[{"data":1,"prerenderedAt":-1},["ShallowReactive",2],{"_public_topic_publications_l%E1%BB%97%20vi%20m%C3%B4{\"limit\":5}":3,"_public_topic_byId_lỗ vi mô":11},{"code":4,"data":5,"meta":10},"SUCCESS",{"latest":6,"mostCited":7,"vietnamFeatured":8,"vietnamLatest":9},[],[],[],[],null,{"code":4,"data":12,"meta":10},{"id":13,"title":14,"description":15,"content":16,"term":13,"englishTitle":17,"synonyms":18,"definition":23,"discipline":24,"references":25,"faqs":52,"createUser":65,"publishUser":69,"keywords":70,"keywordCount":81,"enrichTopicLink":82,"status":83,"createTime":84,"updateTime":85,"publishTime":86,"linkEnrichedTime":87,"publicationScanTime":10,"contentErrorMessage":10,"viewCount":88,"relateTopics":89},"lỗ vi mô","Lỗ vi mô là gì? Phân loại IUPAC và cơ chế hấp phụ khí","Lỗ vi mô là gì? Khám phá định nghĩa IUPAC, cơ chế lấp đầy vi mao quản, đường đẳng nhiệt loại I và mô hình giải tích NLDFT trong đặc trưng vật liệu xốp.","\u003Cp>Lỗ vi mô (micropore) là các mao quản hoặc khoang rỗng có kích thước bề rộng hoặc đường kính trong không vượt quá 2 nanomet, theo định chuẩn quốc tế của Liên minh Quốc tế về Hóa học Thuần túy và Ứng dụng (IUPAC). Trong khoa học vật liệu và hóa học bề mặt, lỗ vi mô đại diện cho không gian giam giữ ở quy mô phân tử, nơi kích thước hình học của mao quản tương đương với đường kính động học của các phân tử khí và chất lỏng. Sự thu hẹp không gian này làm nảy sinh các hiệu ứng thế trường hấp phụ đặc biệt, biến vật liệu chứa lỗ vi mô thành nền tảng quan trọng trong công nghệ tách khí, lưu trữ năng lượng và xúc tác chọn lọc hình dạng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Định chuẩn và lịch sử phân loại của IUPAC\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Trong các hệ thống vật liệu xốp, việc phân định ranh giới kích thước lỗ rỗng đóng vai trò quyết định đối với việc lựa chọn mô hình {{topic|%7B%22topic%22%3A%22nhi%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BB%99ng%20l%E1%BB%B1c%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} và kỹ thuật {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%22%7D}}. IUPAC đã chuẩn hóa {{topic|%7B%22topic%22%3A%22h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng%20ph%C3%A2n%20lo%E1%BA%A1i%22%7D}} này qua các văn kiện kỹ thuật mang tính bước ngoặt:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khuyến nghị IUPAC năm 1985:\u003C\u002Fstrong> Trong báo cáo kinh điển do Sing và cs. (1985) công bố trên tạp chí Pure and Applied Chemistry, IUPAC đã chuẩn hóa việc áp dụng hệ thống phân loại ranh giới kích thước mao quản (kế thừa từ tài liệu năm 1972 của Everett) vào thực hành báo cáo số liệu hấp phụ khí. Theo đó, mao quản được chia thành ba nhóm riêng biệt: lỗ vi mô có bề rộng không vượt quá 2 nanomet; lỗ trung bình (mesopore) có bề rộng nằm trong khoảng từ 2 đến 50 nanomet; và lỗ thô (macropore) có bề rộng vượt quá 50 nanomet. Sing và cs. (1985) nhấn mạnh rằng các ranh giới này phản ánh sự chuyển đổi căn bản trong cơ chế tương tác hấp phụ giữa phân tử chất bị hấp phụ và bề mặt thành lỗ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Báo cáo kỹ thuật IUPAC năm 2015:\u003C\u002Fstrong> Sau ba thập kỷ phát triển của các công nghệ chế tạo vật liệu nano tiên tiến, Thommes và cs. (2015) đã cập nhật và tinh chỉnh hệ thống phân loại trong báo cáo kỹ thuật công bố trên Pure and Applied Chemistry. Điểm cải tiến quan trọng nhất là việc phân chia miền lỗ vi mô thành hai phân nhóm hình học có hành vi nhiệt động lực học khác biệt:\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vi lỗ siêu nhỏ (Ultramicropore):\u003C\u002Fstrong> Các mao quản có bề rộng dưới 0.7 nanomet, nơi kích thước mao quản tiệm cận kích thước của từng phân tử khí đơn lẻ.