phương trình:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\tau_f = c + \\sigma_n \\tan \\phi\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong phương trình trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tau_f\u003C\u002Fscript> là cường độ sức kháng cắt giới hạn tại thời điểm phá hoại (tính bằng kPa hoặc MPa), \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c\u003C\u002Fscript> là lực dính đơn vị của đất, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma_n\u003C\u002Fscript> là ứng suất pháp tổng tác dụng vuông góc lên mặt trượt, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi\u003C\u002Fscript> là góc ma sát trong của đất đá.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Khi xét đến sự hiện diện của nước trong các lỗ rỗng của đất, Terzaghi đã thiết lập nguyên lý ứng suất hiệu quả, đưa phương trình sức kháng cắt về dạng ứng suất hữu hiệu:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\tau_f = c' + \\sigma'_n \\tan \\phi' = c' + (\\sigma_n - u) \\tan \\phi'\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong đó \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c'\u003C\u002Fscript> là lực dính hiệu quả, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma'_n\u003C\u002Fscript> là ứng suất pháp hiệu quả truyền qua bộ khung hạt khoáng vật, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">u\u003C\u002Fscript> là áp lực nước lỗ rỗng thủy tĩnh và thủy động, và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'\u003C\u002Fscript> là góc ma sát trong hiệu quả.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch3>Cơ chế ma sát trượt và hiệu ứng giãn nở hạt\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Góc ma sát trong của vật liệu hạt không thuần túy là ma sát tiếp xúc trượt bề mặt (interparticle friction angle) mà còn bao gồm thành phần kháng trượt cơ học do sự cài răng lược và xu hướng giãn nở thể tích khi trượt. Nghiên cứu của Bolton (1986) về độ bền và tính giãn nở của cát đã làm sáng tỏ mối quan hệ định lượng giữa góc ma sát trong đỉnh \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'_p\u003C\u002Fscript>, góc ma sát trong ở trạng thái tới hạn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'_{cv}\u003C\u002Fscript> và chỉ số giãn nở tương đối \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">I_R\u003C\u002Fscript>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\phi'_p - \\phi'_{cv} = 3 I_R \\quad \\text{(trong điều kiện thí nghiệm nén ba trục)}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">\\phi'_p - \\phi'_{cv} = 5 I_R \\quad \\text{(trong điều kiện biến dạng phẳng)}\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong các công thức trên, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'_p\u003C\u002Fscript> là góc ma sát trong lớn nhất đo được tại thời điểm mẫu đất đạt cường độ cắt cực đại, \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi'_{cv}\u003C\u002Fscript> là góc ma sát trong khi đất đạt trạng thái biến dạng trượt liên tục ở thể tích không đổi theo lý thuyết trạng thái tới hạn của Roscoe và cộng sự (1958), và \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">I_R\u003C\u002Fscript> là chỉ số giãn nở tương đối phụ thuộc vào độ chặt tương đối và mức ứng suất hữu hiệu trung bình.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch2>So sánh ma sát nội tại giữa hai lĩnh vực chuyên ngành\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Bảng dưới đây tổng hợp các điểm tương đồng và khác biệt căn bản của khái niệm ma sát nội tại khi áp dụng trong khoa học vật liệu so với cơ học địa kỹ thuật:\u003C\u002Fp>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Tiêu chí so sánh\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Khoa học vật liệu và Vật lý chất rắn\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Địa kỹ thuật và Cơ học đất đá\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Bản chất hiện tượng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sự tiêu tán cơ năng thành nhiệt do tính chất bất thuận nghịch vi mô trong biến dạng đàn hồi chu kỳ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sức kháng cắt