[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_li%E1%BB%87t%20th%E1%BA%A7n%20kinh%20thanh%20qu%E1%BA%A3n{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_li%E1%BB%87t%20th%E1%BA%A7n%20kinh%20thanh%20qu%E1%BA%A3n":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":17,"englishTitle":18,"synonyms":19,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":65,"createUser":78,"publishUser":82,"keywords":83,"keywordCount":79,"enrichTopicLink":84,"status":85,"createTime":86,"updateTime":87,"publishTime":88,"linkEnrichedTime":10,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":89,"wikidataId":10,"relateTopics":90},"liệt thần kinh thanh quản","Liệt thần kinh thanh quản (laryngeal nerve palsy) là gì?","Liệt thần kinh thanh quản là tình trạng tổn thương thần kinh chi phối cơ thanh quản, gây khàn tiếng, khó thở, nuốt sặc và rối loạn vận động dây thanh.","\u003Cp>Liệt thần kinh thanh quản là tình trạng suy giảm hoặc mất hoàn toàn chức năng dẫn truyền xung động thần kinh vận động tại các nhánh thần kinh chi phối hệ thống cơ nội tại của thanh quản, dẫn đến rối loạn di động của một hoặc cả hai dây thanh. Tình trạng bệnh lý này gây ra những biến đổi nghiêm trọng về chức năng phát âm, chức năng hô hấp và chức năng bảo vệ đường thở dưới khi nuốt. Bài viết trình bày chi tiết về giải phẫu chức năng của hệ thần kinh thanh quản, căn nguyên bệnh sinh, phân loại lâm sàng, quy trình chẩn đoán chuyên sâu và các chiến lược điều trị từ bảo tồn đến can thiệp phẫu thuật định hình thanh môn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Giải phẫu chức năng và sinh lý thần kinh thanh quản\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Thanh quản là cơ quan phức tạp đảm nhận ba chức năng sinh tồn then chốt: thông khí, bảo vệ đường hô hấp dưới khỏi hiện tượng hít sặc và phát âm. Hoạt động cơ học của thanh quản được điều khiển bởi hệ thống các cơ nội tại, vốn nhận phân bố thần kinh vận động và cảm giác bắt nguồn từ dây thần kinh sọ số mười (dây thần kinh lang thang \u002F thần kinh phế vị). Hệ thống thần kinh thanh quản chia thành hai nhánh chính ở mỗi bên cổ: thần kinh thanh quản trên và thần kinh thanh quản quặt ngược.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thần kinh thanh quản quặt ngược\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Thần kinh thanh quản quặt ngược (recurrent laryngeal nerve) bắt nguồn từ dây thần kinh lang thang nhưng có đường đi không đối xứng giữa hai bên cơ thể do sự phát triển phôi thai học của các quai mạch máu lớn. Nhánh thần kinh bên phải vòng qua phía dưới động mạch dưới đòn phải rồi đi ngược lên trên trong rãnh khí thực quản. Ngược lại, nhánh thần kinh bên trái vòng qua bờ dưới quai động mạch chủ tại trung thất trên, sau đó mới quặt ngược lên cổ qua rãnh khí thực quản bên trái. Do đường đi dài hơn và băng qua trung thất, thần kinh thanh quản quặt ngược bên trái có nguy cơ tổn thương cơ học và bệnh lý cao hơn đáng kể so với bên phải.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Về mặt chức năng vận động, thần kinh thanh quản quặt ngược chi phối toàn bộ các cơ nội tại thanh quản ngoại trừ cơ nhẫn giáp. Cụ thể, các cơ này bao gồm cơ nhẫn phễu sau (cơ mở thanh môn duy nhất), cơ nhẫn phễu bên và cơ phễu chéo, phễu ngang (các cơ khép thanh môn), cùng với cơ giáp phễu (tạo nên thân của dây thanh âm). Khi thần kinh thanh quản quặt ngược bị tổn thương hoàn toàn, dây thanh bên tương ứng mất khả năng vận động chủ động cả động tác khép lẫn động tác mở, thường cố định ở tư thế cận giữa hoặc tư thế trung gian.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Thần kinh thanh quản trên\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Thần kinh thanh quản trên (superior laryngeal nerve) tách ra từ hạch dưới của dây thần kinh lang thang ở vị trí ngang mức xương móng, sau đó chia thành hai nhánh riêng biệt:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhánh trong (internal branch):\u003C\u002Fstrong> Chọc qua màng giáp móng để cung cấp cảm giác bản thể và xúc giác cho niêm mạc thanh quản từ bờ trên dây thanh trở lên thanh môn và đáy lưỡi. Mất chức năng nhánh trong làm triệt tiêu phản xạ ho bảo vệ khi thức ăn hoặc dịch lỏng lọt vào thanh quản, dẫn đến biến chứng hít sặc âm thầm.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nhánh ngoài (external branch):\u003C\u002Fstrong> Đi dọc theo bờ ngoài cơ siết họng dưới để chi phối vận động duy nhất cho cơ nhẫn giáp. Cơ nhẫn giáp có nhiệm vụ kéo nghiêng sụn nhẫn ra sau hoặc kéo sụn giáp ra trước, làm căng và kéo dài dây thanh. Tổn thương nhánh ngoài khiến dây thanh mất độ căng sinh lý, làm giọng nói bị trầm đục, run rẩy và mất khả năng phát âm các nốt cao.