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vi lỗ kích thước lớn (Supermicropore):\u003C\u002Fstrong> Các mao quản có bề rộng nằm trong khoảng từ 0.7 nanomet đến 2 nanomet.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bản chất nhiệt động lực học và cơ chế lấp đầy vi mao quản\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Hành vi của các phân tử chất lưu bên trong lỗ vi mô khác biệt hoàn toàn so với quá trình hấp phụ trên các bề mặt phẳng hoặc trong các lỗ mao quản kích thước lớn.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Chồng lấn thế trường hấp phụ\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Khi các phân tử khí tiếp cận một bề mặt phẳng hoặc thành của một lỗ thô, chúng tương tác với bề mặt chủ yếu thông qua lực van der Waals đơn phương. Tuy nhiên, bên trong một lỗ vi mô có kích thước dưới 2 nanomet, khoảng cách giữa các thành đối diện trở nên đủ nhỏ để các trường thế năng hấp phụ do các nguyên tử của hai thành đối diện tạo ra bắt đầu giao thoa và chồng lấn lẫn nhau. Hiệu ứng chồng lấn thế trường này làm gia tăng đáng kể độ sâu của giếng thế hấp phụ so với bề mặt hở.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Do đó, {{topic|%7B%22topic%22%3A%22n%C4%83ng%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20t%C6%B0%C6%A1ng%20t%C3%A1c%22%7D}} giữa phân tử chất bị hấp phụ và khung vật liệu được khuếch đại mạnh mẽ. Các phân tử khí bị hút vào lòng mao quản với một lực hút vượt trội, tạo điều kiện cho quá trình tích tụ phân tử diễn ra ở các mức áp suất tương đối cực kỳ thấp, thấp hơn nhiều so với áp suất cần thiết để hình thành một đơn lớp hấp phụ trên bề mặt không có lỗ rỗng.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Cơ chế lấp đầy thể tích vi mao quản\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Trong các lỗ trung bình, quá trình hấp phụ diễn ra tuần tự từ sự hình thành lớp đơn phân tử, tiếp nối bằng sự tích tụ đa lớp trên thành mao quản, và kết thúc bằng hiện tượng ngưng tụ mao quản (capillary condensation) tạo ra mặt khum chất lỏng. Ngược lại, trong lỗ vi mô, như Rouquerol và cs. (1994) đã khẳng định trong tài liệu khuyến nghị về đặc trưng chất rắn xốp, khái niệm hấp phụ theo từng lớp phân tử hoàn toàn mất đi ý nghĩa vật lý.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Thay vào đó, quá trình hấp phụ trong lỗ vi mô được chi phối bởi cơ chế lấp đầy thể tích vi mao quản (micropore filling). Dưới tác động của thế trường liên tục tăng cường, toàn bộ thể tích rỗng bên trong mao quản được lấp đầy đồng thời bởi một pha chất lỏng giả đặc, không trải qua sự phân tách pha rõ rệt hay sự hình thành mặt khum phân cách như trong quá trình ngưng tụ mao quản thông thường.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Đặc trưng đường đẳng nhiệt hấp phụ loại I\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Dấu hiệu thực nghiệm rõ ràng nhất của vật liệu chứa lỗ vi mô trong phép đo hấp phụ vật lý chất khí là sự xuất hiện của đường {{topic|%7B%22topic%22%3A%22%C4%91%E1%BA%B3ng%20nhi%E1%BB%87t%20h%E1%BA%A5p%20ph%E1%BB%A5%22%7D}} loại I (Type I isotherm). Theo báo cáo cập nhật của Thommes và cs. (2015), đường đẳng nhiệt loại I được đặc trưng bởi độ dốc hấp phụ tăng vọt ở vùng áp suất tương đối ban đầu, sau đó uốn cong nhanh chóng để đạt đến một vùng cao nguyên nằm ngang tiệm cận trạng thái bão hòa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Dựa