tiếp tuyến giữa các bề mặt tiếp xúc hạt chống lại biến dạng trượt vĩnh viễn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Đại lượng định lượng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Nghịch đảo hệ số phẩm chất \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">Q^{-1}\u003C\u002Fscript>, góc lệch pha \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\delta\u003C\u002Fscript>, cường độ hồi phục \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\Delta\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Góc ma sát trong \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\phi\u003C\u002Fscript> (độ), hệ số ma sát trong \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\tan \\phi\u003C\u002Fscript>, lực dính \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">c\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Miền biến dạng khảo sát\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Biến dạng đàn hồi vi mô biên độ nhỏ từ \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">10^{-7}\u003C\u002Fscript> đến \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">10^{-4}\u003C\u002Fscript>, không phá hủy mẫu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Biến dạng trượt dẻo lớn dẫn tới trượt cắt bề mặt và phá hoại cấu trúc liên kết\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Yếu tố chi phối chính\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Mật độ lệch mạng, nguyên tử xen kẽ\u002Fthay thế, ranh giới hạt, nhiệt độ, tần số dao động\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hình dạng hạt, cấp phối hạt, độ chặt tương đối, độ ẩm, áp lực nước lỗ rỗng\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Mục đích ứng dụng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thiết kế hợp kim giảm chấn cao hoặc vật liệu cộng hưởng có độ suy hao siêu thấp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tính toán ổn định mái dốc, sức chịu tải nền móng, áp lực đất lên tường chắn\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\u003Ch2>Phương pháp thí nghiệm và tiêu chuẩn đo lường\u003C\u002Fh2>\n\u003Ch3>Đo lường ma sát nội tại trong vật liệu rắn\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Để khảo sát phổ ma sát nội tại và các đỉnh hồi phục nhiệt cơ học, các nhà nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật thí nghiệm chuyên dụng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Con lắc xoắn Kê (Kê torsion pendulum):\u003C\u002Fstrong> Thiết bị đo dao động xoắn tự do ở dải tần số thấp từ 0,1 Hz đến 10 Hz tại các khoảng nhiệt độ biến đổi từ nhiệt độ âm sâu đến gần nhiệt độ nóng chảy của vật liệu theo mô tả của Nowick và Berry (1972).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phân tích cơ học động lực (Dynamic Mechanical Analysis, DMA):\u003C\u002Fstrong> Đo lường phản ứng nhớt đàn hồi của polymer và vật liệu composite dưới tải trọng uốn hoặc kéo nén chu kỳ có kiểm soát tần số và nhiệt độ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phương pháp cộng hưởng siêu âm (Resonant Ultrasound Spectroscopy, RUS):\u003C\u002Fstrong> Xác định ma sát nội tại ở dải tần số cao thông qua đo bề rộng vạch cộng hưởng dao động của mẫu thử.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Ch3>Thí nghiệm xác định góc ma sát trong địa kỹ thuật\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong địa kỹ thuật và cơ học đất, góc ma sát trong và sức kháng cắt được xác định thông qua các quy trình thí nghiệm chuẩn hóa quốc tế:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thí nghiệm cắt phẳng trực tiếp (Direct Shear Test):\u003C\u002Fstrong> Theo tiêu chuẩn ASTM D3080\u002FD3080M-11 (2011), thí nghiệm được thực hiện trên mẫu đất đặt trong hộp cắt hai nửa chịu các cấp áp lực nén pháp tuyến khác nhau ở điều kiện cố kết thoát nước để xác định góc ma sát trong và lực dính hiệu quả.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Thí nghiệm nén ba trục (Triaxial Compression Test):\u003C\u002Fstrong> Thí nghiệm trên mẫu đất hình trụ bọc màng cao su chịu áp lực buồng đẳng hướng và ứng suất lệch trục tăng dần ở các điều kiện không cố kết - không thoát nước (UU), cố kết - không thoát nước (CU có đo áp lực nước lỗ rỗng) hoặc cố kết - thoát nước (CD).