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Tổn thương dẫn truyền thần kinh thanh quản có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên đường đi từ nhân vận động thần kinh lang thang ở hành não đến tận cùng các khớp thần kinh cơ thanh quản. Các nguyên nhân chính được ghi nhận trên lâm sàng bao gồm biến chứng phẫu thuật can thiệp, bệnh lý khối u ác tính xâm lấn, chấn thương thực thể và các tổn thương thần kinh vô căn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Biến chứng can thiệp phẫu thuật ngoại khoa\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Can thiệp ngoại khoa vùng cổ và trung thất là nguyên nhân phổ biến hàng đầu gây liệt thần kinh thanh quản. Trong phẫu thuật tuyến giáp và tuyến cận giáp, dây thần kinh thanh quản quặt ngược nằm sát cực dưới và mặt sau của các thùy tuyến giáp, đặc biệt tại khu vực dây chằng Berry, nơi thần kinh đi vào thanh quản dưới bờ cơ siết họng dưới. Thần kinh có thể bị tổn thương do các cơ chế cơ học như kéo giãn quá mức, kẹp cắt vô ý, thắt mạch máu chèn ép, tổn thương nhiệt do dao điện hoặc thiếu máu nuôi dưỡng vi mạch.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Theo tổng quan hệ thống của Jeannon và cs. (2009) khảo sát trên 27 công trình nghiên cứu với tổng số 25 000 bệnh nhân phẫu thuật tuyến giáp, tỷ lệ biến chứng liệt thần kinh thanh quản quặt ngược tạm thời trung bình là 9,8% và tỷ lệ liệt vĩnh viễn là 2,3%. Nguy cơ này tăng lên rõ rệt ở những trường hợp phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, nạo vét hạch di căn khoang trung thất cổ hoặc phẫu thuật mổ lại ở vùng mô sẹo xơ dính.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Để giảm thiểu rủi ro phẫu thuật, Nhóm nghiên cứu Giám sát thần kinh trong phẫu thuật quốc tế (Randolph và cs., 2010) đã đưa ra bản hướng dẫn đồng thuận tiêu chuẩn quốc tế về việc ứng dụng hệ thống giám sát điện sinh lý thần kinh trong mổ (intraoperative neuromonitoring, IONM). Kỹ thuật này cho phép phẫu thuật viên phát hiện sớm các tín hiệu cảnh báo suy giảm điện thế hoạt động cơ thanh quản trước khi tổn thương cấu trúc sợi trục trở nên không thể hồi phục.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bên cạnh phẫu thuật tuyến giáp, các phẫu thuật ngoại khoa khác cũng tiềm ẩn nguy cơ cao gây liệt thần kinh thanh quản:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật cột sống cổ lối trước:\u003C\u002Fstrong> Việc đặt dụng cụ banh vén cơ quan nội tạng vùng cổ sang một bên có thể gây đè ép kéo dài lên thần kinh thanh quản quặt ngược.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh:\u003C\u002Fstrong> Vùng phẫu trường sát cạnh bao cảnh chứa dây thần kinh lang thang và các nhánh thanh quản trên.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật lồng ngực và tim mạch:\u003C\u002Fstrong> Phẫu thuật cắt thực quản, cắt thùy phổi trên bên trái, sửa chữa phình động mạch chủ hoặc thông sàn liên thất dễ gây tổn thương thần kinh quặt ngược bên trái do đường đi uốn quanh quai động mạch chủ.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Khối u chèn ép và xâm lấn ác tính\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Bất kỳ tổn thương khối choán chỗ nào nằm dọc theo đường dẫn truyền của dây thần kinh lang thang và thần kinh thanh quản đều có thể gây liệt vận động dây thanh. Ung thư biểu mô tuyến giáp xâm lấn trực tiếp qua bao tuyến vào dây chằng Berry và thần kinh quặt ngược; ung thư thực quản đoạn cổ hoặc đoạn ngực; ung thư phổi (đặc biệt là khối u đỉnh phổi hoặc u trung thất cạnh phế quản gốc trái); và các khối u lympho trung thất chèn ép quai thần kinh. Liệt dây thanh xuất hiện tự phát mà không có tiền sử can thiệp ngoại khoa vùng cổ luôn là một dấu hiệu báo động lâm sàng đòi hỏi phải tầm soát kỹ lưỡng bệnh lý ác tính tiềm ẩn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Chấn thương và nguyên nhân nội khoa vô căn\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Chấn thương cổ kín hoặc chấn thương xuyên thấu làm đụng dập, rách vỡ sụn thanh quản hoặc đứt rách các thân thần kinh. Đặt ống nội khí quản kéo dài cũng có thể gây liệt dây thanh do bóng chèn khí quản bơm quá căng đè ép vào nhánh tận của thần kinh quặt ngược nằm ép giữa sụn nhẫn và niêm mạc thanh quản.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Liệt thần kinh thanh quản vô căn thường được cho là thứ phát sau các đợt nhiễm virus đường hô hấp trên cấp tính gây viêm dây thần kinh ngoại biên tương tự như hội chứng liệt mặt Bell. Ngoài ra, các bệnh lý thần kinh hệ thống như đột quỵ nhồi máu cầu não hoặc hành não, xơ cứng rải rác, bệnh thần kinh vận động teo cơ một bên và ngộ độc kim loại nặng cũng có thể biểu hiện bằng tình trạng liệt vận động thanh quản.