trên sự tinh chỉnh năm 2015 của IUPAC, đường đẳng nhiệt loại I được phân chia thành hai dạng biến thể thực nghiệm dựa trên bề rộng {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C3%A2n%20b%E1%BB%91%20k%C3%ADch%20th%C6%B0%E1%BB%9Bc%22%7D}} vi lỗ:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đường đẳng nhiệt Loại I(a):\u003C\u002Fstrong> Xuất hiện ở các vật liệu chứa chủ yếu các vi lỗ hẹp có bề rộng dưới khoảng 1 nanomet. Nhánh hấp phụ tăng gần như thẳng đứng ở các mức áp suất tương đối rất thấp và nhanh chóng đạt đến trạng thái bão hòa hoàn toàn do sự lấp đầy nhanh chóng của các mao quản vi mô hẹp (bao gồm miền vi lỗ siêu nhỏ và một phần vi lỗ lớn cận 1 nanomet).\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Đường đẳng nhiệt Loại I(b):\u003C\u002Fstrong> Xuất hiện ở các vật liệu có phân bố kích thước lỗ rộng hơn, bao gồm các vi lỗ rộng hơn và có thể mở rộng nhẹ sang vùng lỗ trung bình hẹp với bề rộng lên tới dưới 2.5 nanomet. Quá trình lấp đầy mao quản diễn ra liên tục qua một khoảng áp suất tương đối rộng hơn trước khi nhánh hấp phụ đạt đến độ bằng phẳng hoàn toàn.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Bảng phân loại mao quản và cơ chế hấp phụ theo IUPAC\u003C\u002Fh2>\n\u003Ctable>\n\u003Cthead>\n\u003Ctr>\n\u003Cth>Phân loại mao quản\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Kích thước bề rộng\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Cơ chế hấp phụ chi phối\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Dạng đẳng nhiệt tiêu biểu\u003C\u002Fth>\n\u003Cth>Ví dụ vật liệu tiêu biểu\u003C\u002Fth>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Fthead>\n\u003Ctbody>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vi lỗ siêu nhỏ\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Dưới 0.7 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lấp đầy thể tích do thế trường chồng lấn cực mạnh\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thường cho đường đẳng nhiệt Loại I(a)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Zeolit cấu trúc kênh nhỏ, than rây phân tử\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Vi lỗ lớn\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 0.7 nanomet đến 2 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Lấp đầy vi mao quản liên tục trong giếng thế sâu\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Thường cho đường đẳng nhiệt Loại I(a) hoặc I(b)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Khung hữu cơ - kim loại (MOF), than hoạt tính\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Lỗ trung bình\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Từ 2 nanomet đến 50 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hấp phụ đa lớp kết hợp ngưng tụ mao quản; có vòng trễ đối với Loại IV(a) trong mao quản lớn hơn và hoàn toàn thuận nghịch không có vòng trễ đối với Loại IV(b) trong mao quản hẹp\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đường đẳng nhiệt Loại IV(a) và IV(b)\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Silica mao quản trung bình (MCM, SBA), alumina\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003Ctr>\n\u003Ctd>Lỗ thô\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Vượt quá 50 nanomet\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Hấp phụ đa lớp tương tự bề mặt phẳng tự do\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Đường đẳng nhiệt Loại II và Loại III\u003C\u002Ftd>\n\u003Ctd>Gốm xốp, bọt kim loại, vật liệu kết tụ thô\u003C\u002Ftd>\n\u003C\u002Ftr>\n\u003C\u002Ftbody>\n\u003C\u002Ftable>\n\n\u003Ch2>Kỹ thuật thực nghiệm và mô hình giải tích cấu trúc\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Việc xác định chính xác thể tích và đường phân bố kích thước của lỗ vi mô đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa quy trình đo đạc thực nghiệm nghiêm ngặt và các mô hình toán học phù hợp.