\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Ch2>Ứng dụng kỹ thuật thực tiễn và các giới hạn phân tích\u003C\u002Fh2>\n\u003Ch3>Ứng dụng thực tế\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong thực tiễn kỹ thuật hiện đại, các giá trị ma sát nội tại đóng vai trò quyết định trong việc tối ưu hóa thiết kế kết cấu và độ bền công trình:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Chế tạo hợp kim giảm chấn cao (High Damping Alloys):\u003C\u002Fstrong> Ứng dụng các cơ chế ma sát nội tại do chuyển pha martensite hoặc chuyển động lệch mạng để chế tạo vật liệu hấp thụ chấn động trong cánh tuabin, vỏ động cơ và khung bệ máy công cụ nhằm giảm thiểu tiếng ồn và mỏi cơ học.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phân tích ổn định công trình địa kỹ thuật:\u003C\u002Fstrong> Góc ma sát trong là thông số đầu vào bắt buộc trong các mô hình số phân tích phần tử hữu hạn nhằm tính toán hệ số an toàn cho đập đất đá, mái dốc taluy đường giao thông, hố đào sâu trong đô thị và móng cọc chịu tải trọng ngang.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Kiểm tra không phá hủy và nghiên cứu khuyết tật mạng:\u003C\u002Fstrong> Đo phổ ma sát nội tại cho phép phát hiện sự tích tụ hydro gây giòn hydro trong thép cường độ cao, đo nồng độ vết của carbon tự do trong thép dập sâu dùng cho công nghiệp ô tô mà các phương pháp hóa học thông thường khó định lượng chính xác.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003Ch3>Giới hạn và vấn đề khoa học còn mở\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Mặc dù các mô hình lý thuyết đã được hoàn thiện qua nhiều thập kỷ, việc nghiên cứu ma sát nội tại vẫn đối mặt với các giới hạn kỹ thuật nhất định:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>Mô hình tuyến tính Mohr-Coulomb giả định góc ma sát trong không đổi trong suốt quá trình trượt cắt, tuy nhiên trên thực tế đường bao phá hoại của đất đá ở dải ứng suất pháp cực cao hoặc cực thấp thường có dạng phi tuyến rõ rệt.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Hiện tượng trượt dính (stick-slip) và sự phân hủy nhiệt ma sát cục bộ tại các mặt tiếp xúc vi mô trong các trận động đất kiến tạo quy mô lớn đòi hỏi các mô hình ma sát phụ thuộc vận tốc và trạng thái (rate-and-state friction laws) phức tạp hơn thay cho giá trị góc ma sát trong tĩnh truyền thống.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Trong khoa học vật liệu, sự tương tác phi tuyến phức tạp giữa nhiều cơ chế tiêu tán đồng thời (ví dụ như sự chồng lấn giữa hiệu ứng Snoek-Köster do tương tác lệch mạng - nguyên tử xen kẽ và sự trượt ranh giới hạt) gây nhiều thách thức cho việc phân tách định lượng đóng góp của từng khuyết tật đơn lẻ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>","Ma sát nội tại","internal friction",[20,21],"ma sát trong","nội ma sát","Ma sát nội tại là hiện tượng tiêu tán năng lượng cơ học thành nhiệt lượng hoặc lực cản chống lại sự dịch chuyển tương đối giữa các phần tử vi mô bên trong một môi trường vật chất khi chịu tác động của ứng suất hay biến dạng cơ học.","ENGINEERING_TECHNOLOGY",[25,33,41,49,57,65,72],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":32},"Nowick, A. S., & Berry, B. S. (1972). Anelastic Relaxation in Crystalline Solids. Academic Press.","Anelastic Relaxation in Crystalline Solids","Nowick, Berry","Academic Press",1972,"10.1016\u002FB978-0-12-522650-9.X5001-0","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002FB978-0-12-522650-9.X5001-0",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":37,"year":38,"doi":39,"url":40},"Blanter, M. S., Golovin, I. S., Neuhäuser, H., & Sinning, H.