[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_m%20thuy%E1%BA%BFt{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_m thuyết":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":22,"discipline":23,"references":24,"faqs":57,"createUser":70,"publishUser":74,"keywords":75,"keywordCount":86,"enrichTopicLink":87,"status":88,"createTime":89,"updateTime":90,"publishTime":91,"linkEnrichedTime":92,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":93,"relateTopics":94},"m thuyết","Thuyết M: Thống nhất siêu dây và siêu hấp dẫn 11 chiều","Thuyết M là lý thuyết vật lý thống nhất trong không thời gian 11 chiều, liên kết 5 lý thuyết siêu dây và siêu hấp dẫn qua mạng lưới đối ngẫu lượng tử.","\u003Cp>Thuyết M là một lý thuyết vật lý lý thuyết thống nhất trong không thời gian 11 chiều, đóng vai trò khuôn khổ liên kết không nhiễu loạn toàn bộ 5 lý thuyết siêu dây 10 chiều đã biết cùng với lý thuyết siêu hấp dẫn 11 chiều thông qua mạng lưới các đối xứng đối ngẫu lượng tử. Lý thuyết này được xem là một trong những ứng viên sâu sắc nhất cho lý thuyết hấp dẫn lượng tử và sự thống nhất của mọi tương tác cơ bản trong vũ trụ học hiện đại.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bối cảnh lịch sử và cuộc cách mạng siêu dây lần thứ hai\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Vào đầu thập niên một nghìn chín trăm chín mươi, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22v%E1%BA%ADt%20l%C3%BD%20l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%22%7D}} đối mặt với một câu hỏi hóc búa: có chính xác 5 lý thuyết siêu dây nhất quán trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22kh%C3%B4ng%20th%E1%BB%9Di%20gian%22%7D}} 10 chiều, bao gồm dây loại I, dây loại IIA, dây loại IIB, dây dị hợp với nhóm chuẩn quay SO(32) và dây dị hợp với nhóm chuẩn tích hai nhóm dị thường E8xE8. Sự tồn tại của năm lý thuyết riêng biệt cạnh tranh vị trí lý thuyết tối hậu của tự nhiên tạo nên sự thiếu thỏa đáng về mặt thẩm mỹ và tính duy nhất của vật lý cơ bản.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào năm 1995 tại hội nghị Strings tổ chức ở Đại học Nam California, khi nhà vật lý Edward Witten (1995) trình bày công trình đột phá chứng minh rằng năm lý thuyết siêu dây này không phải là các thực thể độc lập. Thực chất, chúng chỉ là những giới hạn nhiễu loạn khác nhau của một lý thuyết sâu sắc duy nhất tồn tại trong không thời gian 11 chiều, được ông đặt tên là thuyết M. Khám phá này đã khai mào cho cuộc cách mạng siêu dây lần thứ hai, làm thay đổi căn bản cách nhìn nhận của cộng đồng vật lý về không gian, thời gian và các đối tượng hình học lượng tử.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Không thời gian 11 chiều và giới hạn siêu hấp dẫn\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong vật lý hạt năng lượng cao, 11 chiều là số chiều không thời gian tối đa có thể tồn tại một lý thuyết siêu đối xứng mà không xuất hiện các hạt giả định có spin vượt quá hai (những hạt vốn sẽ phá vỡ tính chuẩn tắc và tính bảo toàn xác suất của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}). Theo tài liệu chuyên khảo kinh điển của Becker, Becker và Schwarz (2006), ở giới hạn năng lượng thấp và khoảng cách lớn, thuyết M tiệm cận đến lý thuyết siêu hấp dẫn 11 chiều.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tác động hiệu dụng của siêu hấp dẫn 11 chiều bao gồm trường hấp dẫn mô tả bởi ten-xơ mêtric không thời gian, trường gravitino có spin ba phần hai, và một trường thế chuẩn phản đối xứng ba dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_3\u003C\u002Fscript>. Trường thế này sinh ra trường cường độ bốn dạng bất biến chuẩn ký hiệu là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">G_4 = dC_3\u003C\u002Fscript>. Điểm đặc biệt của siêu hấp dẫn 11 chiều là nó không chứa bất kỳ tham số liên kết không thứ nguyên nào; tham số duy nhất của lý thuyết là độ dài Planck 11 chiều, quy định thang năng lượng cơ bản của lực hấp dẫn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Mạng lưới đối xứng đối ngẫu và sự thống nhất\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự kết nối giữa 5 lý thuyết siêu dây 10 chiều trong khuôn khổ thuyết M được thiết lập thông qua các phép đối ngẫu lượng tử phi nhiễu loạn, bao gồm đối ngẫu S và đối ngẫu T theo phân tích nền tảng của Witten (1995):\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Mối liên hệ giữa lý thuyết dây loại IIA và thuyết M:\u003C\u002Fstrong> Hằng số liên kết dây của lý thuyết loại IIA được đồng nhất trực tiếp với bán kính của chiều không gian thứ 11 được compact hóa trên một đường tròn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">S^1\u003C\u002Fscript>. Khi liên kết dây yếu, bán kính chiều thứ 11 co lại rất nhỏ, lý thuyết biểu hiện như một lý thuyết dây 10 chiều thông thường. Khi liên kết dây trở nên cực mạnh, chiều không gian thứ 11 mở rộng ra vô hạn, làm hiển lộ không thời gian 11 chiều hoàn chỉnh của thuyết M.