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Giới hạn của các mô hình nhiệt động lực học cổ điển\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Các {{topic|%7B%22topic%22%3A%22ph%C6%B0%C6%A1ng%20ph%C3%A1p%20t%C3%ADnh%20to%C3%A1n%22%7D}} truyền thống như mô hình Barrett-Joyner-Halenda (BJH) dựa trên phương trình Kelvin mô tả trạng thái cân bằng giữa áp suất hơi bão hòa và độ cong của mặt khum chất lỏng. Tuy nhiên, trong miền kích thước lỗ vi mô dưới 2 nanomet, giả định xem chất lưu bị hấp phụ như một chất lỏng khối đẳng hướng hoàn toàn sụp đổ. Ở thang kích thước này, các phân tử chất lưu bị giam giữ chặt chẽ và tương tác trực tiếp với từng nguyên tử của mạng tinh thể rắn, khiến các khái niệm cơ học chất lưu vĩ mô như sức căng bề mặt chất lỏng và góc tiếp xúc không còn giá trị ứng dụng. Việc áp dụng mô hình BJH cho lỗ vi mô sẽ dẫn đến sai số nghiêm trọng, thường đánh giá thấp đáng kể kích thước lỗ thực tế.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch3>Lựa chọn chất khí thăm dò hấp phụ\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Schlumberger và Thommes (2021) trong bài tổng quan trên tạp chí Advanced Materials Interfaces đã phân tích chi tiết ưu nhược điểm của các chất khí thăm dò khác nhau trong phép đo hấp phụ vật lý:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Nitơ ở 77 K:\u003C\u002Fstrong> Là chất khí tiêu chuẩn phổ biến nhất trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, phân tử nitơ sở hữu mômen tứ cực (quadrupole moment), dẫn đến các tương tác định hướng phụ không mong muốn với các nhóm chức phân cực trên bề mặt vật liệu. Ngoài ra, ở nhiệt độ sôi 77 K, tốc độ khuếch tán của phân tử nitơ vào các vi lỗ siêu nhỏ dưới 0.7 nanomet diễn ra cực kỳ chậm chạp, đòi hỏi thời gian cân bằng rất dài và dễ dẫn đến số liệu đo không chính xác.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Argon ở 87 K:\u003C\u002Fstrong> Argon là một khí trơ đơn nguyên tử hình cầu, hoàn toàn không có mômen tứ cực và có {{topic|%7B%22topic%22%3A%22t%C6%B0%C6%A1ng%20t%C3%A1c%20h%C3%B3a%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} không đáng kể với các tâm hoạt tính trên bề mặt. Do đó, phép đo hấp phụ argon ở nhiệt độ 87 K phản ánh chính xác {{topic|%7B%22topic%22%3A%22c%E1%BA%A5u%20tr%C3%BAc%20h%C3%ACnh%20h%E1%BB%8Dc%22%7D}} thực tế của mạng lưới lỗ rỗng, được IUPAC khuyến nghị là phương pháp tiêu chuẩn để đặc trưng lỗ vi mô.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Carbon dioxide ở 273 K:\u003C\u002Fstrong> Do phép đo được thực hiện ở nhiệt độ 273 K (điểm đóng băng của nước), động năng của các phân tử carbon dioxide cao hơn rất nhiều so với nitơ ở 77 K. Tốc độ khuếch tán tăng vọt cho phép các phân tử carbon dioxide nhanh chóng thâm nhập và lấp đầy các vi lỗ siêu nhỏ có kích thước dưới 0.7 nanomet mà phân tử nitơ không thể tiếp cận trong thời gian đo thực tế. Do đó, hấp phụ carbon dioxide ở 273 K là công cụ không thể thay thế để khảo sát miền vi lỗ siêu nhỏ trong than hoạt tính và vật liệu carbon tiên tiến.