[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_l%E1%BB%B1c%20li%C3%AAn%20ph%C3%A2n%20t%E1%BB%AD{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_l%E1%BB%B1c%20li%C3%AAn%20ph%C3%A2n%20t%E1%BB%AD":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":10,"definition":18,"discipline":19,"references":20,"faqs":68,"createUser":78,"publishUser":82,"keywords":83,"keywordCount":91,"enrichTopicLink":92,"status":93,"createTime":94,"updateTime":95,"publishTime":96,"linkEnrichedTime":97,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":98,"wikidataId":10,"relateTopics":99},"lực liên phân tử","Lực liên phân tử là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan","Tổng quan học thuật về lực liên phân tử: bản chất cơ học lượng tử, các lực Van der Waals, liên kết hydro, mô hình Lennard-Jones và ứng dụng hóa lý sinh học.","\u003Cp>Lực liên phân tử (intermolecular forces) là các tương tác hút hoặc đẩy diễn ra giữa các phân tử độc lập hoặc giữa các cụm nguyên tử không liên kết ion hay cộng hóa trị, đóng vai trò chi phối trạng thái tập hợp của vật chất và quyết định các tính chất hóa lý vĩ mô của hệ thống. Khác với các liên kết hóa học nội phân tử giữ các nguyên tử lại với nhau để tạo thành cấu trúc phân tử, lực liên phân tử xuất hiện giữa các thực thể hóa học riêng biệt và có cường độ năng lượng yếu hơn đáng kể. Mặc dù có độ lớn nhỏ hơn năng lượng liên kết cộng hóa trị từ một đến hai bậc độ lớn, lực liên phân tử lại là nhân tố chủ chốt kiểm soát quá trình chuyển pha, độ nhớt, sức căng bề mặt, khả năng hòa tan cũng như cấu trúc bậc cao của các đại phân tử sinh học phức tạp trong thế giới tự nhiên.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Bản chất vật lý và cơ sở lượng tử\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Về mặt bản chất vật lý, lực liên phân tử bắt nguồn từ các tương tác điện từ giữa các phân bố điện tích trong không gian phân tử. Tuy nhiên, việc mô tả đầy đủ các lực này không thể chỉ dựa vào tĩnh điện học cổ điển mà phải dựa trên nền tảng của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%C6%A1%20h%E1%BB%8Dc%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}}. Khi khảo sát tương tác giữa các hệ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22electron%22%7D}} ở cấp độ vi mô, Pauling (năm 1931) đã ghi nhận sự chuyển biến sâu sắc của lý thuyết liên kết và tương tác phân tử thông qua nhận định: \"During the last four years the problem of the nature of the chemical bond has been attacked by theoretical physicists, especially Heitler and London, by the application of the quantum mechanics.\" Sự phát triển của cơ học lượng tử đã mở đường cho việc phân định ranh giới giữa liên kết hóa học có sự dùng chung electron và các tương tác phi liên kết liên phân tử.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong một tổng quan học thuật chuyên sâu về các mô hình tương tác phân tử trên Chemical Reviews, Hermann và các cộng sự (năm 2017) đã nhấn mạnh tầm quan trọng bao trùm của nhóm lực này: \"Noncovalent van der Waals (vdW) or dispersion forces are ubiquitous in nature and influence the structure, stability, dynamics, and function of molecules and materials throughout chemistry, biology, physics, and materials science\". Các tác giả cũng giải thích rõ nguồn gốc vi mô của tương tác phi liên kết: \"These ubiquitous interactions are quantum mechanical in origin and arise from electrostatic interactions between fluctuations in the electronic charge density\". Như vậy, ngay cả khi các phân tử không sở hữu mômen lưỡng cực vĩnh cửu, sự chuyển động hỗn loạn và thăng giáng tức thời của đám mây electron lượng tử vẫn liên tục tạo ra các lưỡng cực cảm ứng ngắn hạn, sinh ra lực hút giữa các hạt lân cận.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Phân loại các lực liên phân tử chủ yếu\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Dựa trên bản chất điện tích và cơ chế tương tác, các lực liên phân tử được chia thành ba nhóm lớn: tập hợp lực Van der Waals, liên kết hydro và tương tác ion - lưỡng cực.