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Đối ngẫu S giữa loại I và dị hợp SO(32):\u003C\u002Fstrong> Thuyết dây loại I với các dây mở và dây đóng ở {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%BF%20%C4%91%E1%BB%99%20li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt%20m%E1%BA%A1nh%22%7D}} có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C3%ADnh%20ch%E1%BA%A5t%20v%E1%BA%ADt%20l%C3%BD%22%7D}} tương đương hoàn toàn với lý thuyết dây dị hợp nhóm SO(32) ở chế độ liên kết yếu.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tự đối ngẫu S của loại IIB:\u003C\u002Fstrong> Lý thuyết dây loại IIB sở hữu tính đối ngẫu mạnh - yếu phi nhiễu loạn với chính nó dưới nhóm biến đổi đối ngẫu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">SL(2,\\mathbb{Z})\u003C\u002Fscript>, cho phép chuyển đổi liên tục giữa vùng liên kết yếu và vùng liên kết mạnh.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Cấu trúc màng mở rộng: M2-brane và M5-brane\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nếu như trong lý thuyết siêu dây nhiễu loạn, các thực thể dao động cơ bản chỉ là các sợi dây một chiều thì trong thuyết M, các đối tượng động lực mở rộng đóng vai trò trung tâm là các màng siêu việt nhiều chiều. Townsend (1995) đã chứng minh rằng các nguồn tích điện tự nhiên cho trường chuẩn ba dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_3\u003C\u002Fscript> và trường đối ngẫu từ của nó là các màng p-brane không thời gian 11 chiều:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Màng M2 (M2-brane):\u003C\u002Fstrong> Là một thực thể mở rộng có 2 chiều không gian quét qua một mặt thế giới 3 chiều trong không thời gian. M2-brane mang điện tích chuẩn điện đối với trường thế ba dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_3\u003C\u002Fscript>. Khi chiều không gian thứ 11 được cuộn tròn thành đường tròn, một màng M2 quấn quanh chiều này sẽ biểu hiện đối với người quan sát 10 chiều như một dây đóng cơ bản của lý thuyết loại IIA.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Màng M5 (M5-brane):\u003C\u002Fstrong> Là thực thể mở rộng có 5 chiều không gian quét qua một khối thế giới 6 chiều. M5-brane mang điện tích từ đối với trường thế ba dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">C_3\u003C\u002Fscript> (tương đương với điện tích điện đối với trường thế đối ngẫu sáu dạng). Động lực học lượng tử trên tập hợp các màng M5 trùng nhau sinh ra các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22l%C3%BD%20thuy%E1%BA%BFt%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%22%7D}} bảo giác siêu đối xứng không có mô tả Lagrange cổ điển, là chủ đề nghiên cứu sâu sắc hàng đầu của vật lý toán đương đại.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Lý thuyết Hořava - Witten và vũ trụ học màng\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Một đóng góp mang tính đột phá khác cho việc kết nối thuyết M với thế giới vật lý năng lượng cao thực nghiệm là mô hình được đề xuất bởi Hořava và Witten (1996). Hai tác giả đã chứng minh rằng khi lý thuyết dây dị hợp với nhóm đối xứng E8xE8 ở vào giới hạn liên kết mạnh, chiều không gian thứ 11 không được compact hóa trên một đường tròn trơn mà trên một đoạn thẳng có hai đầu mút, hay còn gọi là đa tạp dạng \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">S^1\u002F\\mathbb{Z}_2\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Tại hai đầu mút của đoạn thẳng này tồn tại hai siêu màng biên 10 chiều phẳng song song. Mỗi màng biên này mang một nửa nhóm chuẩn đối xứng, tương ứng với một nhóm E8 riêng biệt. Lực hấp dẫn lan truyền tự do trong toàn bộ không gian 11 chiều kẹp giữa hai màng biên, trong khi các hạt vật chất và các tương tác chuẩn của mô hình chuẩn chỉ bị giam giữ trên một màng biên duy nhất. Bức tranh này đã đặt nền móng lý thuyết vững chắc cho các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22m%C3%B4%20h%C3%ACnh%20v%C5%A9%20tr%E1%BB%A5%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} màng (brane cosmology), giải thích tự nhiên sự chênh lệch độ lớn khổng lồ giữa thang năng lượng hấp dẫn Planck và thang {{topic|%7B%22topic%22%3A%22n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20%C4%91i%E1%BB%87n%22%7D}} yếu.