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch3>Mô hình lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT)\u003C\u002Fh3>\n\u003Cp>Để khắc phục các khiếm khuyết của mô hình nhiệt động lực học cổ điển, lý thuyết phiếm hàm mật độ phi cục bộ (Non-Local Density Functional Theory: NLDFT) và lý thuyết phiếm hàm mật độ cho chất rắn tôi (Quenched Solid Density Functional Theory: QSDFT) đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong phân tích phân bố kích thước lỗ vi mô. Như Schlumberger và Thommes (2021) đã chỉ rõ, các mô hình DFT giải bài toán phân bố mật độ phân tử ở cấp độ vi mô bằng cách tính toán chính xác thế tương tác giữa chất lưu với chất lưu và chất lưu với thành mao quản, cho phép tái hiện chân thực đường cong đẳng nhiệt thực nghiệm và xác định chính xác phổ kích thước lỗ từ cấp độ dưới nanomet.\u003C\u002Fp>\n\n\u003Ch2>Các nhóm vật liệu chứa lỗ vi mô tiêu biểu và ứng dụng công nghệ\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Nhờ cấu trúc vi mô độc đáo và {{topic|%7B%22topic%22%3A%22di%E1%BB%87n%20t%C3%ADch%20b%E1%BB%81%20m%E1%BA%B7t%20ri%C3%AAng%22%7D}} khổng lồ, các vật liệu giàu lỗ vi mô đóng vai trò then chốt trong nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Zeolit tinh thể:\u003C\u002Fstrong> Là các khoáng vật aluminosilicate có khung mạng tinh thể ba chiều xác định với các kênh lỗ vi mô hoàn toàn đồng nhất về hình học và kích thước phân tử. Zeolit được ứng dụng rộng rãi làm chất xúc tác chọn lọc hình dạng trong ngành lọc hóa dầu, nơi chỉ các phân tử có kích thước và cấu hình hình học phù hợp mới có thể đi vào lòng mao quản để phản ứng.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Khung hữu cơ - kim loại:\u003C\u002Fstrong> Là mạng lưới tinh thể xốp được tạo thành từ các ion hoặc cụm ion kim loại liên kết với các cầu nối hữu cơ. Điểm ưu việt của dòng vật liệu này là khả năng tinh chỉnh kích thước và hóa học bề mặt của lỗ vi mô theo yêu cầu thiết kế, phục vụ cho quá trình thu giữ carbon dioxide, tách chọn lọc khí công nghiệp và lưu trữ khí nhiên liệu.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Vật liệu carbon xốp và than hoạt tính:\u003C\u002Fstrong> Nhóm vật liệu này sở hữu mạng lưới lỗ vi mô phong phú và đa dạng về hình thái, đóng vai trò then chốt trong công nghệ xử lý nước, tinh chế không khí và làm điện cực xốp cho siêu tụ điện tích trữ năng lượng.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n\n\u003Ch2>Thách thức kỹ thuật và định hướng nghiên cứu\u003C\u002Fh2>\n\u003Cp>Mặc dù sở hữu tiềm năng ứng dụng to lớn, việc khai thác vật liệu chứa lỗ vi mô vẫn đối mặt với các rào cản kỹ thuật quan trọng:\u003C\u002Fp>\n\u003Cul>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Trở lực khuếch tán khối:\u003C\u002Fstrong> Do kích thước lỗ vi mô tiệm cận kích thước phân tử, tốc độ vận chuyển khối qua mạng mao quản thường rất chậm, tạo ra điểm nghẽn cho các phản ứng xúc tác tốc độ cao. Để khắc phục, các nhà khoa học đang tập trung phát triển các vật liệu có cấu trúc phân cấp (hierarchical materials), tích hợp mạng lưới lỗ trung bình và lỗ thô để dẫn dòng đến các trung tâm phản ứng chứa lỗ vi mô.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Hiện tượng bão hòa và nghẽn mao quản:\u003C\u002Fstrong> Các phân tử tạp chất lớn hoặc sản phẩm phụ ngưng tụ có thể phong tỏa miệng lỗ vi mô, làm suy giảm nhanh chóng dung lượng hấp phụ và hoạt tính xúc tác.\u003C\u002Fli>\n\u003Cli>\u003Cstrong>Độ bền cơ học và thủy nhiệt:\u003C\u002Fstrong> Duy trì tính toàn vẹn của khung mạng lỗ vi mô dưới tác động của hơi nước nhiệt độ cao và áp suất cơ học trong các chu kỳ vận hành công nghiệp liên tục là một trong những thách thức hàng đầu đang được giải quyết trong khoa học vật liệu hiện đại.