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>1. Tập hợp lực Van der Waals\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Lực Van der Waals là thuật ngữ chung chỉ các tương tác hút phi cộng hóa trị giữa các phân tử trung hòa, bao gồm ba thành phần tương tác riêng biệt:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tương tác định hướng (Lực Keesom):\u003C\u002Fstrong> Xuất hiện giữa các phân tử có cực sở hữu mômen lưỡng cực vĩnh cửu. Khi các phân tử chuyển động nhiệt, các đầu mang điện tích trái dấu có xu hướng hút lẫn nhau và định hướng không gian, tạo nên thế năng tương tác trung bình tỷ lệ nghịch với lũy thừa bậc sáu của khoảng cách giữa hai tâm phân tử và tỷ lệ nghịch với nhiệt độ tuyệt đối.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tương tác cảm ứng (Lực Debye):\u003C\u002Fstrong> Xảy ra giữa một phân tử có cực mang lưỡng cực vĩnh cửu và một phân tử phi cực. Điện trường do lưỡng cực vĩnh cửu tạo ra sẽ làm biến dạng đám mây electron của phân tử phi cực lân cận, gây ra một lưỡng cực cảm ứng tạm thời. Lực hút giữa lưỡng cực vĩnh cửu và lưỡng cực cảm ứng này độc lập với nhiệt độ và cũng suy giảm theo hàm nghịch đảo khoảng cách bậc sáu.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Tương tác phân tán (Lực London):\u003C\u002Fstrong> Là thành phần phổ biến nhất, tồn tại giữa mọi phân tử hoặc nguyên tử, kể cả các khí hiếm hoàn toàn trung hòa và đối xứng. London (năm 1937) đã chứng minh bằng cơ học lượng tử rằng sự dao động vị trí của các electron sinh ra một lưỡng cực tức thời mang tính nhất thời; lưỡng cực này phân cực hóa các hạt bên cạnh và tạo nên lực hút liên phân tử phổ quát. Cường độ lực phân tán London phụ thuộc trực tiếp vào khả năng phân cực hóa (polarizability) của thể tích đám mây electron.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>2. Liên kết hydro (Hydrogen bonding)\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Liên kết hydro là một trường hợp tương tác liên phân tử đặc biệt có cường độ mạnh hơn lực Van der Waals thông thường nhưng vẫn yếu hơn liên kết cộng hóa trị nội phân tử. Để giải quyết các bất đồng học thuật kéo dài về bản chất của liên kết này, Ủy ban Danh pháp Hóa lý của Liên minh Quốc tế về Hóa học Thuần túy và Ứng dụng (IUPAC) do Arunan và các cộng sự (năm 2011) chủ trì đã ban hành khuyến nghị tiêu chuẩn: \"The hydrogen bond is an attractive interaction between a hydrogen atom from a molecule or a molecular fragment X–H in which X is more electronegative than H, and an atom or a group of atoms in the same or a different molecule, in which there is evidence of bond formation\".\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Khuyến nghị của IUPAC cũng làm sáng tỏ cơ chế vật lý phức hợp của liên kết này: \"The forces involved in the formation of a hydrogen bond include those of an electrostatic origin, those arising from charge transfer between the donor and acceptor leading to partial covalent bond formation between H and Y, and those originating from dispersion\". Do đó, liên kết hydro không đơn thuần là tương tác tĩnh điện lưỡng cực cổ điển mà chứa đựng một phần bản chất cộng hóa trị có định hướng không gian nghiêm ngặt.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>3. Tương tác ion - lưỡng cực\u003C\u002Fh3>\n\n\u003Cp>Tương tác ion - lưỡng cực phát sinh khi một ion mang điện tích tự do tiếp xúc với các phân tử có cực. Ion sẽ hút cực mang điện tích trái dấu của phân tử phân cực và đẩy cực cùng dấu. Lực này đóng vai trò quyết định trong việc phá vỡ mạng lưới tinh thể ion và hình thành lớp vỏ {{topic|%7B%22topic%22%3A%22dung%20m%C3%B4i%22%7D}} hóa (solvat hóa) bền vững khi hòa tan các hợp chất muối vào trong môi trường lỏng phân cực.