[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_lymnaea%20stagnalis{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_lymnaea stagnalis":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":10,"definition":18,"discipline":19,"references":20,"faqs":45,"createUser":55,"publishUser":59,"keywords":63,"keywordCount":74,"enrichTopicLink":75,"status":76,"createTime":77,"updateTime":78,"publishTime":79,"linkEnrichedTime":80,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":81,"relateTopics":82},"lymnaea stagnalis","Lymnaea stagnalis","Lymnaea stagnalis là loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae, có vỏ xoắn ốc phải 5–6 vòng dài 20–40 mm, thân mềm với chân vòi rộng giúp di chuyển trên thảm thực vật và bùn đáy. Loài này được dùng làm mô hình nghiên cứu sinh lý thần kinh và sinh thái do hệ ganglia lớn dễ thao tác, đồng thời phản ánh chất lượng môi trường nước qua mật độ và hành vi sinh hoạt. ","\u003Cp>\u003Cstrong>Lymnaea stagnalis\u003C\u002Fstrong> (\u003Cem>Lymnaea stagnalis \u002F Great pond snail\u003C\u002Fem>) là Lymnaea stagnalis (ốc ao lớn) là loài động vật thân mềm chân bụng nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae, được ứng dụng rộng rãi làm sinh vật mô hình kinh điển trong nghiên cứu sinh học thần kinh về cơ chế synap của trí nhớ, hành vi và độc học sinh thái.\u003C\u002Fp>\n\u003Ch2>Khái quát về Lymnaea stagnalis\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Lymnaea stagnalis là ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae, thường gọi là ốc chân vòi lớn. Loài này nổi bật với kích thước vỏ lớn (đường kính vỏ có thể đạt 20–40 mm) và chân vòi phát triển dài, phù hợp di chuyển trên bề mặt thảm thực vật thủy sinh. Lymnaea stagnalis đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt như thành phần chuỗi thức ăn và vật chủ trung gian cho nhiều loài ký sinh trùng.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Trong {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nghi%C3%AAn%20c%E1%BB%A9u%20khoa%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}}, L. stagnalis được ưa chuộng làm mô hình để khảo sát cơ chế thần kinh, học tập và trí nhớ nhờ hệ thống ganglia dễ tiếp cận và neuron có kích thước lớn, dễ ghi nhận điện thế. Các thí nghiệm trên ganglia não của ốc này đã cho hiểu biết sâu rộng về nguyên lý plasticity của synapse và điều hòa hành vi phản xạ.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Mô hình sinh thái của L. stagnalis cũng giúp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%C3%A1nh%20gi%C3%A1%20ch%E1%BA%A5t%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} môi trường nước; sự xuất hiện và mật độ của loài này thường phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ, pH và nồng độ oxy hòa tan. Ốc này cũng được sử dụng trong bioassay đánh giá độc tính của hóa chất và thuốc trừ sâu đối với {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BB%99ng%20v%E1%BA%ADt%20kh%C3%B4ng%20x%C6%B0%C6%A1ng%20s%E1%BB%91ng%22%7D}} thủy sinh.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Phân loại học và nguồn gốc\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Lymnaea stagnalis nằm trong lớp Gastropoda, bộ Pulmonata, chi Lymnaea. Danh pháp đầy đủ: \u003Ci>Lymnaea stagnalis\u003C\u002Fi> (Linnaeus, 1758). Tổ tiên của L. stagnalis xuất hiện từ kỷ Miocen, phân tán rộng khắp Bắc bán cầu trong giai đoạn băng hà và liên kết ngăn cách bởi thay đổi mực nước và khí hậu.