\u003C\u002Fli>\n\u003C\u002Ful>\n","micropore",[19,20,21,22],"vi mao quản","vi lỗ","micropores","microporous","Lỗ vi mô (micropore) là các mao quản hoặc khoang rỗng có kích thước bề rộng hoặc đường kính trong không vượt quá 2 nanomet, theo định chuẩn quốc tế của Liên minh Quốc tế về Hóa học Thuần túy và Ứng dụng (IUPAC).","NATURAL_SCIENCES",[26,33,39,45],{"citationText":27,"title":28,"authors":29,"source":30,"year":31,"doi":32,"url":10},"Thommes, M., Kaneko, K., Neimark, A. V., Olivier, J. P., Rodriguez-Reinoso, F., Rouquerol, J., & Sing, K. S. W. (2015). Physisorption of gases, with special reference to the evaluation of surface area and pore size distribution (IUPAC Technical Report). Pure and Applied Chemistry, 87(9-10), 1051-1069.","Physisorption of gases, with special reference to the evaluation of surface area and pore size distribution (IUPAC Technical Report)","Matthias Thommes, Katsumi Kaneko, Alexander V. Neimark, James P. Olivier, Francisco Rodriguez-Reinoso, Jean Rouquerol, Kenneth S.W. Sing","Pure and Applied Chemistry",2015,"10.1515\u002Fpac-2014-1117",{"citationText":34,"title":35,"authors":36,"source":30,"year":37,"doi":38,"url":10},"Sing, K. S. W., Everett, D. H., Haul, R. A. W., Moscou, L., Pierotti, R. A., Rouquerol, J., & Siemieniewska, T. (1985). Reporting physisorption data for gas\u002Fsolid systems with special reference to the determination of surface area and porosity (Recommendations 1984). Pure and Applied Chemistry, 57(4), 603-619.","Reporting physisorption data for gas\u002Fsolid systems with special reference to the determination of surface area and porosity (Recommendations 1984)","K. S. W. Sing, D. H. Everett, R. A. W. Haul, L. Moscou, R. A. Pierotti, J. Rouquerol, T. Siemieniewska",1985,"10.1351\u002Fpac198557040603",{"citationText":40,"title":41,"authors":42,"source":30,"year":43,"doi":44,"url":10},"Rouquerol, J., Avnir, D., Fairbridge, C. W., Everett, D. H., Haynes, J. M., Pernicone, N., Ramsay, J. D. F., Sing, K. S. W., & Unger, K. K. (1994). Recommendations for the characterization of porous solids (Technical Report). Pure and Applied Chemistry, 66(8), 1739-1758.","Recommendations for the characterization of porous solids (Technical Report)","J. Rouquerol, D. Avnir, C. W. Fairbridge, D. H. Everett, J. M. Haynes, N. Pernicone, J. D. F. Ramsay, K. S. W. Sing, K. K. Unger",1994,"10.1351\u002Fpac199466081739",{"citationText":46,"title":47,"authors":48,"source":49,"year":50,"doi":51,"url":10},"Schlumberger, C., & Thommes, M. (2021). Characterization of Hierarchically Ordered Porous Materials by Physisorption and Mercury Porosimetry—A Tutorial Review. Advanced Materials Interfaces, 8(4), 2002181.","Characterization of Hierarchically Ordered Porous Materials by Physisorption and Mercury Porosimetry—A Tutorial Review","Carola Schlumberger, Matthias Thommes","Advanced Materials Interfaces",2021,"10.1002\u002Fadmi.202002181",[53,56,59,62],{"question":54,"answer":55},"Lỗ vi mô được IUPAC định nghĩa và phân loại kích thước như thế nào?","Theo khuyến nghị của IUPAC (Sing và cs., 1985; Thommes và cs., 2015), lỗ vi mô là mao quản có bề rộng không vượt quá 2 nanomet. Miền này được chia nhỏ thành vi lỗ siêu nhỏ (ultramicropore) dưới 0.7 nanomet và vi lỗ lớn (supermicropore) từ 0.7 đến 2 nanomet, phân biệt với lỗ trung bình (2 đến 50 nanomet) và lỗ thô (trên 50 nanomet).",{"question":57,"answer":58},"Tại sao cơ chế hấp phụ trong lỗ vi mô khác biệt với bề mặt phẳng?","Bên trong lỗ vi mô dưới 2 