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Mô hình toán học và thế năng tương tác Lennard-Jones\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Để định lượng tương tác liên phân tử giữa hai hạt trung hòa hình cầu, mô hình thế năng Lennard-Jones là một trong những công cụ toán học kinh điển và được ứng dụng rộng rãi nhất trong nhiệt động học thống kê và mô phỏng động lực học phân tử. Thế năng tương tác \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V(r)\u003C\u002Fscript> như một hàm của khoảng cách \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">r\u003C\u002Fscript> giữa hai tâm hạt được biểu diễn dưới dạng:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">V(r) = 4\\varepsilon \\left[ \\left(\\frac{\\sigma}{r}\\right)^{12} - \\left(\\frac{\\sigma}{r}\\right)^6 \\right]\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Trong biểu thức này, các tham số vật lý mang ý nghĩa cụ thể:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\varepsilon\u003C\u002Fscript> biểu diễn độ sâu của hố thế thế năng, đại diện cho năng lượng liên kết cực tiểu giữa hai phân tử tại vị trí cân bằng.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\sigma\u003C\u002Fscript> là khoảng cách hữu hạn tại đó thế năng tương tác triệt tiêu, nghĩa là \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V(\\sigma) = 0\u003C\u002Fscript>.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Số hạng hấp dẫn \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">-\\left(\\frac{\\sigma}{r}\\right)^6\u003C\u002Fscript> mô tả lực hút phân tán tầm xa theo quy luật tỷ lệ nghịch với lũy thừa bậc sáu do London và cộng sự đề xuất.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>Số hạng đẩy \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">\\left(\\frac{\\sigma}{r}\\right)^{12}\u003C\u002Fscript> phản ánh lực cản tầm ngắn cực mạnh do nguyên lý loại trừ Pauli khi các đám mây electron của hai phân tử bắt đầu xâm lấn và xen phủ lẫn nhau.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Cp>Khoảng cách cân bằng bền vững \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">r_0\u003C\u002Fscript> mà tại đó lực tương tác triệt tiêu và năng lượng đạt giá trị cực tiểu \u003Cscript type=\"math\u002Ftex\">V(r_0) = -\\varepsilon\u003C\u002Fscript> được tính bằng công thức:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>\u003Cscript type=\"math\u002Ftex; mode=display\">r_0 = 2^{1\u002F6}\\sigma\u003C\u002Fscript>\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Bảng đối chiếu dưới đây tóm tắt các đặc trưng vật lý của các loại tương tác liên phân tử phổ biến:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ctable>\n  \u003Cthead>\n    \u003Ctr>\n      \u003Cth>Loại tương tác\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Bản chất vật lý\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Quy luật suy giảm thế năng\u003C\u002Fth>\n      \u003Cth>Mức năng lượng tương đối\u003C\u002Fth>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Fthead>\n  \u003Ctbody>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Tương tác ion - lưỡng cực\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tĩnh điện giữa điện tích điểm và lưỡng cực\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tỷ lệ nghịch khoảng cách lũy thừa hai\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Lớn nhất trong các tương tác phi liên kết\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Liên kết hydro\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tĩnh điện phối hợp chuyển dịch điện tích cộng hóa trị\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Khoảng cách phụ thuộc cấu trúc góc\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Rất cao trong các liên kết phi cộng hóa trị\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Lực Keesom (lưỡng cực - lưỡng cực)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tĩnh điện định hướng giữa hai cực vĩnh cửu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tỷ lệ nghịch khoảng cách lũy thừa sáu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Trung bình, phụ thuộc vào nhiệt độ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Lực Debye (cảm ứng)\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Lưỡng cực vĩnh cửu cảm ứng điện tích hạt