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>D-brane và tích điện Ramond - Ramond\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Sự hoàn thiện của bức tranh đối ngẫu trong thuyết M có sự đóng góp không thể thiếu từ công trình của Polchinski (1995) về các màng Dirichlet (thường gọi tắt là D-brane). Trước thời điểm này, các trạng thái tích điện Ramond - Ramond trong lý thuyết dây loại II vốn bị coi là bí ẩn và khó nắm bắt do không mang tương tác trực tiếp với các dây cơ bản ở cấp độ nhiễu loạn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Polchinski (1995) đã chứng minh rằng các D-brane chính là những trạng thái phi nhiễu loạn mang điện tích bảo toàn Ramond - Ramond một cách chính xác. Các đầu mút của các dây mở bị neo chặt vào bề mặt các D-brane theo điều kiện biên Dirichlet. Dưới các phép biến đổi đối ngẫu S và đối ngẫu T, các D-brane biến đổi nhịp nhàng với các màng M2 và M5 của thuyết M, mang lại sự tương thích hoàn mỹ cho bức tranh động lực học màng trong toàn bộ mạng lưới lý thuyết.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bảng đối chiếu năm lý thuyết siêu dây và quan hệ với thuyết M\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mối quan hệ giữa 5 lý thuyết siêu dây 10 chiều và nguồn gốc 11 chiều của chúng được tổng hợp cô đọng trong bảng so sánh dưới đây:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Lý thuyết dây (10 chiều)\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Dạng dây cơ bản\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Nhóm đối xứng chuẩn\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Đối ngẫu trực tiếp\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Giới hạn liên kết mạnh tương ứng\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Loại IIA\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây đóng định hướng\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Không có nhóm chuẩn liên kết\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đối ngẫu T với loại IIB\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Thuyết M 11 chiều trên đường tròn S1\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Loại IIB\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây đóng có tính chiral\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Không có nhóm chuẩn liên kết\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tự đối ngẫu S liên kết mạnh-yếu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Chính loại IIB ở liên kết yếu\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Dị hợp E8xE8\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây đóng kết hợp\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>E8 x E8\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đối ngẫu T với dị hợp SO(32)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Thuyết M trên đoạn thẳng S1\u002FZ2 (Hořava-Witten)\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Dị hợp SO(32)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây đóng kết hợp\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>SO(32)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đối ngẫu S với dây loại I\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây loại I ở chế độ liên kết yếu\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Loại I\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây mở và dây đóng\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>SO(32)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Đối ngẫu S với dị hợp SO(32)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Dây dị hợp SO(32) ở liên kết yếu\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa khoa học và hướng nghiên cứu đương đại\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Thuyết M đã cách mạng hóa tư duy vật lý về bản chất của không thời gian. Khái niệm chiều không gian không còn là một tham số cố định tiên nghiệm mà là một đặc tính động lực có thể thay đổi tùy thuộc vào {{topic|%7B%22topic%22%3A%22tr%E1%BA%A1ng%20th%C3%A1i%20li%C3%AAn%20k%E1%BA%BFt%22%7D}} của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}. Hơn nữa, thông qua việc hợp nhất toàn diện các đối tượng dây và màng, thuyết M cung cấp cơ sở vi mô vững chắc cho entropy của lỗ đen và nguyên lý toàn ảnh (holographic principle), định hình sâu sắc các nghiên cứu hiện đại về sự tương ứng giữa trường chuẩn và lực hấp dẫn.