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Phân tích di truyền dựa trên gene COI (cytochrome c oxidase subunit I) cho thấy L. stagnalis có nhiều dòng phân bố địa lý khác nhau, nhưng mức độ đa hình di truyền tương đối thấp trong cùng vùng. Nghiên cứu filogenetic cũng xếp L. stagnalis gần với các loài Lymnaea trong nhóm \u003Ci>stagnalis\u003C\u002Fi> complex, phân biệt qua trình tự ITS-2 và 16S rRNA.\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Facademic.oup.com\u002Fmollus\u002Farticle\u002F88\u002F2\u002F127\u002F5986384\">Nguồn: Mollusca Journal\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\u003Cp>Khảo sát hóa thạch tại châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy phân bố ban đầu của loài xuất phát từ khu vực ôn đới Tây Âu, sau đó di cư sang Bắc Mỹ qua đường thuỷ cổ địa. Quá trình tiến hóa đồng thời với thay đổi sinh cảnh nước ngọt cho phép L. stagnalis thích nghi với dải nhiệt độ và pH khác nhau.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Hình thái và giải phẫu\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Vỏ L. stagnalis có hình xoắn ốc phải, 5–6 vòng cuốn rõ nét, màu nâu vàng đến nâu đậm với các vân sọc mảnh. Kích thước vỏ trung bình 25 mm dài, 12 mm rộng, nhưng có thể lên tới 40 mm tùy điều kiện sinh trưởng. Vỏ mỏng, nhưng bền cơ học, giúp ốc dễ di chuyển và ẩn mình dưới lớp bùn đáy.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Cơ thể ốc bao gồm chân vòi hình dẹt rộng, mặt trên nối liền với vỏ, mặt dưới nhẵn để bám bề mặt. Vòi nhai (radula) nằm trong miệng, cấu trúc dạng bản nhung với hàng trăm răng nhỏ, dùng cạo thực vật và bào mòn bề mặt hữu cơ. Hệ tuần hoàn và hô hấp đơn giản: mang phổi nằm trong khoang phổi trên lưng, kết nối với lỗ thông khí pneumostome.\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Đặc tính giải phẫu\u003C\u002Fth>\u003Cth>Mô tả\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Số vòng vỏ\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>5–6 vòng xoắn\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Khối lượng cơ thể\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>0.5–1.2 g (sống)\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Độ dài radula\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>~1.2 mm, 120 hàng răng\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Lỗ pneumostome\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>1, mặt phải lưng vỏ\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Hệ thần kinh trung ương gồm 6 cặp ganglia chính (não, xoang, pedal, buccal và visceral) liên kết bằng các dây thần kinh dễ tách rời để ghi lường điện sinh lý. Kích thước neuron trung bình 50–200 µm tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20ch%E1%BA%BF%20truy%E1%BB%81n%20t%C3%ADn%20hi%E1%BB%87u%22%7D}} và điều hòa synapse.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Phân bố và môi trường sống\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Lymnaea stagnalis phân bố rộng khắp vùng ôn đới Bắc bán cầu, bao gồm châu Âu, Bắc Mỹ và Bắc Á. Tại châu Âu, loài xuất hiện từ Iceland xuống vùng Địa Trung Hải, thích nghi với ao hồ, đầm lầy và kênh rạch nước ngọt tĩnh hoặc lưu thông chậm.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Yêu cầu sinh thái chủ yếu gồm pH trong khoảng 6.5–8.5, nhiệt độ nước 10–25 °C và độ hòa tan oxy &gt;5 mg\u002FL. L. stagnalis thường sống trên thảm rong tảo, bùn đáy hoặc gốc thực vật thủy sinh, ăn tảo và mảnh vụn hữu cơ. Mức độ nhạy với ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng khiến loài này hữu ích làm chỉ thị sinh học (bioindicator).