phi cực\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tỷ lệ nghịch khoảng cách lũy thừa sáu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Yếu, không phụ thuộc nhiệt độ\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n    \u003Ctr>\n      \u003Ctd>Lực phân tán London\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Thăng giáng lưỡng cực tức thời do hiệu ứng lượng tử\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Tỷ lệ nghịch khoảng cách lũy thừa sáu\u003C\u002Ftd>\n      \u003Ctd>Rộng khắp, phụ thuộc thể tích electron\u003C\u002Ftd>\n    \u003C\u002Ftr>\n  \u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Ý nghĩa thực tiễn đối với tính chất hóa lý và khoa học sự sống\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Sự hiện diện của lực liên phân tử giải thích hàng loạt hiện tượng hóa lý vĩ mô quan trọng mà thuyết cấu tạo nguyên tử đơn thuần không thể lý giải được:\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cul>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Nhiệt độ chuyển pha và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C3%A1p%20su%E1%BA%A5t%20h%C6%A1i%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%22%7D}}:\u003C\u002Fstrong> Để {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ch%E1%BA%A5t%20l%E1%BB%8Fng%22%7D}} chuyển sang pha hơi, hệ cần được cung cấp nhiệt lượng đủ lớn để thắng được các lực liên kết giữ các phân tử lại với nhau. Sự khác biệt vượt trội về nhiệt độ sôi giữa các hợp chất có cùng khối lượng mol phản ánh trực tiếp loại lực liên phân tử chi phối. Ví dụ, phân tử nước có khối lượng mol nhỏ nhưng lại có nhiệt độ sôi cao bất thường nhờ mạng lưới liên kết hydro đa chiều bền chặt.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Độ tan và hiện tượng solvat hóa:\u003C\u002Fstrong> Nguyên tắc tương đồng hóa học chi phối khả năng hòa tan giữa chất tan và dung môi bắt nguồn từ sự cân bằng giữa năng lượng phá vỡ các lực liên phân tử ban đầu và năng lượng hình thành các tương tác liên phân tử mới trong dung dịch.\u003C\u002Fli>\n  \u003Cli>\u003Cstrong>Cấu trúc đại phân tử sinh học:\u003C\u002Fstrong> Mặc dù bộ khung xương của phân tử DNA và chuỗi polypeptit của {{topic|%7B%22topic%22%3A%22protein%22%7D}} được tạo dựng bởi liên kết cộng hóa trị vững chắc, hình thù không gian ba chiều hoàn chỉnh và hoạt tính sinh học của chúng hoàn toàn do các liên kết hydro và tương tác phân tán kỵ nước quyết định. Các cặp bazơ nitơ bổ sung trong chuỗi xoắn kép DNA được ghép nối chặt chẽ nhờ các liên kết hydro đặc hiệu, cho phép quá trình sao chép mã di truyền diễn ra với độ chính xác tuyệt đối.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Nghiên cứu và giảng dạy tại Việt Nam\u003C\u002Fh2>\n\n\u003Cp>Trong hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam, kiến thức về cấu trúc phân tử và lực liên phân tử là một nền tảng tiên quyết. Đào Đình Thức (năm 2007) trong giáo trình chuẩn mực \"Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học\" do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành đã phân tích chi tiết: \"Lực liên phân tử bao gồm lực hút tĩnh điện giữa các phân tử có cực và lực phân tán giữa các phân tử không phân cực có năng lượng nhỏ hơn nhiều so với liên kết cộng hóa trị\".\u003C\u002Fp>\n\n\u003Cp>Giáo trình của các trường đại học khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật và y dược tại Việt Nam đã tích hợp các phương pháp tính toán {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%C3%B3a%20h%E1%BB%8Dc%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%E1%BB%AD%22%7D}} hiện đại nhằm mô phỏng tương tác liên phân tử trong thiết kế thuốc, phát triển vật liệu xúc tác và xử lý môi trường. Hiểu rõ bản chất lực liên phân tử giúp các nhà khoa học dự đoán chính xác hoạt tính gắn kết của các phối tử dược chất với các thụ thể protein mục tiêu, thúc đẩy quá trình nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới.\u003C\u002Fp>\n","Intermolecular forces","Lực liên phân tử (intermolecular forces) là các tương tác hút hoặc đẩy diễn ra giữa các phân tử độc lập hoặc giữa các cụm nguyên tử không liên kết ion hay cộng hóa trị, đóng vai trò chi phối trạng thái tập hợp của vật chất và quyết định các tính chất hóa lý vĩ mô của hệ thống.","NATURAL_SCIENCES",[21,29,37,45,53,61],{"citationText":22,"title":23,"authors":24,"source":25,"year":26,"doi":27,"url":28},"Hermann, J., DiStasio, R. A., & Tkatchenko, A. (2017). First-Principles Models for van der Waals Interactions in Molecules and Materials: Concepts, Theory, and Applications. Chemical Reviews, 117(6), 4714–4758.","First-Principles Models for van der Waals Interactions in Molecules and Materials: Concepts, Theory, and Applications","Hermann, DiStasio, Tkatchenko","Chemical Reviews",2017,"10.1021\u002Facs.chemrev.6b00446","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1021\u002Facs.chemrev.6b00446",{"citationText":30,"title":31,"authors":32,"source":33,"year":34,"doi":35,"url":36},"London, F. (1937). The general theory of molecular forces. Transactions of the Faraday Society, 33, 8-26.","The general theory of molecular forces","London","Transactions of the Faraday Society",1937,"10.1039\u002Ftf937330008b","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1039\u002Ftf937330008b",{"citationText":38,"title":39,"authors":40,"source":41,"year":42,"doi":43,"url":44},"Pauling, L. (1931). The Nature of the Chemical Bond. Application of Results Obtained from the Quantum Mechanics and from a Theory of Paramagnetic Susceptibility to the Structure of Molecules. Journal of the American Chemical Society, 53(4), 1367–1400.","The Nature of the Chemical Bond. Application of Results Obtained from the Quantum Mechanics and from a Theory of Paramagnetic Susceptibility to the Structure of Molecules","Pauling","Journal of the American Chemical Society",1931,"10.1021\u002Fja01355a027","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1021\u002Fja01355a027",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":52},"Arunan, E., Desiraju, G. R., Klein, M. L., Sadlej, J., Scheiner, S., Alkorta, I., Clary, D. C., Crabtree, R. H., Dannenberg, J. J., Hobza, P., Kjaergaard, H. G., Legon, A. C., Mennucci, B., & Nesbitt, D. J. (2011). Definition of the hydrogen bond (IUPAC Recommendations 2011). Pure and Applied Chemistry, 83(8), 1637–1641.","Definition of the hydrogen bond (IUPAC Recommendations 2011)","Arunan, Desiraju, Klein, Sadlej, Scheiner, Alkorta, Clary, Crabtree, Dannenberg, Hobza, Kjaergaard, Legon, Mennucci, Nesbitt","Pure and Applied Chemistry",2011,"10.1351\u002Fpac-rec-10-01-02","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1351\u002Fpac-rec-10-01-02",{"citationText":54,"title":55,"authors":56,"source":57,"year":58,"doi":59,"url":60},"Jones, J. E. (1924). On the determination of molecular fields. —II. From the equation of state of a gas. Proceedings of the Royal Society of London. Series A, 106(738), 463–477.","On the determination of molecular fields. —II. From the equation of state of a gas","Jones","Proceedings of the Royal Society of London. Series A",1924,"10.1098\u002Frspa.1924.0082","https:\u002F\u002Fdoi.org\u002F10.1098\u002Frspa.1924.0082",{"citationText":62,"title":63,"authors":64,"source":65,"year":66,"doi":10,"url":67},"Đào Đình Thức (2007). Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học. NXB Giáo dục Việt Nam.","Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học","Đào Đình Thức","NXB Giáo dục Việt Nam",2007,"https:\u002F\u002Fwww.nxbgd.vn",[69,72,75],{"question":70,"answer":71},"Lực liên phân tử khác với liên kết cộng hóa trị và liên kết ion như thế nào?","Liên kết cộng hóa trị và liên kết ion là các liên kết hóa học nội phân tử hình thành do sự dùng chung hoặc chuyển giao hoàn toàn các electron hóa trị, với năng lượng liên kết lớn trực tiếp tạo ra phân tử và quyết định các tính chất hóa học. Ngược lại, lực liên phân tử diễn ra giữa các phân tử riêng biệt đã ổn định vỏ electron, có bản chất chủ yếu là tĩnh điện và thăng giáng lượng tử với mức