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại lâm sàng và triệu chứng cơ năng\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Biểu hiện lâm sàng của liệt thần kinh thanh quản phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: tổn thương xảy ra ở một bên hay hai bên, và tư thế cố định của dây thanh trên bình diện thanh môn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Liệt thần kinh thanh quản một bên\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Liệt một bên là thể bệnh hay gặp nhất trên thực hành lâm sàng. Triệu chứng nổi bật nhất là rối loạn giọng nói, biểu hiện bằng giọng khàn đục, mất âm sắc, nói hụt hơi và nhanh mệt khi giao tiếp. Nguyên nhân của tình trạng này là do dây thanh bị liệt không thể khép kín vào đường giữa trong thì phát âm, tạo ra một khe hở thanh môn lớn khiến luồng khí từ phổi thoát ra ngoài một cách lãng phí và tạo ra tiếng rít loạn âm.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bên cạnh giọng nói, bệnh nhân có thể gặp khó khăn khi ho hoặc hắng giọng do không thể đóng kín thanh môn để tạo áp lực dương trong lồng ngực trước khi bật hơi. Triệu chứng nuốt sặc, đặc biệt là với thức ăn lỏng, xuất hiện trong giai đoạn đầu do thanh quản không đóng kín kịp thời để che chắn khí quản trong quá trình nuốt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Liệt thần kinh thanh quản hai bên\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Liệt hai bên là một tình trạng cấp cứu hô hấp nghiêm trọng đe dọa trực tiếp tính mạng bệnh nhân. Khi cả hai dây thanh đều bị liệt, vị trí cố định của chúng quyết định toàn bộ bức tranh lâm sàng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Liệt hai bên ở tư thế khép (adduction):\u003C\u002Fstrong> Hai dây thanh nằm sát đường giữa và không thể mở ra trong thì hít vào. Khẩu kính đường thở bị hẹp chỉ còn một khe nhỏ. Bệnh nhân rơi vào tình trạng khó thở thanh quản dữ dội, thở rít thì hít vào, co kéo các hõm ức và cơ hô hấp phụ, tím tái và thiếu oxy máu nghiêm trọng, đòi hỏi can thiệp cấp cứu lập tức để thông khí. Trong thể bệnh này, nghịch lý là giọng nói của bệnh nhân vẫn tương đối trong trẻo do hai dây thanh vẫn tiếp xúc được với nhau.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Liệt hai bên ở tư thế mở (abduction):\u003C\u002Fstrong> Hai dây thanh cố định ở vị trí cách xa đường giữa. Bệnh nhân hoàn toàn mất giọng, không thể nói thành tiếng và hít sặc dịch vị, thức ăn liên tục vào phổi, dẫn đến viêm phổi hít tái diễn đe dọa tính mạng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Quy trình chẩn đoán chuyên sâu\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Chẩn đoán xác định liệt thần kinh thanh quản đòi hỏi kết hợp giữa thăm khám lâm sàng tỉ mỉ và các phương tiện cận lâm sàng chuyên biệt nhằm làm rõ mức độ tổn thương, vị trí dây thần kinh bị ảnh hưởng và nguyên nhân gốc rễ.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Nội soi thanh quản và thanh quản hoạt nghiệm\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Theo bản Hướng dẫn thực hành lâm sàng về Khàn tiếng của Hội Tai Mũi Họng - Phẫu thuật Đầu Cổ Hoa Kỳ (Stachler và cs., 2018), mọi trường hợp bệnh nhân có biểu hiện khàn giọng hoặc biến đổi giọng nói kéo dài không cải thiện sau 4 tuần, hoặc xuất hiện sớm hơn ở những đối tượng có nguy cơ cao như mới trải qua phẫu thuật vùng cổ, bắt buộc phải được thăm khám và quan sát trực tiếp thanh quản bằng phương pháp nội soi.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Nội soi thanh quản ống mềm qua đường mũi hoặc ống cứng qua đường miệng cho phép bác sĩ quan sát chi tiết hình thái và cử động của dây thanh trong cả thì thở lẫn thì phát âm. Các dấu hiệu điển hình của liệt dây thanh một bên bao gồm:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>Dây thanh bên liệt bất động hoàn toàn hoặc giảm động nghiêm trọng, cố định ở tư thế giữa, cận giữa hoặc trung gian.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Sụn phễu bên liệt đổ gục ra trước và vào trong do mất trương lực cơ giữ sụn.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Thân dây thanh bị teo nhỏ, nhẽo và cong lõm bờ tự do theo thời gian.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>Dây thanh đối diện cử động bù trừ bằng cách khép vượt quá đường giữa để cố gắng chạm vào dây thanh bên liệt khi phát âm.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Phương pháp nội soi thanh quản hoạt nghiệm (videostroboscopy) sử dụng ánh sáng chớp đồng bộ với tần số dao động của dây thanh giúp phân tích chi tiết làn sóng niêm mạc, sự đối xứng chu kỳ rung và độ khép kín của thanh môn, cung cấp dữ liệu định lượng có giá trị cao cho việc lập kế hoạch can thiệp tái tạo.