\u003C\u002Fp>\n","Thuyết M","M-theory",[20,18,21],"lý thuyết M","thuyết M 11 chiều","Thuyết M là một lý thuyết vật lý lý thuyết thống nhất trong không thời gian 11 chiều, đóng vai trò khuôn khổ liên kết không nhiễu loạn toàn bộ năm lý thuyết siêu dây 10 chiều đã biết cùng với lý thuyết siêu hấp dẫn 11 chiều.","NATURAL_SCIENCES",[25,32,38,44,50],{"citationText":26,"title":27,"authors":28,"source":29,"year":30,"doi":31,"url":10},"Witten, E. (1995). String theory dynamics in various dimensions. Nuclear Physics B, 443(1-2), 85-126.","String theory dynamics in various dimensions","Witten, E.","Nuclear Physics B",1995,"10.1016\u002F0550-3213(95)00158-O",{"citationText":33,"title":34,"authors":35,"source":29,"year":36,"doi":37,"url":10},"Hořava, P., & Witten, E. (1996). Heterotic and Type I string dynamics from eleven dimensions. Nuclear Physics B, 460(3), 506-524.","Heterotic and Type I string dynamics from eleven dimensions","Hořava, P., Witten, E.",1996,"10.1016\u002F0550-3213(95)00621-4",{"citationText":39,"title":40,"authors":41,"source":42,"year":30,"doi":43,"url":10},"Townsend, P. K. (1995). The eleven-dimensional supermembrane revisited. Physics Letters B, 350(2), 184-187.","The eleven-dimensional supermembrane revisited","Townsend, P. K.","Physics Letters B","10.1016\u002F0370-2693(95)00397-4",{"citationText":45,"title":46,"authors":47,"source":48,"year":30,"doi":49,"url":10},"Polchinski, J. (1995). Dirichlet Branes and Ramond-Ramond Charges. Physical Review Letters, 75(26), 4724-4727.","Dirichlet Branes and Ramond-Ramond Charges","Polchinski, J.","Physical Review Letters","10.1103\u002FPhysRevLett.75.4724",{"citationText":51,"title":52,"authors":53,"source":54,"year":55,"doi":56,"url":10},"Becker, K., Becker, M., & Schwarz, J. H. (2006). String Theory and M-Theory: A Modern Introduction. Cambridge University Press.","String Theory and M-Theory","Becker, K., Becker, M., Schwarz, J. H.","Cambridge University Press",2006,"10.1017\u002FCBO9780511816086",[58,61,64,67],{"question":59,"answer":60},"Thuyết M là gì và ra đời trong hoàn cảnh nào?","Thuyết M là lý thuyết vật lý trong không thời gian 11 chiều được Edward Witten đề xuất năm 1995 tại hội nghị Strings, thống nhất 5 lý thuyết siêu dây 10 chiều và siêu hấp dẫn 11 chiều thông qua các phép đối ngẫu lượng tử phi nhiễu loạn.",{"question":62,"answer":63},"Tại sao không thời gian của Thuyết M lại có 11 chiều?","Trong vật lý lý thuyết, 11 chiều là số chiều tối đa cho phép một lý thuyết siêu đối xứng tồn tại mà không xuất hiện các hạt giả định có spin lớn hơn 2 gây phá vỡ tính nhất quán toán học của lý thuyết trường lượng tử.",{"question":65,"answer":66},"Các đối tượng động lực cơ bản trong Thuyết M là gì?","Khác với các lý thuyết dây nhiễu loạn chỉ chứa dây một chiều, Thuyết M chứa các thực thể màng mở rộng nhiều chiều bao gồm màng M2 có 2 chiều không gian và màng M5 có 5 chiều không gian tương tác với trường chuẩn ba dạng C3.",{"question":68,"answer":69},"Mô hình Hořava-Witten liên hệ Thuyết M với thế giới vật lý thực như thế nào?","Mô hình Hořava-Witten compact hóa chiều thứ 11 trên đoạn thẳng S1\u002FZ2 có hai màng biên 10 chiều chứa các tương tác chuẩn riêng biệt, tạo nền tảng cho lý thuyết vũ trụ học màng và giải thích chênh lệch thang năng lượng Planck và điện yếu.",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":71,"researcherId":10,"name":72,"imageUrl":73},[76,77,78,79,80,81,82,83,84,85],"vật lý lý thuyết","không thời gian","lý thuyết trường lượng tử","chế độ liên kết mạnh","tính chất vật lý","lý thuyết trường","mô hình vũ trụ học","năng lượng điện","trạng thái liên kết","hệ thống lượng tử",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:55:14.235+00:00","2026-09-13T00:08:05.820+00:00","2026-09-12T23:13:04.146+00:00","2026-09-13T00:08:05.543+00:00",0,[95,98,101,104,107,110,113,115,118,121],{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"vật liệu nano","Vật liệu nano là gì? Các công bố khoa học về Vật liệu nano",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"dẫn xuất","Dẫn xuất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Dẫn xuất",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"lý thuyết lượng tử","Lý thuyết lượng tử là gì? Các nghiên cứu khoa học ",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nano bạc","Nano bạc là gì? Các bài nghiên cứu khoa học về Nano bạc",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô phỏng động lực học phân tử","Mô phỏng động lực học phân tử là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"alginate","Alginate là gì? Các nghiên cứu khoa học về Alginate",{"id":80,"title":114,"term":80,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"Tính chất vật lý là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tính chất vật lý",{"id":116,"title":117,"term":116,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"xỉ lò cao nghiền mịn","Xỉ lò cao nghiền mịn là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":119,"title":120,"term":119,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"exciton","Exciton là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học về Exciton",{"id":122,"title":123,"term":122,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hàm tương quan","Hàm tương quan là gì? Các bài nghiên cứu khoa học liên quan"]