năng lượng thấp hơn đáng kể, đóng vai trò chi phối các tính chất vật lý vĩ mô như nhiệt độ chuyển pha, áp suất hơi và cấu trúc đại thể.",{"question":73,"answer":74},"Tại sao khí hiếm và các phân tử phi cực đối xứng vẫn có thể ngưng tụ thành chất lỏng ở nhiệt độ thấp?","Dù khí hiếm và các phân tử phi cực không có mômen lưỡng cực vĩnh cửu, theo lý thuyết cơ học lượng tử của Fritz London (1937), chuyển động liên tục của các electron luôn tạo ra sự phân bố điện tích bất đối xứng tức thời. Các lưỡng cực nhất thời này cảm ứng làm biến dạng đám mây electron của các nguyên tử hoặc phân tử lân cận, sinh ra lực hút phân tán London. Khi nhiệt độ hạ đủ thấp, động năng chuyển động nhiệt giảm đi và bị lực phân tán này thắng thế, cho phép các hạt liên kết lại và chuyển sang trạng thái ngưng tụ lỏng hoặc rắn.",{"question":76,"answer":77},"Mô hình thế năng Lennard-Jones giải thích trạng thái cân bằng giữa hai phân tử như thế nào?","Mô hình Lennard-Jones miêu tả thế năng tương tác giữa hai hạt trung hòa qua sự cân bằng giữa hai thành phần đối nghịch: số hạng hút phân tán tỷ lệ nghịch với lũy thừa bậc 6 của khoảng cách chiếm ưu thế ở tầm xa, và số hạng đẩy tỷ lệ nghịch với lũy thừa bậc 12 xuất hiện khi các đám mây electron xen phủ nhau do nguyên lý loại trừ Pauli. Tại khoảng cách cân bằng r0 = 2^(1\u002F6) * sigma, lực hút và lực đẩy triệt tiêu lẫn nhau, thế năng tương tác đạt cực tiểu bằng -epsilon, thiết lập nên trạng thái liên kết bền vững nhất giữa hai phân tử.",{"id":79,"researcherId":10,"name":80,"imageUrl":81},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":79,"researcherId":10,"name":80,"imageUrl":81},[84,85,86,87,88,89,90],"cơ học lượng tử","electron","dung môi","áp suất hơi nước","chất lỏng","protein","hóa học lượng tử",7,false,"PUBLISHED","2025-12-01T11:20:52.564+00:00","2026-09-23T12:39:24.305+00:00","2026-09-23T12:39:24.276+00:00","2026-09-23T12:31:32.000+00:00",0,[100,103,106,109,119,122,125,128,131,134],{"id":101,"title":102,"term":101,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhiệt dung","Nhiệt dung là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nhiệt dung",{"id":104,"title":105,"term":104,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tán xạ","Tán xạ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tán xạ",{"id":107,"title":108,"term":107,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"docking phân tử","Docking phân tử là gì? Các công bố khoa học về Docking phân tử",{"id":110,"title":111,"term":110,"englishTitle":112,"definition":113,"discipline":114,"disciplineCode":115,"disciplineLabel":116,"disciplineColor":117,"disciplineIcon":118},"cao chiết","Cao chiết là gì? Phân loại, quy trình và tiêu chuẩn","botanical extract","Cao chiết là chế phẩm đậm đặc thu được bằng cách chiết xuất hoạt chất sinh học từ nguyên liệu tự nhiên bằng dung môi thích hợp, sau đó loại bỏ bã và bốc hơi một phần hoặc toàn bộ dung môi để đạt thể chất quy định.","MEDICAL_HEALTH_SCIENCES","medical-health-sciences","Khoa học y - dược","#D6336C","stethoscope",{"id":120,"title":121,"term":120,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"plasma","Plasma là gì? Các công bố khoa học về Plasma",{"id":123,"title":124,"term":123,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nguyên tử hydro","Nguyên tử hydro là gì? Các công bố khoa học về Nguyên tử hydro",{"id":126,"title":127,"term":126,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"khối lượng phân tử","Khối lượng phân tử là gì? Các công bố khoa học về Khối lượng phân tử",{"id":129,"title":130,"term":129,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"dịch chiết","Dịch chiết là gì? Các nghiên cứu khoa học về Dịch chiết",{"id":132,"title":133,"term":132,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ứng suất","Ứng suất là gì? Các nghiên cứu khoa học về Ứng suất",{"id":135,"title":136,"term":135,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"protein tái tổ hợp","Protein tái tổ hợp là gì? Các công bố khoa học về Protein tái tổ hợp"]