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Đo điện cơ thanh quản\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Đo điện cơ thanh quản (laryngeal electromyography, LEMG) là công cụ chuyên biệt để phân biệt giữa liệt vận động do tổn thương thần kinh thực thể và tình trạng bất động dây thanh do cứng khớp nhẫn phễu hoặc sẹo dính thanh thất sau chấn thương hay đặt ống nội khí quản. Kỹ thuật này sử dụng điện cực kim đưa qua da vào cơ giáp phễu hoặc cơ nhẫn phễu sau để ghi lại các điện thế tự phát và điện thế hoạt động của đơn vị vận động. Sự hiện diện của các sóng nhọn thoái hóa hoặc điện thế rung giật sợi cơ biểu thị tình trạng mất phân bố thần kinh cơ cấp tính, trong khi các điện thế đa pha tái phân bố thần kinh cho thấy tiềm năng phục hồi vận động thuận lợi.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Chẩn đoán hình ảnh toàn diện\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Khi căn nguyên gây liệt thần kinh thanh quản chưa rõ ràng sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) có tiêm thuốc cản quang mở rộng toàn bộ lộ trình của dây thần kinh từ nền sọ, góc cầu tiểu não, vùng cổ qua lỗ ngực trên xuống tận quai động mạch chủ và cửa sổ phế chủ ở trung thất. Thăm khám này giúp loại trừ triệt để các tổn thương ác tính chèn ép đường đi thần kinh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Chiến lược can thiệp và điều trị\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mục tiêu điều trị của liệt thần kinh thanh quản là phục hồi chất lượng giọng nói, ngăn ngừa biến chứng hít sặc bảo vệ đường thở dưới, và đảm bảo thông khí đầy đủ đối với các trường hợp khó thở do hẹp thanh môn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Theo dõi diễn tiến tự nhiên và âm trị liệu\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Ở những bệnh nhân bị liệt dây thanh một bên sau phẫu thuật nhưng dây thần kinh không bị cắt đứt hoàn toàn, chức năng dẫn truyền có khả năng tự phục hồi nhờ hiện tượng tái sinh sợi trục thần kinh. Trong nghiên cứu đoàn hệ của Lee và cs. (2020) theo dõi 198 bệnh nhân liệt dây thanh một bên, có 99 bệnh nhân (tương đương 50,0%) đạt được sự phục hồi vận động tự nhiên của dây thanh. Thời gian phục hồi trung vị được ghi nhận là 3,0 tháng (với khoảng tứ phân vị từ 2,0 đến 6,0 tháng), và có tới 86,9% số trường hợp hồi phục xảy ra trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi phát hiện bệnh.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Do đó, chiến lược tiếp cận ban đầu thường là theo dõi bảo tồn kết hợp âm trị liệu (voice therapy). Bác sĩ chuyên khoa âm ngữ hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các bài tập thích nghi giọng, tập điều phối hơi thở bụng và tăng cường sự khép kín bù trừ của dây thanh bên lành, giúp cải thiện đáng kể hiệu quả phát âm mà chưa cần can thiệp dao kéo.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Tiêm làm đầy thanh quản tạm thời\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Tiêm làm đầy thanh quản (injection laryngoplasty) là kỹ thuật đưa một chất độn sinh học vào khoang cạnh thanh môn dưới hướng dẫn của nội soi để đẩy dây thanh bị liệt dịch chuyển vào gần đường giữa. Phương pháp này giúp thanh môn khép kín hoàn toàn khi phát âm và nuốt mà không làm thay đổi cấu trúc giải phẫu vĩnh viễn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Các vật liệu sinh học thường dùng bao gồm carboxymethylcellulose hoặc acid hyaluronic có thời gian tự tiêu từ 3 đến 6 tháng, đóng vai trò như một giải pháp bắc cầu lý tưởng trong giai đoạn chờ đợi thần kinh phục hồi. Phân tích gộp của Vila và cs. (2018) trên 4 nghiên cứu đoàn hệ với 275 bệnh nhân đã chứng minh rằng việc thực hiện tiêm làm đầy thanh quản sớm trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi khởi phát liệt dây thanh một bên giúp giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật định hình sụn giáp vĩnh viễn về sau, với tỷ số nguy cơ gộp đạt 0,25 (khoảng tin cậy 95% từ 0,14 đến 0,45).