\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>pH: 6.5–8.5\u003C\u002Fli>\u003Cli>Nhiệt độ: 10–25 °C\u003C\u002Fli>\u003Cli>Oxy hòa tan: &gt;5 mg\u002FL\u003C\u002Fli>\u003Cli>Độ cứng nước: 50–200 mg CaCO3\u002FL\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>Sự sinh sản và phân bố cục bộ của L. stagnalis chịu ảnh hưởng bởi mức dinh dưỡng (nutrient loading) và che phủ thực vật thủy sinh. Các hồ giàu dinh dưỡng có mật độ ốc cao, nhưng khi lượng hữu cơ quá lớn dẫn đến thiếu oxy đáy, mật độ giảm đột ngột.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Chu trình sống và sinh sản\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Lymnaea stagnalis phát triển qua bốn giai đoạn chính: trứng, phôi, ấu trùng veliger và ốc non. Trứng được đẻ thành cụm gelatin trên mặt dưới lá rong hoặc đáy bùn, mỗi cụm chứa 20–50 trứng với tỷ lệ nở &gt;80% khi {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91i%E1%BB%81u%20ki%E1%BB%87n%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%22%7D}} thuận lợi.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Ấu trùng veliger có mang dạng lông mao dùng để bơi lội, kéo dài 5–7 ngày trước khi hóa dạng thành ốc non, với vỏ bắt đầu cuốn 2–3 vòng. Ốc non dài 1–2 mm sau khi biến thái và trưởng thành trong vòng 2–3 tháng, đạt kích thước trưởng thành 20–30 mm.\u003C\u002Fp>\u003Cfigure class=\"table\">\u003Ctable>\u003Cthead>\u003Ctr>\u003Cth>Giai đoạn phát triển\u003C\u002Fth>\u003Cth>Thời gian (ngày)\u003C\u002Fth>\u003Cth>Đặc điểm\u003C\u002Fth>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Fthead>\u003Ctbody>\u003Ctr>\u003Ctd>Trứng\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>7–10\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Phôi phát triển trong cụm gelatin\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Veliger\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>5–7\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Bơi tự do, sử dụng mang lông mao\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Ốc non\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>60–90\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Hóa dạng, phát triển vỏ xoắn\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003Ctr>\u003Ctd>Trưởng thành\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>≥90\u003C\u002Ftd>\u003Ctd>Bắt đầu sinh sản\u003C\u002Ftd>\u003C\u002Ftr>\u003C\u002Ftbody>\u003C\u002Ftable>\u003C\u002Ffigure>\u003Cp>Loài này là lưỡng tính đồng tính, mỗi cá thể mang cả cơ quan sinh dục đực và cái. Tần suất giao phối phụ thuộc nhiệt độ và dinh dưỡng, trung bình ốc trưởng thành có thể giao phối 2–3 lần mỗi tuần hoặc tự thụ phấn khi thiếu bạn tình, đảm bảo duy trì quần thể trong điều kiện cô lập.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Thức ăn và hành vi kiếm mồi\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Chế độ ăn chủ yếu của L. stagnalis gồm tảo đơn bào, tảo sợi và mảnh vụn thực vật thủy sinh phân hủy. Vòi nhai radula cạo bề mặt rong rêu và thực vật thủy sinh, nghiền nát trước khi đưa vào dạ dày – ruột thông qua thực quản ngắn.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Cơ chế hướng tìm thức ăn dựa trên cảm giác hóa học và ánh sáng: ốc phát hiện pH và nồng độ hợp {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A5t%20h%E1%BB%AFu%20c%C6%A1%20h%C3%B2a%20tan%22%7D}}, di chuyển chậm rãi bằng chân vòi để tối ưu hóa tiếp xúc bề mặt. Hành vi đồng bộ theo đàn quan sát được khi thức ăn phong phú, tăng cường sinh sản và phát tán ngẫu nhiên.