nanomet, thế trường hấp phụ từ các thành mao quản đối diện giao thoa và chồng lấn lẫn nhau, khuếch đại mạnh mẽ năng lượng tương tác giữa chất bị hấp phụ và khung vật liệu. Do đó, quá trình hấp phụ diễn ra theo cơ chế lấp đầy thể tích vi mao quản thay vì hấp phụ đa lớp tuần tự.",{"question":60,"answer":61},"Đường đẳng nhiệt hấp phụ Loại I(a) và Loại I(b) khác nhau ở điểm nào?","Theo báo cáo kỹ thuật IUPAC 2015 của Thommes và cs., đường đẳng nhiệt Loại I(a) xuất hiện ở vật liệu chứa chủ yếu vi lỗ hẹp dưới khoảng 1 nanomet với độ dốc hấp phụ tăng vọt ở áp suất cực thấp; trong khi Loại I(b) phản ánh dải kích thước vi lỗ rộng hơn và có thể mở rộng sang vùng lỗ trung bình hẹp (dưới 2.5 nanomet).",{"question":63,"answer":64},"Tại sao mô hình BJH truyền thống không áp dụng được cho lỗ vi mô?","Mô hình BJH dựa trên phương trình Kelvin giả định chất lưu bị hấp phụ tuân theo cơ học chất lỏng khối liên tục. Ở thang kích thước nanomet của lỗ vi mô, giả định này sụp đổ hoàn toàn do hiệu ứng giam giữ phân tử; do đó phân tích cấu trúc bắt buộc phải dùng mô hình vi mô như NLDFT hoặc QSDFT.",{"id":66,"researcherId":10,"name":67,"imageUrl":68},1,"Nguyễn Ngọc Sơn","https:\u002F\u002Flh3.googleusercontent.com\u002Fa\u002FACg8ocLGfGsF1nYQqYK5BasTLhNu1dBrBXg2fcEgBNPXJ0p2gqLQnO7i=s96-c",{"id":66,"researcherId":10,"name":67,"imageUrl":68},[71,72,73,74,75,76,77,78,79,80],"nhiệt động lực học","phân tích cấu trúc","hệ thống phân loại","năng lượng tương tác","đẳng nhiệt hấp phụ","phân bố kích thước","phương pháp tính toán","tương tác hóa học","cấu trúc hình học","diện tích bề mặt riêng",10,true,"PUBLISHED","2025-12-01T09:43:11.796+00:00","2026-09-11T12:12:33.009+00:00","2026-09-11T12:02:38.291+00:00","2026-09-11T12:12:32.580+00:00",0,[90,93,96,99,102,105,108,111,114,117],{"id":91,"title":92,"term":91,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nhiệt dung","Nhiệt dung là gì? Các nghiên cứu khoa học về Nhiệt dung",{"id":94,"title":95,"term":94,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"tán xạ","Tán xạ là gì? Các nghiên cứu khoa học về Tán xạ",{"id":97,"title":98,"term":97,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nghiên cứu liên ngành","Nghiên cứu liên ngành là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":100,"title":101,"term":100,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"proverbs","Proverbs là gì? Các công bố nghiên cứu khoa học về Proverbs",{"id":103,"title":104,"term":103,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"hiệu suất nhiệt","Hiệu suất nhiệt là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan",{"id":106,"title":107,"term":106,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"nano silica","Nano silica là gì? Các công bố khoa học về Nano silica",{"id":109,"title":110,"term":109,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"acute toxicity","Acute toxicity là gì? Các nghiên cứu khoa học về Acute toxicity",{"id":112,"title":113,"term":112,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"mô phỏng động lực học phân tử","Mô phỏng động lực học phân tử là gì? Các nghiên cứu khoa học",{"id":115,"title":116,"term":115,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ion phân tử hydro","Ion phân tử hydro là gì? Các công bố khoa học về Ion phân tử hydro",{"id":118,"title":119,"term":118,"englishTitle":10,"definition":10,"discipline":10,"disciplineCode":10,"disciplineLabel":10,"disciplineColor":10,"disciplineIcon":10},"ma trận jacobian","Ma trận jacobian là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan"]