\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Phẫu thuật định hình khung sụn thanh quản vĩnh viễn\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Khi tình trạng liệt dây thanh một bên kéo dài quá 6 tháng không có dấu hiệu phục hồi vận động trên điện cơ thanh quản và các biện pháp bảo tồn thất bại, chỉ định can thiệp phẫu thuật vĩnh viễn được đặt ra. Nghiên cứu của Lee và cs. (2020) chỉ ra rằng ở nhóm bệnh nhân không hồi phục tự nhiên phải trải qua phẫu thuật làm khép thanh môn vĩnh viễn, thời gian trung vị từ khi khởi phát triệu chứng đến lúc tiến hành phẫu thuật là 10,0 tháng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Phương pháp can thiệp chuẩn vàng là phẫu thuật mở khung thanh quản loại một (Isshiki type I thyroplasty \u002F medialization thyroplasty). Phẫu thuật viên rạch da cổ, mở một cửa sổ nhỏ trên cánh sụn giáp bên liệt và đặt một mảnh ghép vĩnh viễn bằng vật liệu trơ sinh học (như khối silicone hoặc dải Gore-Tex) để đẩy dây thanh vào trong đường giữa. Phẫu thuật này được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, cho phép phẫu thuật viên yêu cầu bệnh nhân đếm số hoặc phát âm trực tiếp trong lúc đặt miếng ghép để tinh chỉnh độ dày vật liệu sao cho đạt được giọng nói tối ưu nhất.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong trường hợp khe hở thanh môn phía sau quá rộng do sụn phễu bị trật hoặc lệch nhiều, kỹ thuật xoay khép sụn phễu (arytenoid adduction) có thể được kết hợp cùng phẫu thuật định hình sụn giáp để đưa mỏm thanh âm của sụn phễu áp sát đường giữa.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Xử trí cấp cứu và phẫu thuật trong liệt thanh quản hai bên\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Đối với liệt hai dây thanh thể khép gây suy hô hấp cấp, ưu tiên hàng đầu là khai thông đường thở cứu sống bệnh nhân. Mở khí quản cấp cứu là biện pháp can thiệp đầu tay an toàn nhất để giải quyết tình trạng khó thở tức thì.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khi tình trạng toàn thân đã ổn định, các phẫu thuật mở rộng khe thanh môn dài hạn có thể được cân nhắc để giúp bệnh nhân rút được ống mở khí quản:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật cắt một phần dây thanh sau (posterior cordotomy):\u003C\u002Fstrong> Sử dụng năng lượng laser CO2 qua kính hiển vi nội soi vi phẫu để cắt bỏ một phần nhỏ bờ sau của một bên dây thanh, tạo ra một lối thoát khí phụ trong thì hít vào.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Phẫu thuật cắt sụn phễu nội thanh quản (arytenoidectomy):\u003C\u002Fstrong> Cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần thân sụn phễu qua đường nội soi thanh quản bằng laser hoặc dao mổ vi phẫu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Tuy nhiên, các can thiệp mở rộng thanh môn luôn tạo ra một sự đánh đổi sinh lý khó tránh khỏi: mở rộng khe thở để cải thiện thông khí sẽ làm tăng khe hở khi phát âm và nuốt, khiến giọng nói trở nên khàn hơn và làm tăng nguy cơ hít sặc thức ăn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>So sánh các phương pháp can thiệp điều trị\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Bảng dưới đây tổng hợp và đối chiếu các đặc tính lâm sàng cơ bản của các phương pháp điều trị liệt thần kinh thanh quản một bên hiện hành:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Phương pháp\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Bản chất kỹ thuật\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Thời điểm áp dụng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Khả năng hoàn tác\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ưu điểm chính\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Hạn chế chính\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Âm trị liệu (Voice therapy)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tập luyện chức năng phát âm và bù trừ cơ hoành\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Ngay khi khởi phát triệu chứng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hoàn toàn thích nghi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Không xâm lấn, không có biến chứng phẫu thuật\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Chỉ hiệu quả khi khe hở thanh môn nhỏ hoặc vừa\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Tiêm làm đầy thanh quản (Injection laryngoplasty)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Bơm chất làm đầy sinh học tự tiêu qua nội soi\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sớm trong 6 tháng đầu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Tự tiêu sau 3 đến 6 tháng\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Cải thiện giọng nói nhanh chóng, thủ thuật ít xâm lấn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hiệu quả tạm thời, cần tiêm nhắc lại nếu chưa hồi phục\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Định hình sụn giáp loại một (Type I thyroplasty)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đặt mảnh ghép vĩnh viễn qua cửa sổ sụn giáp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sau 6 tháng không hồi phục\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Có thể tháo bỏ mảnh ghép\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hiệu