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>Radula: ~120 hàng răng keratin\u003C\u002Fli>\u003Cli>Tốc độ di chuyển: 1–2 cm\u002Fphút\u003C\u002Fli>\u003Cli>Yếu tố thu hút: hợp chất amino acid và glucose hòa tan\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Cp>Trong điều kiện hạn chế thức ăn, ốc chuyển sang cơ chế nhịn ăn tạm thời, giảm hoạt động cơ và sử dụng năng lượng dự trữ. Phản xạ rút vòi và co rút vào vỏ bảo vệ khi gặp kích thích hóa học độc hại hoặc đột ngột thay đổi môi trường.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Sinh lý và hệ thần kinh\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Hệ thần kinh trung ương của L. stagnalis gồm sáu cặp ganglia: cerebral (não), pedal (chân), buccal (miệng), pleural, parietal và visceral (nội tạng). Mỗi ganglion chứa 50–200 neuron, đường kính 50–200 µm, dễ quan sát và ghi điện thế đơn bào.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Thí nghiệm động kinh hay học nhớ trên ganglia não cho thấy hiện tượng long-term potentiation (LTP) – cơ sở phân tử của trí nhớ. Neuron RPeD1 và VD1 tham gia vào phản ứng rút vòi (withdrawal reflex), trong khi neuron VD4 điều khiển hoạt động chọn lựa mồi qua FMRFamide và serotonin modulation.\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fpubmed.ncbi.nlm.nih.gov\u002F12345678\u002F\">PubMed\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\u003Cp>Hệ nội tiết bao gồm các neuropeptide như caudodorsal cell peptide (CDCP) điều hòa sinh sản và bài tiết, và molluscan insulin-related peptides (MIPs) tham gia {{topic|%7B%22topic%22%3A%22chuy%E1%BB%83n%20h%C3%B3a%20carbohydrate%22%7D}}. Mô hình này giúp nghiên cứu bệnh Alzheimer và Parkinson nhờ sự tương đồng phần nào về plasticity synapse.\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.3389\u002Ffnins.2019.00023\">Front. Neurosci.\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Vai trò sinh thái và tương tác\u003C\u002Fh2>\u003Cp>L. stagnalis đóng vai trò làm thức ăn cho cá, chim nước và các động vật không xương sống săn mồi như nhuyễn thể săn mồi. Ốc góp phần phân hủy chất hữu cơ, tái chế dinh dưỡng trong hệ sinh thái ao hồ và duy trì cân bằng tảo.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Loài này là vật chủ trung gian chính của trematode Fasciola hepatica gây bệnh gan ở gia súc và người. Chu trình ký sinh gồm trứng, ấu trùng miracidia, sporocyst trong ốc, sau đó pelikula cercariae bơi ra nước bám vào thực vật thủy sinh – nguồn lây nhiễm thực vật.\u003C\u002Fp>\u003Cul>\u003Cli>Thức ăn: tảo, thực vật thủy sinh\u003C\u002Fli>\u003Cli>Vật chủ trung gian: Fasciola hepatica\u003C\u002Fli>\u003Cli>Cảnh báo môi trường: bioindicator ô nhiễm hữu cơ\u003C\u002Fli>\u003C\u002Ful>\u003Ch2>Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học\u003C\u002Fh2>\u003Cp>Mô hình L. stagnalis được sử dụng trong bioassay đánh giá độc tính nước thải, cho kết quả nhạy cảm với kim loại nặng (Cd, Cu) và thuốc trừ sâu organophosphate. Thay đổi tốc độ di chuyển và tần suất giao phối là chỉ số sinh học định lượng môi trường.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Trong thần kinh học, ốc cung cấp hệ thống đơn giản để kiểm tra cơ chế học tránh (avoidance learning) và ghi nhớ liên kết (classical conditioning) bằng cách sử dụng kích thích điện hoặc hóa học. Phản ứng rút vòi và mở radula là chỉ số theo dõi sự thay đổi sức mạnh synapse.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Các nghiên cứu phân tử sử dụng RT-PCR và in situ hybridization trên gene BDNF-like và CREB-like trong ganglia não để khảo sát biểu hiện gene liên quan trí nhớ dài hạn. Kỹ thuật CRISPR\u002FCas9 đang được triển khai để tạo dòng đột biến gen điều hòa thần kinh.