-R. (2007). Internal Friction in Metallic Materials: A Handbook. Springer Berlin Heidelberg.","Internal Friction in Metallic Materials","Blanter, Golovin, Neuhäuser, Sinning","Springer Berlin Heidelberg",2007,"10.1007\u002F978-3-540-68758-0","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002F978-3-540-68758-0",{"citationText":42,"title":43,"authors":44,"source":45,"year":46,"doi":47,"url":48},"Kê, T. S. (1947). Experimental Evidence of the Viscous Behavior of Grain Boundaries in Metals. Physical Review, 71(8), 533-546.","Experimental Evidence of the Viscous Behavior of Grain Boundaries in Metals","Kê","Physical Review",1947,"10.1103\u002FPhysRev.71.533","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1103\u002FPhysRev.71.533",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":53,"year":54,"doi":55,"url":56},"Granato, A., & Lücke, K. (1956). Theory of Mechanical Damping Due to Dislocations. Journal of Applied Physics, 27(6), 583-594.","Theory of Mechanical Damping Due to Dislocations","Granato, Lücke","Journal of Applied Physics",1956,"10.1063\u002F1.1722436","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1063\u002F1.1722436",{"citationText":58,"title":59,"authors":60,"source":61,"year":62,"doi":63,"url":64},"Bolton, M. D. (1986). The strength and dilatancy of sands. Géotechnique, 36(1), 65-78.","The strength and dilatancy of sands","Bolton","Géotechnique",1986,"10.1680\u002Fgeot.1986.36.1.65","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1680\u002Fgeot.1986.36.1.65",{"citationText":66,"title":67,"authors":68,"source":61,"year":69,"doi":70,"url":71},"Roscoe, K. H., Schofield, A. N., & Wroth, C. P. (1958). On The Yielding of Soils. Géotechnique, 8(1), 22-53.","On The Yielding of Soils","Roscoe, Schofield, Wroth",1958,"10.1680\u002Fgeot.1958.8.1.22","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1680\u002Fgeot.1958.8.1.22",{"citationText":73,"title":74,"authors":75,"source":76,"year":77,"doi":78,"url":79},"ASTM Committee D18 (2011). ASTM D3080\u002FD3080M-11: Standard Test Method for Direct Shear Test of Soils Under Consolidated Drained Conditions. ASTM International.","Test Method for Direct Shear Test of Soils Under Consolidated Drained Conditions","ASTM Committee D18","ASTM International",2011,"10.1520\u002FD3080_D3080M-11","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1520\u002FD3080_D3080M-11",[81,84,87,90],{"question":82,"answer":83},"Ma sát nội tại trong khoa học vật liệu khác gì so với góc ma sát trong địa kỹ thuật?","Trong khoa học vật liệu, ma sát nội tại là thước đo mức độ tiêu tán cơ năng thành nhiệt do tính chất nhớt đàn hồi vi mô khi vật liệu chịu biến dạng đàn hồi chu kỳ nhỏ không phá hủy. Ngược lại, trong địa kỹ thuật, góc ma sát trong là thông số đo sức kháng trượt tiếp tuyến giữa các hạt khoáng vật chống lại sự phá hoại trượt dẻo của đất đá.",{"question":85,"answer":86},"Hiệu ứng Snoek liên quan thế nào đến ma sát nội tại?","Hiệu ứng Snoek là cơ chế ma sát nội tại điển hình trong kim loại lập phương tâm khối như sắt, sinh ra do sự khuếch tán nhảy bậc có hướng của các nguyên tử xen kẽ tạp chất (carbon, nitơ) giữa các vị trí bát diện dưới tác dụng của trường ứng suất dao động.",{"question":88,"answer":89},"Tại sao góc ma sát trong của đất cát lại phụ thuộc vào độ chặt?","Khi đất cát ở trạng thái chặt chịu biến dạng trượt cắt, các hạt khoáng vật bị chèn chặt phải trèo lên nhau làm thể tích khối đất giãn nở (dilatancy). Công cơ học cần thiết để thắng xu hướng giãn nở này làm tăng góc ma sát trong đỉnh cao hơn so với trạng thái tới hạn.",{"question":91,"answer":92},"Những phương pháp thí nghiệm nào dùng để đo ma sát nội tại?","Trong vật liệu rắn, ma sát nội tại được đo bằng con lắc xoắn Kê, phân tích cơ học động lực (DMA) hoặc cộng hưởng siêu âm (RUS). Trong địa kỹ thuật, góc ma sát trong được xác định qua thí nghiệm cắt phẳng trực tiếp theo ASTM D3080\u002FD3080M-11 hoặc thí nghiệm nén ba trục.",{"id":94,"researcherId":10,"name":95,"imageUrl":96},2633,"Hoài Đặng","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLVXVafUxrnnC_H60UeQdpLE3UgeKGCSesypz_6Vi59B-n9C41A=s96-c",{"id":98,"researcherId":10,"name":99,"imageUrl":100},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:00.483+00:00","2026-08-28T17:08:04.150+00:00","2026-08-28T17:08:04.130+00:00",0,[109,119,125,130,135,140,145,150,155,160],{"id":110,"title":111,"term":112,"englishTitle":113,"definition":114,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"tổn thất điện môi","Tổn thất điện môi là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Tổn thất điện môi","dielectric