quả vĩnh viễn, tinh chỉnh giọng nói ngay trong mổ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Phẫu thuật mở vùng cổ, đòi hỏi phẫu thuật viên chuyên khoa sâu\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Khép sụn phễu (Arytenoid adduction)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khâu kéo mỏm cơ sụn phễu vào trong\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Sau 6 tháng, phối hợp định hình sụn giáp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khó hoàn tác cấu trúc\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đóng kín hoàn hảo khe hở thanh môn phía sau\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Kỹ thuật phức tạp, thời gian phẫu thuật kéo dài\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Hạn chế và những vấn đề còn mở trong nghiên cứu\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Mặc dù các tiến bộ về vi phẫu thanh quản và chẩn đoán điện sinh lý đã nâng cao đáng kể chất lượng sống của bệnh nhân liệt thần kinh thanh quản, y học hiện đại vẫn đối mặt với những thách thức chuyên môn lớn:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khả năng tái lập cử động sinh lý nguyên bản:\u003C\u002Fstrong> Các phương pháp phẫu thuật hiện nay như định hình sụn giáp hay tiêm làm đầy bản chất chỉ là những can thiệp tĩnh học (static medialization). Chúng đưa dây thanh về vị trí cố định gần đường giữa để hỗ trợ rung âm thanh thụ động chứ không thể phục hồi được khả năng co giãn chủ động theo chu kỳ sinh lý của các cơ nội tại thanh quản.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng tái phân bố thần kinh lạc hướng (synkinesis):\u003C\u002Fstrong> Khi các sợi trục thần kinh vận động tái sinh sau tổn thương kéo giãn hoặc đụng dập, các sợi thần kinh vốn chi phối cơ mở thanh môn (cơ nhẫn phễu sau) có thể đi nhầm vào cơ khép thanh môn (cơ giáp phễu hoặc nhẫn phễu bên) và ngược lại. Hậu quả là xuất hiện các cử động co cơ đồng vận bất thường, khiến dây thanh rung giật không đồng bộ hoặc cố định bất động dù trên điện cơ vẫn có tín hiệu điện thế đơn vị vận động.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Tiềm năng của kỹ thuật nối và chuyển ghép thần kinh:\u003C\u002Fstrong> Kỹ thuật tái phân bố thần kinh thanh quản (laryngeal reinnervation) bằng cách nối nhánh thần kinh quai cổ (ansa cervicalis) vào nhánh thần kinh quặt ngược đã chứng minh khả năng duy trì trương lực khối cơ giáp phễu và ngăn chặn hiện tượng teo cơ mạn tính. Tuy nhiên, phương pháp này chưa thể tái lập được khả năng điều chỉnh cao độ giọng nói linh hoạt và đòi hỏi nhiều nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng để xác lập chỉ định tối ưu.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","Liệt thần kinh thanh quản","laryngeal nerve palsy",[20,21,22],"liệt dây thần kinh thanh quản","liệt dây thanh","liệt vận động thanh quản","Liệt thần kinh thanh quản là tình trạng suy giảm hoặc mất hoàn toàn chức năng dẫn truyền của các nhánh thần kinh chi phối cơ nội tại thanh quản, dẫn tới rối loạn vận động dây thanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát âm, thông khí đường thở.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES",[26,34,42,49,57],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":33},"Stachler, R. J., Francis, D. O., Schwartz, S. R., Damask, C. C., Digoy, G. P., Krouse, H. J., McCoy, P. J., Ouellette, D. R., Patel, R. R., Reavis, C. C. W., Smith, L. J., Smith, M., Strode, S. W., Woo, P., & Nnacheta, L. C. (2018). Clinical Practice Guideline: Hoarseness (Dysphonia) (Update). Otolaryngology–Head and Neck Surgery, 158(1_suppl), S1–S42.","Clinical Practice Guideline: Hoarseness (Dysphonia) (Update)","Stachler, R. J., Francis, D. O., Schwartz, S. R., Damask, C. C., Digoy, G. P., Krouse, H. J., McCoy, P. J., Ouellette, D. R., Patel, R. R., Reavis, C. C. W., Smith, L. J., Smith, M., Strode, S. W., Woo, P., & Nnacheta, L. C.","Otolaryngology–Head and Neck Surgery, 158(1_suppl), S1–S42",2018,"10.1177\u002F0194599817751030","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1177\u002F0194599817751030",{"citationText":35,"title":36,"authors":37,"source":38,"year":39,"doi":40,"url":41},"Jeannon, J.-P., Orabi, A. A., Bruch, G. A., Abdalsalam, H. A., & Simo, R. (2009). Diagnosis of recurrent laryngeal nerve palsy after thyroidectomy: a systematic review. International Journal of Clinical Practice, 63(4), 624–629.","Diagnosis of recurrent laryngeal nerve palsy after thyroidectomy: a systematic review","Jeannon, J.