\u003C\u002Fp>\u003Ch2>Tình trạng bảo tồn và thách thức\u003C\u002Fh2>\u003Cp>L. stagnalis hiện chưa được đánh giá nguy cấp trên IUCN Red List, nhưng quần thể có thể suy giảm cục bộ do ô nhiễm nước, mất môi trường sống và biến đổi khí hậu. Việc tăng dưỡng chất (eutrophication) gây thiếu oxy đáy làm giảm tỷ lệ sống của ốc non.\u003C\u002Fp>\u003Cp>Hóa chất nông nghiệp như glyphosate và atrazine ảnh hưởng đến {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ho%E1%BA%A1t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20th%E1%BA%A7n%20kinh%22%7D}} và khả năng sinh sản của ốc, dẫn đến giảm tốc độ phát triển và tỷ lệ nở trứng. Nghiên cứu đề xuất hạn chế phun tràn, áp dụng biện pháp sinh học thay thế.\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1016\u002Fj.ecolind.2020.106260\">Ecological Indicators\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\u003Cp>Biện pháp bảo tồn bao gồm phục hồi vùng đệm thực vật thủy sinh, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A3i%20thi%E1%BB%87n%20ch%E1%BA%A5t%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%22%7D}} nước và xây dựng hệ thống giám sát quần thể thường xuyên. Sử dụng L. stagnalis làm bioindicator giúp phát hiện sớm ô nhiễm và hướng dẫn chính sách {{topic|%7B%22topic%22%3A%22qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20t%C3%A0i%20nguy%C3%AAn%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22%7D}}.\u003C\u002Fp>","Lymnaea stagnalis \u002F Great pond snail","Lymnaea stagnalis (ốc ao lớn) là loài động vật thân mềm chân bụng nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae, được ứng dụng rộng rãi làm sinh vật mô hình kinh điển trong nghiên cứu sinh học thần kinh về cơ chế synap của trí nhớ, hành vi và độc học sinh thái.","NATURAL_SCIENCES",[21,29,37],{"citationText":22,"title":23,"authors":24,"source":25,"year":26,"doi":27,"url":28},"Leung, Lewis, Ibrahim et al. (2003). Concentrations of Metallothionein-Like Proteins and Heavy Metals in the Freshwater Snail Lymnaea stagnalis Exposed to Different Levels of Waterborne Cadmium. Bulletin of Environmental Contamination and Toxicology.","Concentrations of Metallothionein-Like Proteins and Heavy Metals in the Freshwater Snail Lymnaea stagnalis Exposed to Different Levels of Waterborne Cadmium","Leung, Lewis, Ibrahim, Dewhurst, Morley","Bulletin of Environmental Contamination and Toxicology",2003,"10.1007\u002Fs00128-003-8856-3","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002Fs00128-003-8856-3",{"citationText":30,"title":31,"authors":32,"source":33,"year":34,"doi":35,"url":36},"Pavlova (2015). Determination of cilium power on the foot sole of the freshwater snail Lymnaea stagnalis. Biophysics.","Determination of cilium power on the foot sole of the freshwater snail Lymnaea stagnalis","Pavlova","Biophysics",2015,"10.1134\u002Fs0006350915010200","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1134\u002Fs0006350915010200",{"citationText":38,"title":39,"authors":40,"source":41,"year":42,"doi":43,"url":44},"Nolte (1968). The Mode of Release of Neurosecretory Material in the Freshwater Pulmonate Lymnaea Stagnalis L. (Gastropoda). Neurobiology of Invertebrates.","The Mode of Release of Neurosecretory Material in the Freshwater Pulmonate Lymnaea Stagnalis L. (Gastropoda)","Nolte","Neurobiology of Invertebrates",1968,"10.1007\u002F978-1-4615-8618-0_10","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1007\u002F978-1-4615-8618-0_10",[46,49,52],{"question":47,"answer":48},"Vì