loss","Tổn thất điện môi là sự tiêu hao năng lượng điện từ trường biến thành nhiệt lượng bên trong vật liệu cách điện hoặc điện môi khi đặt dưới tác dụng của điện trường biến thiên theo thời gian.","engineering-technology","Kỹ thuật và công nghệ","#5B62F4","cpu",{"id":120,"title":121,"term":122,"englishTitle":123,"definition":124,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"thuật toán heuristic","Thuật toán heuristic là gì? Phân loại, nguyên lý và ứng dụng","Thuật toán heuristic","heuristic algorithm","Thuật toán heuristic (heuristic algorithm, hay phương pháp phỏng đoán) là kỹ thuật giải quyết bài toán được thiết kế nhằm tìm kiếm lời giải đủ tốt và chấp nhận được trong khoảng thời gian tính toán thực tế cho các bài toán tối ưu hóa phức tạp, đánh đổi tính tối ưu tuyệt đối để lấy tốc độ thực thi.",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":128,"definition":129,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"hỏa hoạn","Hỏa hoạn là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan","fire","Hỏa hoạn là sự cố cháy lớn ngoài tầm kiểm soát do phản ứng hóa học tỏa nhiệt nhanh giữa chất cháy và chất oxy hóa (thường là oxy trong không khí), gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường.",{"id":131,"title":132,"term":131,"englishTitle":133,"definition":134,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"hệ thống hỗ trợ quyết định","Hệ thống hỗ trợ quyết định là gì? Các nghiên cứu khoa học","decision support system","Hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) là hệ thống thông tin tích hợp dữ liệu, mô hình phân tích và giao diện tương tác nhằm hỗ trợ con người giải quyết các bài toán ra quyết định phức tạp và bán cấu trúc.",{"id":136,"title":137,"term":136,"englishTitle":138,"definition":139,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"tổn thất công suất","Tổn thất công suất là gì? Nguyên nhân, công thức và giải pháp","power loss","Tổn thất công suất là hiện tượng tiêu hao năng lượng điện dưới dạng nhiệt hoặc từ trường trong các phần tử của hệ thống điện như dây dẫn, máy biến áp và thiết bị truyền tải trong quá trình vận hành.",{"id":141,"title":142,"term":141,"englishTitle":143,"definition":144,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"khí động học","Khí động học: Khái niệm, nguyên lý và ứng dụng","Aerodynamics","Khí động học là một thuật ngữ và phạm trù học thuật then chốt trong lĩnh vực engineering technology, phản ánh các nguyên lý, cơ chế và phương pháp luận chuyên sâu đã được chuẩn hóa trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.",{"id":146,"title":147,"term":146,"englishTitle":148,"definition":149,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"ứng suất nhiệt","Ứng suất nhiệt là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan","ung suat nhiet","khái niệm và đối tượng nghiên cứu cơ bản trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, phản ánh các đặc trưng bản chất, cơ chế vận hành và các quy luật tương tác hệ thống trong thực tiễn.",{"id":151,"title":152,"term":151,"englishTitle":153,"definition":154,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"lực kéo","Lực kéo là gì? Bản chất cơ học, công thức và ứng xử vật liệu","tensile force","Lực kéo (tensile force) là lực tác dụng có xu hướng làm giãn dài hoặc kéo dãn một vật thể dọc theo trục tác dụng, gây ra trạng thái ứng suất kéo và biến dạng kéo trong vật liệu.",{"id":156,"title":157,"term":156,"englishTitle":158,"definition":159,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"np khó","NP-khó là gì? Độ phức tạp, định lý Cook và giải pháp","NP-hard","NP-khó là lớp các bài toán tính toán mà mọi bài toán trong lớp NP đều có thể quy dẫn thời gian đa thức về chúng, bao gồm cả các bài toán tối ưu hóa.",{"id":161,"title":162,"term":161,"englishTitle":163,"definition":164,"discipline":23,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"pendubot","Pendubot là gì? Cấu tạo, động học và điều khiển con lắc ngược","Pendubot","Pendubot là một hệ thống cơ điện tử gồm con lắc ngược hai khâu chuyển động phẳng thiếu cơ cấu chấp hành, đóng vai trò là mô hình chuẩn mực trong nghiên cứu điều khiển phi tuyến."]