-P., Orabi, A. A., Bruch, G. A., Abdalsalam, H. A., & Simo, R.","International Journal of Clinical Practice, 63(4), 624–629",2009,"10.1111\u002Fj.1742-1241.2008.01875.x","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1111\u002Fj.1742-1241.2008.01875.x",{"citationText":43,"title":44,"authors":45,"source":46,"year":31,"doi":47,"url":48},"Vila, P. M., Bhatt, N. K., & Paniello, R. C. (2018). Early‐injection laryngoplasty may lower risk of thyroplasty: A systematic review and meta‐analysis. The Laryngoscope, 128(4), 935–940.","Early‐injection laryngoplasty may lower risk of thyroplasty: A systematic review and meta‐analysis","Vila, P. M., Bhatt, N. K., & Paniello, R. C.","The Laryngoscope, 128(4), 935–940","10.1002\u002Flary.26894","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Flary.26894",{"citationText":50,"title":51,"authors":52,"source":53,"year":54,"doi":55,"url":56},"Lee, D.-H., Lee, S.-Y., Lee, M., Seok, J., Park, S. J., Jin, Y. J., & Lee, D. Y. (2020). Natural Course of Unilateral Vocal Fold Paralysis and Optimal Timing of Permanent Treatment. JAMA Otolaryngology–Head & Neck Surgery, 146(1), 30–35.","Natural Course of Unilateral Vocal Fold Paralysis and Optimal Timing of Permanent Treatment","Lee, D.-H., Lee, S.-Y., Lee, M., Seok, J., Park, S. J., Jin, Y. J., & Lee, D. Y.","JAMA Otolaryngology–Head & Neck Surgery, 146(1), 30–35",2020,"10.1001\u002Fjamaoto.2019.3072","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1001\u002Fjamaoto.2019.3072",{"citationText":58,"title":59,"authors":60,"source":61,"year":62,"doi":63,"url":64},"Randolph, G. W., Dralle, H., Abdullah, H., Barczynski, M., Bellantone, R., Brauckhoff, M., Carnaille, B., Cherenko, S., Chiang, F.-Y., Dionigi, G., Finck, C., Hartl, D., Kamani, D., Lorenz, K., Miccoli, P., Mihai, R., Miyauchi, A., Orloff, L., Perrier, N., Poveda, M. D., Romanchishen, A., Serpell, J., Sitges-Serra, A., Sloan, G., Van Slycke, S., Snyder, S., Takami, H., Volpi, E., & Woodson, G. (2010). Electrophysiologic recurrent laryngeal nerve monitoring during thyroid and parathyroid surgery: International standards guideline statement. The Laryngoscope, 121(Suppl 1), S1–S16.","Electrophysiologic recurrent laryngeal nerve monitoring during thyroid and parathyroid surgery: International standards guideline statement","Randolph, G. W., Dralle, H., Abdullah, H., Barczynski, M., Bellantone, R., Brauckhoff, M., Carnaille, B., Cherenko, S., Chiang, F.-Y., Dionigi, G., Finck, C., Hartl, D., Kamani, D., Lorenz, K., Miccoli, P., Mihai, R., Miyauchi, A., Orloff, L., Perrier, N., Poveda, M. D., Romanchishen, A., Serpell, J., Sitges-Serra, A., Sloan, G., Van Slycke, S., Snyder, S., Takami, H., Volpi, E., & Woodson, G.","The Laryngoscope, 121(Suppl 1), S1–S16",2010,"10.1002\u002Flary.21119","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1002\u002Flary.21119",[66,69,72,75],{"question":67,"answer":68},"Nguyên nhân nào thường gặp nhất gây liệt thần kinh thanh quản?","Nguyên nhân hàng đầu gây liệt thần kinh thanh quản là các biến chứng cơ học trong can thiệp phẫu thuật vùng cổ và lồng ngực, đặc biệt là phẫu thuật tuyến giáp và tuyến cận giáp. Ngoài ra, tình trạng này còn có thể bắt nguồn từ các khối u ác tính xâm lấn chèn ép đường đi thần kinh, chấn thương thực thể, hoặc tổn thương thần kinh sau nhiễm virus cấp tính.",{"question":70,"answer":71},"Liệt thần kinh thanh quản một bên có thể tự hồi phục được không?","Liệt thần kinh thanh quản một bên có khả năng tự phục hồi vận động tự nhiên nếu sợi trục thần kinh không bị cắt đứt hoàn toàn mà chỉ bị kéo giãn hoặc đụng dập tạm thời. Phần lớn các trường hợp có khả năng hồi phục sinh lý đều diễn ra trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng, với sự hỗ trợ tích cực từ các bài tập âm trị liệu thích nghi.",{"question":73,"answer":74},"Khi nào bệnh nhân liệt thần kinh thanh quản cần can thiệp phẫu thuật vĩnh viễn?","Chỉ định phẫu thuật định hình khung sụn thanh quản vĩnh viễn thường được đặt ra khi tình trạng liệt dây thanh kéo dài quá 6 tháng mà không có dấu hiệu phục hồi trên điện cơ thanh quản và các biện pháp bảo tồn thất bại. Phương pháp phổ biến nhất là phẫu thuật mở khung thanh quản loại một, sử dụng miếng ghép trơ sinh học để đẩy dây thanh bị liệt vào đường giữa giúp khép kín thanh môn.",{"question":76,"answer":77},"Liệt thần kinh thanh quản hai bên nguy hiểm như thế nào?","Liệt thần kinh thanh quản hai bên ở tư thế khép là một cấp cứu đường thở tối khẩn cấp do hai dây thanh bị cố định sát đường giữa làm bít tắc khẩu kính hô hấp. Tình trạng này gây khó thở thanh quản dữ dội thì hít vào, thiếu oxy máu cấp tính và đe dọa tính mạng nếu không được khai thông đường thở kịp thời bằng thủ thuật mở khí quản cấp