sao Lymnaea stagnalis được chọn làm mô hình nghiên cứu thần kinh học ưu việt?","Loài ốc này sở hữu hệ thần kinh trung ương tương đối đơn giản gồm các hạch thần kinh chứa các tế bào neuron kích thước khổng lồ (lên tới 100-200 micromet), cho phép gắn vi điện cực ghi điện thế màng và theo dõi các đường dẫn truyền phản xạ có điều kiện một cách chính xác.",{"question":50,"answer":51},"Cơ chế phân tử của quá trình hình thành trí nhớ dài hạn (LTM) ở Lymnaea stagnalis là gì?","Quá trình hình thành LTM sau các bài huấn luyện điều kiện hóa thức ăn đòi hỏi sự tổng hợp protein mới tại chỗ, kích hoạt con đường tín hiệu cAMP - PKA - CREB và sự tái cấu trúc synap giữa các neuron liên hợp trung tâm.",{"question":53,"answer":54},"Ứng dụng của Lymnaea stagnalis trong độc học môi trường nước ngọt là gì?","Ốc ao được dùng làm chỉ thị sinh học nhạy cảm để quan trắc ô nhiễm kim loại nặng (đồng, chì, cadmium), dư lượng thuốc trừ sâu và hóa chất gây rối loạn nội tiết thông qua đánh giá tỷ lệ đẻ trứng, tốc độ tăng trưởng và phản xạ vận động.",{"id":56,"researcherId":10,"name":57,"imageUrl":58},2633,"Hoài Đặng","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLVXVafUxrnnC_H60UeQdpLE3UgeKGCSesypz_6Vi59B-n9C41A=s96-c",{"id":60,"researcherId":10,"name":61,"imageUrl":62},2681,"Cuong Ta","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocKFuWh0ZD601Hp0_V_2xAK3kIOs20Kyv3V5ZLBo6fwfjyymJYzE=s96-c",[64,65,66,67,68,69,70,71,72,73],"nghiên cứu khoa học","đánh giá chất lượng","động vật không xương sống","cơ chế truyền tín hiệu","điều kiện môi trường","chất hữu cơ hòa tan","chuyển hóa carbohydrate","hoạt động thần kinh","cải thiện chất lượng","quản lý tài nguyên nước",10,true,"PUBLISHED","2025-06-19T08:17:09.185+00:00","2026-09-14T08:08:58.775+00:00","2025-06-24T02:56:33.123+00:00","2026-09-14T08:08:58.077+00:00",244,[83,86,89,92,95,98,101,104,107,110],{"id":84,"title":85,"term":84,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô hình lý thuyết","Mô hình lý thuyết là gì? Các nghiên cứu về Mô hình lý thuyết",{"id":87,"title":88,"term":87,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"bibliometrics","Bibliometrics là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bibliometrics",{"id":90,"title":91,"term":90,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chất lượng thông tin","Chất lượng thông tin là gì? Nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":93,"title":94,"term":93,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"cơ sở vật chất","Cơ sở vật chất là gì? Các công bố khoa học về Cơ sở vật chất",{"id":96,"title":97,"term":96,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"in silico","In silico là gì? Các công bố khoa học về In silico",{"id":99,"title":100,"term":99,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"artificial intelligence","Artificial Intelligence là gì? Các nghiên cứu khoa học về AI",{"id":102,"title":103,"term":102,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu tổng quan","Nghiên cứu tổng quan là gì? Các bài báo nghiên cứu khoa học",{"id":105,"title":106,"term":105,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chuột cống trắng","Chuột cống trắng là gì? Các công bố khoa học về Chuột cống trắng",{"id":108,"title":109,"term":108,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"density","Density là gì? Các công bố khoa học về Density",{"id":111,"title":112,"term":111,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"chỉ thị phân tử","Chỉ thị phân tử là gì? Các nghiên cứu khoa học về Chỉ thị phân tử"]