cứu.",{"id":79,"researcherId":10,"name":80,"imageUrl":81},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":79,"researcherId":10,"name":80,"imageUrl":81},[13],false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.564+00:00","2026-09-22T13:29:08.578+00:00","2026-09-22T13:29:08.532+00:00",0,[91,100,106,111,117,122,128,134,139,144],{"id":92,"title":93,"term":92,"englishTitle":94,"definition":95,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":101,"title":102,"term":103,"englishTitle":104,"definition":105,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"dass 21","DASS-21 là gì? Cấu trúc, cách tính điểm và ý nghĩa sàng lọc","DASS-21","Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items","DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales - 21 Items) là thang đo tự báo cáo gồm 21 câu hỏi trắc lượng tâm lý, được sử dụng để sàng lọc và đánh giá mức độ nghiêm trọng của ba trạng thái cảm xúc tiêu cực: trầm cảm, lo âu và căng thẳng.",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":109,"definition":110,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"brca1","BRCA1 là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","BRCA1 DNA repair associated","BRCA1 là gen ức chế khối u nằm trên nhiễm sắc thể 17q21 của người, mã hóa một protein nhân có vai trò duy trì tính toàn vẹn của bộ gen thông qua cơ chế sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA bằng tái tổ hợp tương đồng.",{"id":112,"title":113,"term":114,"englishTitle":115,"definition":116,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"pi rads","PI-RADS là gì? Thang điểm đánh giá MRI tuyến tiền liệt","PI-RADS","Prostate Imaging Reporting and Data System","PI-RADS là hệ thống chuẩn hóa quốc tế phân tầng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI).",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":120,"definition":121,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"tình trạng sức khỏe","Tình trạng sức khỏe là gì? Định nghĩa WHO, thang đo SF-36 và các chỉ số","Health Status","Tình trạng sức khỏe là trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân hay quần thể theo định nghĩa WHO, được đo lường qua các thang đo chức năng như SF-36 và các chỉ số dịch tễ học.",{"id":123,"title":124,"term":125,"englishTitle":126,"definition":127,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"bệnh hbh","Bệnh HbH là gì? Các nghiên cứu khoa học về Bệnh HbH","Bệnh HbH","Hemoglobin H disease","Bệnh HbH (bệnh Hemoglobin H) là một thể bệnh alpha-thalassemia mức độ trung gian do mất chức năng 3 trong số 4 gen alpha-globin, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng chuỗi alpha-globin và làm dư thừa các chuỗi beta tự do kết tụ thành tetramer beta-4 không bền vững (Hemoglobin H), gây thiếu máu tán huyết mạn tính.",{"id":129,"title":130,"term":131,"englishTitle":132,"definition":133,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"mô sẹo","Mô sẹo là gì? Quá trình hình thành, phân loại và điều trị","Mô sẹo","scar tissue","Mô sẹo là vùng mô liên kết sợi giàu collagen hình thành trong quá trình tự làm lành sau tổn thương mô hoặc phẫu thuật để thay thế mô bình thường.",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":137,"definition":138,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"báo cáo ca bệnh","Báo cáo ca bệnh là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","case report","Báo cáo ca bệnh (case report) là một ấn phẩm y học mô tả chi tiết và có hệ thống về triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và diễn tiến bất thường hoặc hiếm gặp của một bệnh nhân đơn lẻ trong thực hành lâm sàng.",{"id":140,"title":141,"term":140,"englishTitle":142,"definition":143,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"adrenalin","Adrenalin là gì? Công thức, cơ chế tác dụng và ứng dụng cấp cứu sinh tử","adrenaline","Adrenalin (epinephrine) là hormone và chất dẫn truyền thần kinh nhóm catecholamine do tủy thượng thận tiết ra, giữ vai trò thuốc cấp cứu đầu tay trong sốc phản vệ và hồi sinh tim phổi.",{"id":145,"title":146,"term":145,"englishTitle":145,"definition":147,"discipline":24,"disciplineCode":96,"disciplineLabel":97,"disciplineColor":98,"disciplineIcon":99},"apexification","Apexification là gì? Kỹ thuật đóng chóp răng chưa hoàn thiện","Apexification (thủ thuật đóng chóp) là một phương pháp điều trị nội nha nhằm kích thích sự hình thành hàng rào khoáng hóa cứng (calcified barrier) hoặc đặt trực tiếp một nút chặn nhân tạo tại vùng cuống của răng vĩnh viễn chưa trưởng thành bị hoại tử tủy và mở rộng chóp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trám bít ống tủy kín khít hoàn toàn."]